- 1 -
Thiết kế Sinh viên
môn học ngoại thương Tạ Thị Mai Phương KTNT10B
Đề tài
Hoạt động xuất khẩu than của Việt Nam sau khi gia nhập WTO: Thực trạng và
giải pháp nâng cao hiệu quả
Lời mở đầu
Năm 2011, tiếp bước thắng lợi của năm 2010, Bộ Công Thương
dự kiến: giá trị sản xuất công nghiệp tăng 14,8%; kim ngạch xuất khẩu
đạt 78,8 tỉ USD, tăng 10%; kim ngạch nhập khẩu đạt 92,98 tỉ USD, tăng
10,7%; tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ hàng hóa và dịch vụ xã hội
khoảng 1.952 tỉ đồng, tăng 25% so với năm 2010…
Như chúng ta đã biết, than đá là một trong những mặt hàng xuất
khẩu chủ lực của Việt Nam, cùng với hàng dệt may, hàng nông sản, cà
phê v.v Theo số liệu thống kê, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này trong
năm 2010 đạt 1,549 tỷ USD, chiếm 2,16% so với tổng kim ngạch xuất
khẩu cả nước. Sở hữu những mỏ than có trữ lượng lớn , chúng ta đã sớm
phát huy hiệu quả thế mạnh này. Xuất khẩu than đem lại nguồn thu lớn
cho nền kinh tế quốc dân, đồng thời tác động tới tổng cầu trong nước, làm
tăng GDP qua các năm.
Mỗi năm có hàng triệu tấn than được khai thác và xuất khẩu, thu
về hàng tỷ đồng, đóng góp một phần không nhỏ vào Ngân sách Nhà
nước.Định hướng và giải pháp phát triển ngành than cũng đang được các
cơ quan chuyên ngành theo dõi và quan tâm đặc biệt.Mục tiêu của đề tài
này đó là tổng kết những thành tựu mà ngành xuất khẩu than của chúng ta
đã đạt được. Tuy nhiên cũng không thể bỏ qua những sai sót mà ngành
này còn mắc phải, để từ đó đưa ra phương hướng giải quyết tối ưu.Ngoài
ra chúng ta cũng cần có được một cái nhìn tổng quan nhất về tình hình
phát triển và nhu cầu than trên Thế giới.Có như vậy, việc đánh giá và
nhận xét sẽ bao quát hơn, đưa ra chiến lược phát triển đúng đắn hợp lý
hơn.
Trong các chính sách kinh tế vĩ mô, xuất khẩu hàng hóa luôn
luôn được chú trọng. Các chuyên gia kinh tế, các nhà hoạch định chính
sách thường đề ra những biện pháp nâng cao sản lượng sản xuất,chất
lượng sản phẩm để kim ngạch hàng xuất khẩu đạt cao và hiệu quả.Tuy
nhiên than là một loại tài nguyên thiên nhiên không tái sinh. Do vậy việc
khai thác,sử dụng và xuất khẩu sao cho hợp lý hiện đang là một trong
- 2 -
những vấn đề vô cùng bức thiết, nhất là đối với một nước công nghiệp
non trẻ như nước ta.
Nắm bắt được điều này, đề tài : Hoạt động xuất khẩu than của Việt Nam
sau khi gia nhập WTO, thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả, sẽ tìm hiểu rõ
hơn về vấn đề này, đồng thời đưa ra những ý kiến chủ quan trong việc phát triển
mặt hàng này trong tương lai .
I. Tổng quan về ngành than
1. Khái quát về than
Than mỏ được tạo thành do thực vật bị vùi lấp dưới đất và phân hủy dần,
bị nén dưới áp suất cao, nhiệt độ lớn trong hàng triệu năm. Thời gian
phân hủy càng dài, than càng già và hàm lượng cacbon trong than càng
cao.
Than mỏ được cấu tạo từ Cacbon( C )
Phân loại than
Than đá là một loại nhiên liệu hóa thạch được hình thành ở các hệ sinh
thái đầm lầy nơi xác thực vật được nước và bùn lưu giữ không bị ôxi hóa
và phân hủy bởi sinh vật (biodegradation). Thành phần chính của than đá
là cacbon, ngoài ra còn có các nguyên tố khác như lưu huỳnh. Than đá, là
sản phẩm của quá trình biến chất, là các lớp đá có màu đen hoặc đen nâu
có thể đốt cháy được. Than đá là nguồn nhiên liệu sản xuất điện năng lớn
nhất thế giới, cũng như là nguồn thải khí carbon dioxide lớn nhất, được
xem là nguyên nhân hàng đầu gây nên hiện tượng nóng lên toàn cầu.
