12
Giá trị sử dụng là những công dụng khác nhau của vật
phẩm do thuộc tính tự nhiên của nó mang lại.
Giá trị tự sử dụng của vật phẩm đợc thể hiện ra khi ta
mang tiêu dùng chúng. Khoa học kỹ thuật và công nghệ
ngày càng phát triển dần dần ngời ta tìm thấy thêm đợc
nhiều thuộc tính có ích. Giá trị sử dụng của hàng hoá rất
phong phú, vừa thoả mãn nhu cầu về vật chất, của thoả mãn
nhu cầu về mặt tinh thần. Nó là một phạm trù vĩnh viễn
nhng trong nền kinh tế hàng hoá giá trị sử dụng đồng thời
là vật mang tính giá trị trao đổi.
Giá trị hàng hoá là một phạm trù rất trừu tợng vì nó là
thuộc tính xã hội của hàng hoá và muốn hiểu đợc giá trị
hàng hoá ta phải xuất phát từ việc nghiên giá trị trao đổi.
Giá trị trao đổi là quan hệ tỷ lệ về lợng mà một giá trị
tự sử dụng này trao đổi với một giá trị tự sử dụng khác.
Ví dụ nh 1 Rìu= 20 kg thóc
13
Hai hàng hoá có còng dụng khác nhau mà đợc đem ra
trao đổi với nhau là do chúng có một thuộc tính chung duy
nhất, chúng đều là sản phẩm của lao động của con ngời.
Việc trao đổi hàng hoá chính là việc trao đổi lao động
của ngời sản xuất hàng hoá đợc kết tinh trong hàng hoá.
Thông qua trao đổi chúng ta phát hiện ra thuộc tính thứ
hai của hàng hoá, đó là giá trị.
Vậy thực thể của giá trị hàng hoá là lao động của ngời
sản xuất kết tinh trong hàng hoá.
* Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá.
Lao động cụ thể: là lao động đợc tiến hành dới một
hình thức nhất định, có mục đích, phơng pháp hoạt động,
đối tợng và kết quả riêng biệt.
Mỗi loại lao động cụ thể tạo ra một giá trị sử dụng nhất
định có bao nhiêu loại sản phẩm hàng hoá thì có bấy nhiêu
loại lao động cụ thể khác nhau. Các loại lao động đó hợp
14
thành hệ thống phân công lao động ở từng quốc gia. Xã hội
càng phát triển thì phân công lao động càng cao, lao động cụ
thể là phạm trù vĩnh viễn nó tạo ra giá trị sử dụng cho hàng
hoá.
Lao động trừu tợng: Đó là sự hao phí lao động nói
chung của ngời sản xuất hàng hoá (hao phí sức thần kinh và
sức cơ bắp).
Khi có những lao động nào sản xuất ra hàng hoá thì mới
quy thành lao động trừu tợng. Không phải có hai thứ lao
động cùng kết tinh trong hàng hoá mà là lao động sản xuất
hàng hoá mang tính hai mặt.
* Thời gian lao động xã hội cần thiết.
Thời gian lao động xã cần thiết là thời gian cần thiết để
sản xuất ra hàng hoá trong những điều kiện sản xuất trung
bình xã hội với một trình độ thành thạo trung bình, cờng độ
lao động trung bình của ngời sản xuất.
Thông thờng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản
xuất ra một hàng hoá có xu hớng nghiêng về thời gian lao
15
động cá biệt của những ngời sản xuất mà họ cung cấp phân
bón một loại hàng hoá nào đó trên thị trờng.
Hai nhân tố ảnh hởng đến thời gian lao động cần thiết
là năng suất lao động và cơng độ lao động.
Năng suất lao động là năng lực sản xuất của ngời lao
động hay sức sản xuất của lao động. Luồng giá trị của hàng
hoá thay đổi tỷ lệ nghịch với năng suất lao động xã hội.
Cờng độ lao động: Là mức độ tiêu hao về lao động
trong một đơn vị thời gian. Nó cho biết mức độ khẩn trơng
của lao động.
* Lao động giản đơn và lao động phức tạp.
Lao động giản đơn là sự tiêu hao sứclực giản đơn mà bất
kỳ một ngời bình thờng nào, không cần biết đến tài nghệ
đặc biệt đều có thể tiến hành đợc để làm ra hàng hoá.
16
Lao động phức tạp là loại lao động phải đòi hỏi đào tạo
tỷ mỉ, công phu và có sự khéo léo, tài nghệ, phải có sự tích
luỹ lao động. Trong cùng một đơn vị thời gian, lao động
phức tạp sáng tạo ra nhiều giá trị hơn lao động giản đơn. Vì
vậy ta cần lao động phức tạp là bội số của lao động giản đơn.