Than đá được khai thác từ các mỏ than lộ thiên hoặc dưới lòng đất (hầm
lò
Than mỡ là loại than có tuổi thành tạo thấp hơn than antraxit ,loại than
này người ta dùng để luyện cốc vì khi nung ở nhiệt độ cao nó sẽ tiết ra 1
loại nhựa dính kết các than thành 1 khối. cốc dùng để luyện kim vì có
nhiệt lượng rất lớn.
Than gầy là loại than ít nhựa hơn than mỡ, như là than bình thường chúng
ta sử dụng cũng gọi là than gầy.
than non là than có tuổi thành tạo ngắn nhất, như than bùn
Than xương cùng loại với than gầy
khi tách vàng ra khỏi tạp chất người ta hay thổi thuỷ ngân vào trong khối
quặng và thuỷ ngân sẽ hoà tan vàng, hỗn hợp đó gọi là hỗn hống.
Than cốc: sản phẩm của quá trình cốc hoá than mỡ ở nhiệt độ 950 - 1.050
o
C hoặc cốc hoá cặn chưng cất dầu mỏ ở nhiệt độ 420 - 560
o
C, trong điều
- 3 -
kiện không có không khí. Than cốc từ nguyên liệu than béo có độ bền cơ
học cao và độ xốp lớn, dùng làm nhiên liệu cho các lò luyện kim đen.
Than cốc từ nguyên liệu cặn dầu mỏ có độ sạch cao, ít tạp chất, chủ yếu
dùng để sản xuất điện cực, dùng trong luyện kim màu.
Than cám : than đá ở dạng hạt nhỏ hơn 6 mm. Tỉ lệ than cám cao sẽ làm
tăng chi phí về sàng tuyển. Khả năng sử dụng than cám trong công nghiệp
có hạn nên giá trị thương phẩm thấp hơn than củ. Muốn giảm tỉ lệ than
cám trong quá trình khai thác cần áp dụng: nổ mìn với lượng thuốc nổ và
phương pháp nổ thích hợp; giảm số lượng vị trí bốc rót; dùng các biện
pháp kĩ thuật để hạ chiều cao rót than và loại trừ đến mức tối thiểu hiện
tượng va đập khi vận chuyển và lưu trữ than. Than cám ở vùng Quảng
Ninh chiếm 70 - 75 % sản lượng khai thác, căn cứ theo độ tro chia ra than
cám A, TC B (còn phụ thuộc theo yêu cầu của khách hàng).
Than bùn : khoáng sản cháy, xác thực vật (thường là rêu nước) ở đầm lầy
chưa bị phân huỷ hoàn toàn trong điều kiện kị khí. Chất liệu thay đổi từ
tơi xốp đến hình thành các lớp nâu sẫm. Chứa 50 - 60% cacbon, nhiệt
lượng cháy 1.500 - 4.200 kcal/kg. Màu nâu vàng tới xám đen. Thuộc loại
than humit. Được sử dụng làm nhiên liệu, phân bón; dùng điều chế hoá
chất (phenol, sáp, axit axetic, amoniac), vật liệu cách nhiệt. Trữ lượng
than bùn trên thế giới 2.671 tỉ tấn (1979), ở Việt Nam 213.415 triệu m
3
(2000). Gặp ở U Minh và nhiều địa phương khác thuộc Nam Bộ như
Đồng Tháp Mười.
Than củ : than đá dạng cục, cỡ từ 6 đến 8 mm trở lên. Trong khai thác mỏ
cần có biện pháp kĩ thuật để thu hồi được nhiều than củ nhằm làm tăng
giá trị thương phẩm và giá trị sử dụng.
Than gỗ : than sản xuất bằng cách đốt cháy không hoàn toàn hoặc chưng
khô gỗ không cho tiếp xúc với không khí. Khi hoạt hoá, tha gỗ trở thành
than hoạt tính có khả năng hấp phụ cao, được dùng để tẩy màu, nạp mặt nạ
chống độc, vv.
Than hoạt tính : than xốp chứa 88 - 98% than tuỳ theo điều kiện chế tạo,
thu được bằng cách than hoá nguyên liệu hữu cơ (vd. than mỏ, gỗ, sọ dừa,
xương ) và hoạt hoá sản phẩm nhận được ở khoảng 900
o
C. Hoạt hoá là
quá trình cho than phản ứng với hơi nước, khí cacbonic, kẽm clorua, vv.
Vd. do phản ứng C + CO
2
= 2CO một phần than bị cháy tạo thành khí CO
- 4 -
để lại lỗ hổng làm cho than trở nên xốp (độ xốp khoảng 60 - 70%) và do đó
có khả năng hấp phụ tốt. Là chất hấp phụ tốt đối với các chất không phân
cực, thường là chất hữu cơ, hấp phụ yếu các chất phân cực như nước,
amoniac. Được dùng để chế tạo mặt nạ chống hơi độc, thu hồi hơi dung môi
hữu cơ, làm sạch dung dịch nước (vd. tẩy màu dung dịch đường, dầu, mỡ ).
Trong y học, được dùng để làm sạch máu và hút chất độc trong bộ máy
tiêu hoá.
Than luyện cốc : than đá có mức độ than hoá nhất định, ở giai đoạn giữa
của quá trình biến chất than. Màu đen xám. Vết vạch đen, rất mềm. Ánh
thuỷ tinh. Giòn. Khối lượng riêng 1,18 - 1,24 g/cm
3
. Độ ẩm 1%. Chất bốc
22 - 26%; cacbon (cháy) 89 - 90%; hiđro 4,5 - 4,9%. Nhiệt lượng cháy
8.500 - 8.700 kcal/kg; có độ thiêu kết tốt.
Than Linhit: Than nâu đặc sít ở giai đoạn hoá than thấp. Linhit thường có
độ sẫm cao (20 - 40%), hàm lượng chất bốc 45 - 60%, hàm lượng cacbon
60 - 70%, nhiệt lượng cháy 7.000 kcal/kg. Vd. than Na Dương (Lạng
Sơn) là TL.
Gỗ đã bị hoá than yếu, còn thấy rõ thớ gỗ, gặp ở trong các mỏ than nâu.
Ứng dụng
Than sử dụng nhiều trong sản xuất và đời sống. Trước đây, than dùng làm
nhiên liệu cho máy hơi nước , đầu máy xe lửa . Sau đó , than làm nhiên
liệu cho nhà máy nhiệt điện , ngành luyện kim . Gần đây than còn dùng
cho ngành hóa học tạo ra các sản phẩm như dược phẩm , chất dẻo , sợi
nhân tạo . Than chì dùng làm điện cực
Than có tính chất hấp thụ các chất độc vì thế người ta gọi là than hấp thụ
hoặc là than hoạt tính có khả năng giữ trên bề mặt các chất khí , chất hơi ,
chất tan trong dung dịch . Dùng nhiều trong việc máy lọc nước , làm
trắng đường , mặt nạ phòng độc
Than hoạt tính ứng dụng ở hai lĩnh vực chính: xử lý chất lỏng (79%) và
chất khí (21%). Ứng dụng nhiều nhất là trong xử lý nước.
Than hoạt tính lọc nước qua hai quá trình song song: quá trình lọc cơ học
- giữ lại các hạt cặn bằng những lỗ nhỏ và quá trình hấp thụ các tạp chất
hòa tan trong nước bằng cơ chế hấp phụ bề mặt và trao đổi ion.
Từ nguồn nước muốn lọc, cho nước đi qua vòi sen để tạo mưa (hạt nhỏ -
tránh làm xói mòn lớp cát trên cùng). Qua lớp cát trên cùng, nước đã
được lọc sơ các loại bụi bẩn, sinh vật, phèn. Sau đó nước sẽ thấm qua lớp
- 5 -
than hoạt tính. Lớp than hoạt tính này có tác dụng hấp phụ các chất độc
hại, các loại vi sinh vật nguy hiểm và trung hòa các khoáng chất khó hoàn
tan trong nước. Qua lớp than hoạt tính, nước tiếp tục thấm qua lớp cát
lớn, lớp sỏi nhỏ và lớp sỏi lớn nhất để đi ra bể chứa nước sạch.
Ngoài ra, than hoạt tính còn có nhiều ứng dụng trong các lĩnh vực khác.
Trong công nghiệp hóa học, than hoạt tính được ứng dụng làm chất xúc
tác và làm chất mang cho các chất xúc tác khác; trong kỹ thuật: dùng lọc
khí trong tủ lạnh và máy điều hòa nhiệt độ; trong y tế (carbo medicinalis
– than dược): để tẩy trùng và các độc tố sau khi bị ngộ độc thức ăn. Ngoài
ra, than hoạt tính còn được dùng để chế tạo mặt nạ chống hơi độc, thu hồi
hơi dung môi hữu cơ, phòng tránh tác hại của tia đất
Than cốc được sử dụng để nung chảy gang (cốc lò cao) cũng như làm
nhiên liệu không khói chất lượng cao, làm chất khử trong các công nghệ
luyện kim từ quặng sắt, các chất làm tơi trong phối liệu. Than cốc cũng
được sử dụng như là nhiên liệu trong sản xuất gang đúc hay các mục đích
sử dụng thông thường, trong các công nghiệp hóa chất và luyện các hợp
kim của sắt (các dạng cốc đặc biệt). Cốc lò cao cần phải có kích thước
các cục không nhỏ hơn 25-40 mm với số lượng các cục cốc nhỏ hơn 25
mm và lớn hơn 80 mm không vượt quá 3%. Than cốc sử dụng để đúc
gang theo kích thước không được nhỏ hơn than cốc lò cao, các cục cốc
trong trường hợp này có kích thước không nhỏ hơn 60-80 mm. Sự khác
biệt chính giữa cốc lò cao và cốc đúc là hàm lượng lưu huỳnh nhỏ hơn,
nó không được vượt quá 1% (trong cốc lò cao có thể tới 2%). Trong công
nghiệp luyện các hợp kim của sắt người ta sử dụng các cục than cốc nhỏ
(ví dụ, các cục kích thước 10-25 mm), trong trường hợp này thì người ta
cần tốc độ phản ứng nhanh chứ không phải hàm lượng các tạp chất có
trong than cốc. Các yêu cầu đối với độ bền vững của than cốc thông
thường là không quá nghiêm ngặt so với cốc lò cao hay cốc đúc. Trong
mọi loại hình sản xuất than cốc thì loại nguyên liệu được ưa chuộng là
các loại than có độ xốp cao, ít tro và chứa ít lưu huỳnh và chứa không
nhiều các thành phần tạo cốc cục nhỏ. Sản lượng than cốc sản xuất trên
thế giới khoảng 400 triệu tấn/năm.