Lợng giá trị của hàng hoá đợc đo bằng thời gian lao
động xã hội cần thiết.
1.3. Kinh tế hàng hoá.
Kinh tế hàng hoá là kiểu tổ chức kinh tế xã hội mà trong
đó hình thái phổ biến của sản xuất hàng hoá là sản xuất ra
sản phẩm để bán để trao đổi trên thị trờng.
Kinh tế hàng hoá đối lập với kinh tế tự nhiên và kinh tế
chỉ huy. Khi sản xuất hàng hoá, lợng sản phẩm hàng hoá
lu thông trên thị trờng ngày càng dồi dào, phong phú, thị
trờng đợc mở rộng, khái niệm thị trờng đợc hiểu ngày
đầy đủ hơn. Đó là lĩnh vực trao đổi hàng hoá thông qua tiền
tệ làm môi giới. ở đây ngời mua và ngời bán tác động qua
lại lẫn nhau để xác định giá cả và số lợng hàng hoá lu
thông trên thị trờng.
17
Để phát triển kinh tế hàng hoá ở nớc ta, cần đẩy mạnh
và chú trọng phát triển các loại thị trờng. Quá trình chuyển
đổi ở nớc ta cần phải từng bớc hình thành thị trờng thống
nhất và thông suốt cả nớc. Từng bớc hình thành và mở
rộng đồng bộ thị trờng hàng tiêu dùng, t liệu sanả xuất,
dịch vụ, thị trờng vốn là tiền tệ Cần phải mở rộng giao lu
hàng hoá, phát triển thị trờng trong nớc, chú trọng nông
thôn, miền núi, xoá bỏ triệt để mọi hình thức chia cắt thị
trờng theo địa giới hành chính. Đồng thời gắn thị trờng
trong nớc với thị trờng quốc tế, giải quyết mối quan hệ
giữa tiêu dùng trong nớc và xuất khẩu; có chính sách
khuyến khích sanả xuất nội địa để phát triển mạnh mẽ thị
trờng nớc ta, hội nhập với thị trờng khu vực và thế giới.
ở nớc ta, kinh tế hàng hoá mà Đảng chủ trơng xây
dựng và phát triển trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hớng
xã hội chủ nghĩa, vận động theo cơ chế thị trờng có sự quản
lý của Nhà nớc.
2. Những u điểm của kinh tế hàng hoá.
18
So với kinh tế tự nhiên, một loại hình kinh tế còn in đậm
dấu vết ở nớc ta, kinh tế hàng hoá có những u thế s au.
Một là, thúc đẩy quá trình xã hội hoá sản xuất nhanh
chóng, làm cho sự phân công lao động, chuyên môn hoá sản
xuất càng sâu sắc, hình thành các mối liên hệ kinh tế và sự
phụ thuộc lẫn nhau giữa các doanh nghiệp và ngời sản xuất,
tạo tiền đề cho sự hợp tác lao động ngày càng chặt chẽ.
Hai là, thúc đẩy sự phát triển của lực lợng sản xuất,
buộc ngời sản xuất phải năng động, luôn cải tiến kỹ thuật,
tiết kiệm, nâng cao nâng suất lao động, cải tiến chất lợng và
hình thức mẫu mã cho phù hợp với nhu cầu xã hội Kết quả
là thúc đẩy lực lợng sản xuất phát triển, gắn sản xuất với thị
trờng.
Ba là, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập chung sản xuất.
Mở rộng giao lu kinh tế trong nớc và hội nhập thế giới. Có
tác dụng lớn trong việc tuyển chọn các doanh nghiệp và cac
cá nhân quản lý kinh doanh giỏi.
Bốn là, giải phóng các mối quan hệ kinh tế ra khỏi sự
trói buộc của nền sản xuất khép kín đã từng kìm hãm sự phát
19
triển của lực lợng sản xuất, tạo những điều kiện cần thiết
cho việc tổ chức và quản lý một nền kinh tế phát triển ở trình
độ cao thực hiện dới hình thức quan hệ hàng hoá tiền tệ.
Cơ chế thị trờng tự điều tiết kinh tế rất linh hoạt, mềm
dẻo, uyển chuyển. Tạo môi trờng kinh doanh và gia tăng
động lực phát triển kinh tế xã hội mà thành tựu đạt đợc là
đa nớc ta ra khỏi thời kỳ khủng khoảng và suy thoái kéo
dài.