Vì những ứng dụng quan trọng đó mà ngày nay, than đá là nhiên liệu vô
cùng quan trọng trong đời sống cũng như trong quá trình phát triển các
ngành công nghiệp ở khắp các quốc gia trên Thế giới
Tại cuộc họp năng lượng quốc tế, các chuyên gia cho rằng các nước phát
triển sẽ cần nhiều nguồn năng lượng như điện hơn để đưa đến những
vùng nông thôn, mà phần lớn nguồn điện được tạo ra sẽ là đốt than đá.
- 6 -
Charles Goodyear giám đốc của BHP Billiton cho rằng nhiên liệu hóa
thạch cung cấp 86% cho nhu cầu năng lượng của thế giới và điều này sẽ
không thay đổi cho đến năm 2025, mặc dù nhu cầu phát triển năng lượng
đến thời điểm đó tăng tới 50%.
Phần lớn yều cầu phát triển này sẽ hình thành nên nhu cầu cung cấp điện
cho những nước phát triển cùng với sự gia tăng dân số 1,25 tỷ người vào
năm 2025, nhất là ở châu Phi và châu Á.
Tất cả nguồn năng lượng sẽ phụ thuộc vào nguồn nhiên liệu hóa thạch, và
đây chính là một vấn đề lớn đang được các chuyên gia tìm cách giải
quyết. Mặc dù khí carbon dioxide tạo nên 60% khí gas, nhưng than đá
vẫn đáp ứng nhu cầu nhiều hơn vì nó rất dồi dào, tiết kiệm và dễ vận
chuyển.
Phân bố than trên Thế giới: Trữ lượng than của cả thế giới vẫn còn cao
so với các nguyên liệu năng lượng khác ( dầu mỏ , khí đốt ) .Than được
khai thác nhiều nhất ở Bắc bán cầu , trong đó 4/5 thuộc các nước sau :
Hoa Kì , Nga , Trung Quốc , Ấn Độ , Úc , Đức , Ba Lan , Canada , sản
lượng than khai thác hiện nay là khoảng 6 tỉ tấn/năm
Bản đồ phân bố mỏ than trên Thế giới
- 7 -
Sản lượng than khai thác trên Thế giới
STT Quốc gia/Vùng
Lãnh thổ
Sản lượng than
(triệu tấn)
So với
Thế giới(%)
Thế giới 6.395,6 100
1 Trung Quốc 2.536,7 39,7
2 Hoa Kỳ 1.039,2 16,2
3 Châu Âu 590,5 9,2
4 Ấn Độ 478,2 7,5
5 Australia 393,9 6,2
6 Nga 314,2 4,9
7 Nam Phi 269,4 4,2
8 Đức 201,9 3,2
9 Indonesia 174,8 2,7
10 Ba Lan 145,8 2,3
11 Kazakhstan 94,4 1,5
12 Thổ Nhĩ Kì 76,6 1,2
13 Ukraina 76,3 1,2
14 Colombia 71,7 1,1
15 Canada 62,6 1,0
- 8 -
Trữ lượng than ở Việt Nam
Theo Tập đoàn Than khoáng sản Việt Nam – TKV trữ lượng than tại Việt
Nam rất lớn: riêng ở Quảng Ninh khoảng 10.5 tỷ tấn, trong đó đã tìm
kiếm thăm dò 3.5 tỷ tấn (chiếm khoảng 67% trữ lượng than đang khai
thác trên cả nước hiện nay), chủ yếu là than antraxit. Khu vực đồng bằng
sông Hồng được dự báo có khoảng 210 tỷ tấn, chủ yếu là than Asbitum,
các mỏ than ở các tỉnh khác khoảng 400 triệu tấn. Riêng than bùn là
khoảng 7 tỉ m3 phân bố ở cả 3 miền. Tuy nhiên, theo thống kê của Cơ
quan thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) trữ lượng than Việt Nam có 165
triệu tấn, còn theo tập đoàn BP thì con số này là khoảng 150 triệu tấn.
Cũng theo EIA, sản lượng khai thác của Việt Nam năm 2007 là 49.14
triệu tấn, đứng thứ 6 trong các nước chấu Á và thứ 17 trên thế giới, chiếm
0.69% sản lượng thế giới. So với Trung Quốc hoặc Mỹ thì sản lượng của
Việt Nam như “muối bỏ bể” (Trung Quốc là 2,796 triệu tấn chiếm 39.5%
sản lượng thế giới còn Mỹ là 1,146 triệu tấn, chiếm 16.1% sản lượng thế
giới.
Tập đoàn TKV giao cho các công ty quản lý tài nguyên, trữ lượng than.
Hàng năm, các công ty khai thác than cho Tập đoàn theo Hợp đồng giao
nhận thầu khai thác, sàng tuyển than. Do đó, không có sự cạnh tranh về
sản phẩm và thị trường giữa các Công ty khai thác than. Lợi nhuận của
các công ty khai thác than chịu ảnh hưởng trực tiếp của định mức lợi
- 9 -
nhuận do TKV quy định và gián tiếp bởi những yếu tố khác, gồm có sản
lượng xuất khẩu, giá xuất khẩu và giá bán than trong nước.
TKV hiện có khoảng 30 mỏ và các điểm khai thác lộ thiên trong đó có 5
mỏ có công suất từ 1 triệu tấn đến trên 3 triệu tấn/năm. Có khoảng 20 mỏ
khai thác hầm lò trong đó có 7 mỏ có công suât từ 1 triệu tấn trở lên là:
Mạo Khê, Vàng Danh, Nam Mẫu, Hà lầm, Mông Dương, Khe Chàm,
Dương Huy.
Quảng Ninh tập trung khoảng 67% trữ lượng than toàn quốc, chủ yếu là
antraxít, sản lượng than mỡ rất thấp - khoảng 200 ngàn tấn/năm. Quảng
Ninh có 7 mỏ than hầm lò sản xuất với công suất trên dưới 2 triệu tấn
than nguyên khai/năm; chiếm hơn 45% tổng sản lượng khai thác than của
TKV. Quảng Ninh có 5 mỏ lộ thiên lớn sản xuất với công suất trên 2 triệu
tấn than nguyên khai/năm là: Cọc Sáu, Cao Sơn, Hà Tu, Ðèo Nai, Núi
Béo, cung cấp đến 40% sản lượng cho TKV.
II.Tình hình khai thác than hiện nay
1.Bối cảnh Thế giới
Khai thác than
Hàng năm có khoảng hơn 6,030 triệu tấn than được khai thác, con số này
đã tăng 38% trong vòng 20 năm qua. Sản lượng khai thác tăng nhanh nhất
ở châu Á, trong khi đó chấu Âu khai thác với tốc độ giảm dần. Các nước
khai thác nhiều nhất không tập trung trên một châu lục mà nằm rải rác
trên thế giới, năm nước khai thác lớn nhất hiện nay là: Trung Quốc, Mỹ,
Ấn Độ, Úc và Nam Phi. Hầu hết các nước khai thác than cho nhu cầu tiêu
dùng nội địa, chỉ có khoảng 18% than cứng dành cho thị trường xuất
khẩu. Lượng than khai thác được dự báo tới năm 2030 vào khoảng 7 tỷ
tấn, với Trung Quốc chiếm khoảng hơn một nửa sản lượng.