Tuy nhiên, kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trờng cũng có
những khuyết tật của nó. trên thị trờng cha đựng tính tự
phát, chứa đựng nhiều yếu tố bất ổn, mất cân đối. Vì chạy
theo lợi nhuận, các nhà sản xuất kinh doanh có thể gây nhiều
hậu quả sấu, môi trờng bị huỷ hoại, tình trạng cạnh tranh
không lành mạnh, phá sản, thất nghiệp, phân hoá xã cao, lợi
ích công cộng bị coi nhẹ, các vấn đề công bằng xã hội không
đợc bảo đảm, tệ nạn xã hội tăng v.v Vì vậy, để phát huy
u thế, khắc phục những khuyết tật của nó, cần phải tăng
cờng sự quản lý của Nhà nớc.
3. Sự tồn tại khách quan của kinh tế hàng hoá trong
thời kỳ quá độ
20
Kinh tế hàng hoá ra đời và tồn tại trong nhiều hình thái
kinh tế xã hội, gắn với hai điều kiện tiền đề:
Sự phân công lao động xã hội và các hình thức sở hữu
khác nhau về t liệu sản xuất và sản phẩm lao động. ở nớc
ta hiện nay, những điều kiện chug của kinh tế hàng hoá vẫn
còn nên sự tồn tại của kinh tế hàng hoá là một tất yếu khách
quan.
Một là, phân công lao động xã hội với t cách là cơ sở
kinh tế của sản xuất hàng hoá chẳng những không mất đi,
trái lại ngày càng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu,
xoá bỏ tính tự cấp tự túc, đẩy nhanh công nghiệp hoá hiện
đại hoá.
ở nớc ta hiện nay ngày càng có nhiều ngành nghề mới
ra đời sống phát triển. Bên cạnh đó các nghề cổ truyền có
tiếng không chỉ trong nớc mà cả trên thế giới trớc đây bị
cơ chế thị trờng cũ làm mai một nay đang dần đợc khôi
phục và phát triển. Trong nội bộ từng khu vực, từng ngành,
địa phơng, phân công lao động ngày càng chi tiết hơn. Điều
đó chứng tỏ tính phong phú đa dạng và chất lợng cao hơn
của sản phẩm lao động đa ra trên thị trờng. Sự chuyên
21
môn hoá, hợp tác đã vợt qua phạm vi quốc gia trở thành
phân công lao động trên phạm vi quốc tế.
Hai là, ở nớc ta đang tồn tại nhiều thành phần kinh tế,
trình độ xã hội hoá giữa các ngành, các đơn vị sản xuất kinh
doanh trong cùng một thành phần kinh tế vẫn cha đều nhau.
Do vậy việc hạch toán kinh doanh, phân phối và trao đổi sản
phẩm lao động tất yếu phải thông qua hình thái hàng hoá -
tiền tệ để thực hiện mối quan hệ kinh tế, đảm bảo lợi ích
kinh tế giữa các tổ chức kinh tế thuộc các thành phần với
nhau.
Nếu xuất phát từ ý muốn chủ quan mà thu hẹp hay cản
trở quá trình tiền tệ hoá các mối quan hệ kinh tế trong giai
đoạn lịch sử hiện nay bằng các hình thức khác nhau sẽ kìm
hãm sự phát triển của nền kinh tế nớc ta. Do vậy các thành
phần kinh tế trong cơ chế thị trờng đều phải tiến hành sản
xuất hàng hoá, góp phần làm dân chủ hoá nền kinh tế, khai
thác thế mạnh của thị trờng. Phát triển kinh tế hàng hoá còn
là điều kiện để thúc đẩy sự phát triển của các ngành khác, cơ
sở hạ tầng và các dịch vụ kèm theo nh: quảng cáo, t vấn,
ngân hàng
22
Phát triển kinh tế hàng hoá sẽ khuyến khích đợc việc
ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ mới nhằm tăng
năng suất lao động, tăng số lợng, chủng loại và chất lợng
hàng hoá dịch vụ, thúc đẩy tập trung sản xuất, mở rộng giao
lu kinh tế giữa các vùng trong nớc và với quốc tế.
Đối với nớc ta hiện nay, muốn chuyển từ nền kinh tế
còn kém phát triển nên sản xuất lớn XHCN thì không còn
con đờng nào khác là phải phát triển kinh tế thị trờng. Bởi
vì phát triển kinh tế thị trờng đợc coi là chiếc đòn xeo để
xây dựng CNXH, là phơng tiện để xã hội hoá nền sản xuất.
II/ Tính tất yếu khách quan phải phát
triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
ở Việt Nam.
1. Phát triển kinh tế hàng hoá do yêu cầu của sự phát
triển lực lợng sản xuất. Thực chất là việc chuyển từ sản
xuất nhỏ lên sản xuất lớn.
Xuất phát từ quy luật chung phổ biến - mối quan hệ biện
chứng giữa lực lợng sản xuất (LLSX) và quan hệ sản xuất
(QHSX). Thật vậy mỗi thành phần kinh tế bao giờ cũng thích