Than đóng vai trò sống còn với sản xuất điện và vai trò này sẽ còn được
duy trì trong tương lai. Khoảng 39% lượng điện sản xuất ra trên toàn thế
giới là từ nguồn nguyên liệu này và tỷ lệ này sẽ vẫn được duy trì trong
tương lai (dự báo cho đến năm 2030). Lượng tiêu thụ than cũng được dự
báo sẽ tăng ở mức từ 0.9% đến 1.5% từ nay cho đến năm 2030. Tiêu thụ
về than cho nhu cầu trong các lò hơi sẽ tăng khoảng 1.5%/năm trong khi
than non, được sử dụng trong sản xuất điện, tăng với mức 1%/ năm. Cầu
về than cốc, loại than được sử dụng trong công nghiệp thép và kim loại
được dự báo tăng với tốc độ 0.9%.Thị trường than lớn nhất là châu Á,
chiếm khoảng 54% lượng tiêu thụ toàn thế giới, trong đó nhu cầu chủ yếu
đến từ Trung Quốc. Một số nước khác không có nguồn nhiên liệu tự
nhiên phải nhập khẩu than cho các nhu cầu về năng lượng và công nghiệp
- 10 -
như Nhật Bản, Đài Bắc và Hàn Quốc. Không chỉ những nước không thể
khai thác than mới phải nhập khẩu mà ngay cả các quốc gia khai thác lớn
nhất thế giới cũng phải nhập than. Nhu cầu nhập khẩu phục vụ cho dự trữ
hay những nguồn than có chất lượng. Than sẽ vẫn đóng vai trò quan
trọng, đặc biệt tại các khu vực có tốc độ tăng trưởng cao. Tăng trưởng của
thị trường than dành cho đốt lò hơi và than cốc sẽ
mạnh nhất tại châu Á, nơi mà nhu cầu về điện, sản xuất thép, sản xuất xe
hơi và nhu cầu dân sinh tăng cao theo mức sống ngày càng được cải thiện
Than Thương mại
Than được thông thương trên khắp thế giới qua đường biển với khối
lượng lớn. 20 năm trước, than hơi nước tiêu thụ qua đường biển tăng
trưởng khoảng 8% mỗi năm trong khi với than cốc là 2%. Tổng lượng
tiêu thụ quốc tế trong năm 2008 đạt 718 triệu tấn, chiếm khoảng 18%
lượng than tiêu dùng. Chi phí vận chuyển chiếm tỷ trọng lớn trong tổng
giá giao than. Thị trường than xuất khẩu được chia thành 2 thị trường lớn
là Đại Tây Dương và Thái Bình Dương. Thị trường Đại Tây Dương bao
gồm các nước nhập khẩu như Tây Âu, đặc biệt là Anh, Đức và Tây
Ban Nha. Thị trường Thái Bình Dương gồm các nước đang phát triển và
các nước thuộc nhóm OECD châu Á, đặc biệt là Nhật Bản, Hàn Quốc và
Đài Bắc. Thị trường Thái Bình Dương hiện chiếm khoảng 60% lượng
than hơi nước được thông thương. Các thị trường có xu hướng chuyển đổi
lẫn nhau khi giá than cao và nguồn cung dồi dào. Úc là nước xuất khẩu
than lớn nhất thế giới, tại thời điểm cuối năm 2003, nước này xuất khẩu
trên 207 triệu tấn than cứng trong tổng số hơn 274 triệu tấn than khai thác
tại nước này. Đây là một trong những hàng hóa xuất khẩu có giá trị nhất
của nước này. Mặc dù ¾ lượng xuất khẩu của Úc là vào thị trường châu
Á tuy nhiên than của nước này được tiêu thụ trên toàn thế giới trong đó
châu Âu, châu Mỹ và châu Phi. Việc buôn bán than cốc trên bình diện
quốc tế là khá hạn chế. Úc xuất khẩu tới 51% trong số này. Mỹ và
Canada là các quốc gia xuất khẩu lớn sau Úc và Trung Quốc mới nổi lên
nắm vai trò quan trọng. Than cốc có giá cao hơn than hơi nước, điều đo
cũng có nghĩa Úc sẽ có ảnh hưởng và tác động lớn tới thị trường loại than
này trên thế giới.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, hai tháng đầu năm 2009, tổng giá trị
xuất khẩu của Việt Nam giảm 5,1% so với cuối năm 2008, nhưng có một
số ngành tăng như: xuất khẩu đá quý, kim loại quý (vàng…) tăng
3,052.6%, xuất khẩu gạo tăng 113.2% và xuất khẩu than tăng 9.4%
Điều này cho thấy, ngành than là một trong những ngành ít chịu ảnh
hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu hiện nay. Thống kê từ năm 2003 đến
hết năm 2007, sản lượng khai thác than bình quân trên thế giới tăng
khoảng 3.33%/năm, nhưng nhu cầu sử dụng than tăng khoảng
- 11 -
4.46%/năm, đặc biệt khu vực châu Á và Australia có tốc độ tăng nhu cầu
sử dụng than tới 7.03%/năm. Điều này chứng tỏ, nhu cầu sử dụng than
ngày càng tăng lên, trong khi trữ lượng khai thác giảm dần trong những
năm vừa qua (bình quân 6.77%/năm trong giai đoạn 2003 - 2007).
Theo thống kê, giai đoạn 2003 - 2007, sản lượng tiêu thụ than của Việt
Nam tăng 119.89%. Đặc biệt, nhu cầu tiêu thụ than của Việt Nam được
dự đoán tăng trong những năm tiếp theo, do trong thời gian vừa qua,
Chính phủ đã phê duyệt quy hoạch xây dựng nhiều nhà máy nhiệt điện tại
các địa phương. Hiện tại than Việt Nam phục vụ cho các hộ sản xuất
chính là điện, xi măng, giấy, phân bón và phục vụ xuất khẩu. Điện hiện
tiêu thụ tới 32% sản lượng tính hết 7 tháng đầu năm 2009.
Trong bối cảnh kinh tế suy thoái, giá than trên thế giới đã giảm rất nhiều
(hơn một nửa so với mức đỉnh trong năm 2008). Như vậy, việc giảm giá
than này có thể ảnh hưởng khá nhiều đến các doanh nghiệp ngành than do
lợi nhuận trước trong các năm trước đây, lợi nhuận của các doanh nghiệp
chủ yếu xuất phát từ nguồn xuất khẩu.
Bên cạnh đó, do đặc thù ngành, việc khai thác, xuất khẩu hay bán cho
một số khách hàng của ngành than cũng bị phụ thuộc vào đơn vị chủ quản
là TKV, đôi khi cả về khối lượng và giá cả. Hoạt động của các công ty
vẫn chủ yếu dưới dạng hợp đồng giao thầu khai thác, chế biến, kinh
doanh than với tập đoàn. Dù vậy, các doanh nghiệp ngành than vẫn có
nhiều cơ hội do tăng giá bán than trong nước. Bên cạnh những yếu tố
thuận lợi trên, doanh nghiệp ngành than cũng gặp một số khó khăn nhất
định như: công nghệ khai thác sơ khai, chịu rủi ro về mặt chính sách và
môi trường … Hiện tại, doanh nghiệp chủ yếu khai thác mỏ lộ thiên,
trong khi, theo dự kiến, đến năm 2014, TKV sẽ đóng cửa hoàn toàn các
mỏ than lộ thiên, nên đòi hỏi doanh nghiệp phải đầu tư công nghệ, tập
trung khai thác than ở các hầm, lò.
Hiện nay nhu cầu tại Trung Quốc đang tăng mạnh, nguồn cung than đá
trên toàn cầu đang bị thắt chặt, BHP Billiton, hãng xuất khẩu than đá
hàng đầu thế giới cho biết đã đạt được thỏa thuận với JFE Holdings trong
việc tăng 55% giá than đá.
BHP Billiton, hãng xuất khẩu than đá hàng đầu thế giới cho biết đã đạt
được thỏa thuận với bộ phận sản xuất thép của JFE Holdings trong việc
tăng 55% giá than đá trong bối cảnh nguồn cung than đá trên toàn cầu
đang bị thắt chặt.
Phát ngôn viên của JFE cho biết, hãng sẽ trả 200 đô la Mỹ trên một tấn
than đã đối với những hợp đồng có kỳ hạn 3 tháng, bắt đầu từ tháng 4 tới.
- 12 -
Đây là lần đầu tiên các hợp đồng mua bán than đá được định giá theo quý
mà BHP Billiton đã nỗ lực đạt được cho đến nay.
Mức tăng này đã ít hơn so với con số dự báo 222 đô la Mỹ một tấn của
Morgan Stanley. Còn USB AG lại dự đoán con số này là 240 đô la Mỹ
một tấn.
Các nhà sản xuất thép tại Nhật Bản và Hàn Quốc đang nhận thấy, việc
nhu cầu tại Trung Quốc tăng mạnh trong thời gian gần đây đang khiến
nguồn cung than đá sụt giảm. Điều này đã khiến BHP Billiton gia tăng
các cuộc đàm phán về giá.
Giá than
Giá than sẽ tiếp tục chịu áp lực tăng do nhu cầu xây mới các nhà máy
điện sử dụng than vẫn tăng tại Trung Quốc, Ấn Độ và Indonesia, trong
khi một số nước sẽ điều chỉnh giá than hoặc hạn chế xuất khẩu.
Ngày 18/11, Chuyên san "Kinh doanh" của Báo Bưu điện Jakarta (Jakarta
Post, Indonesia) đã đăng bài nêu dự báo trên.
Bài báo này phân tích, từ năm 2011 - 2015, giá than được dự báo sẽ tăng
lần lượt từ 95 USD/tấn lên 100, 105, 108, 110 và 115 USD/tấn. Bên cạnh
đó, Indonesia, một trong những nước sản xuất than với giá thấp nhất thế
giới, cũng sẽ phải điều chỉnh giá bán than vì chi phí sản xuất tăng cao.
Tại Hội nghị về than tổ chức tại Amsterdam (Hà Lan), các chuyên gia đã
dự báo nhu cầu đối với loại than nhiệt Seaborne sẽ tăng thêm 74%, từ
mức 680 triệu tấn năm 2010 lên 1.187 triệu tấn vào năm 2025.
Trung Quốc, Ấn Độ là hai nước góp phần làm tăng mạnh nhu cầu về loại
than nhiệt và hai nước này chiếm tới 28% thị trường than nhiệt toàn cầu
hiện nay.
Theo Cơ quan năng lượng quốc tế (IEA), Trung Quốc hiện đang phải dựa
vào than để đáp ứng 80% nhu cầu điện trong nước. Trung Quốc cũng
đang lắp đặt thêm 2 nhà máy điện mới chạy bằng than với công suất 500
MW/tuần. Dự kiến vào thập kỷ tới, các nhà máy này sẽ tăng gấp đôi công
suất và bổ sung thêm 500 gigawatt điện. Khi đó, Trung Quốc có thể sẽ
tiêu thụ tới 43% sản lượng than nhiệt của cả thế giới. Điều này rất có thể
gây ra tình trạng mất cân bằng giữa sản xuất và tiêu thụ, sẽ đẩy giá than
lên cao.
Tương tự, tại Ấn Độ, nước hiện tiêu thụ 8% sản lượng than nhiệt của thế
giới, được dự báo sẽ tiêu thụ tới 25% loại than này vào năm 2015 để đáp
- 13 -
ứng nhu cầu của các nhà máy điện của họ, cũng góp phần đáng kể đẩy giá
than tăng cao.
Việt Nam là nước hiện xuất khẩu 50% sản lượng than, tức là 24 triệu tấn,
nhưng con số này được dự báo sẽ giảm chỉ còn 3 triệu tấn. Việc Việt Nam
có thể phải giảm khối lượng xuất khẩu than sẽ tạo thêm áp lực lên giá
than trên thị trường thế giới.
Giá than Thế giới trong giai đoạn 1998 – 2007 ( USD/ tấn)
2. Tình hình xuất khẩu than của Việt Nam
a. Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam
Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam hay tập đoàn Than -
Khoáng sản Việt Nam, Tên tiếng Anh là Vietnam national Coal - Mineral
Industries Group, viết tắt là Vinacomin, ngoài ra tên viết tắt tiếng Việt là
TKV. Tập đoàn được thành lập trên cơ sở Tập đoàn Than Việt Nam và
Tổng công ty Khoáng sản Việt Nam. Theo đó, công ty mẹ là Tập đoàn
Than Khoáng sản Việt Nam và Tổng công ty Khoáng sản Việt Nam được
chuyển thành công ty con của Tập đoàn.
b. Các thị trường xuất khẩu than chính của Việt Nam
- 14 -
Các khách hàng lớn của Việt Nam có thể kể đến là Nhật Bản, Hàn Quốc,
Tây Âu, Đông Âu. Sau nhiều thay đổi sắp xếp về thị trường xuất khẩu
than, hiện nay Công ty V-COALIMEX được Tập đoàn TKV ủy quyền
giao dịch, ký hợp đồng xuất khẩu than với các khách hàng ở thị trường
Hàn Quốc, Trung Quốc, Đông Âu, Ấn Độ, Cu Ba, Đài Loan và các nước
Đông Nam Á khác.
Thị trường Hàn Quốc
Hàn Quốc là một trong những nhà nhập khẩu than anthracite lớn nhất thế
giới. Hiện nay thị trường Hàn Quốc nhập khẩu khoảng 1 triệu tấn than
của Việt Nam các loại: than cục, cám Vàng Danh, Uông Bí, than cám
Hòn Gai. Than Việt Nam được sử dụng cho rất nhiều ngành công nghiệp
cũng như nhu cầu dân dụng ở Hàn Quốc.
Thông qua một Công ty thương mại của Thụy Điển, Than Việt Nam bắt
đầu xuất khẩu vào thị trường này từ trước năm 1983. Tuy nhiên, đến sau
năm 1984, Hàn quốc mới thực sự trở thành thị trường tiềm năng tiêu thụ
than Việt nam. Đơn vị tiên phong trong việc đưa than Việt nam vào thị
trường Hàn Quốc. Đó là Hãng Đại Hàn Coal, mà trực tiếp là Sam Sung.
Với phương án đàm phán mềm dẻo, kiên trì nên năm 1984, lần đầu tiên
Công ty đã ký được hợp đồng xuất khẩu trực tiếp than Hòn gai số 8 vào
Hàn Quốc với số lượng 270.000 tấn. Tuy nhiên năm 1986,1987 than Việt
Nam xuất khẩu sang Hàn Quốc giảm đáng kể cả về số lượng và giá cả.
Đến năm 1990 tổng giá trị than xuất khẩu vào thị trường Hàn Quốc chỉ
bằng 50% so với năm 1984 do có sự cạnh tranh quyết liệt của các nước
xuất khẩu than khách là Trung Quốc, Nga, Nam Phi, Indonesia, Úc v.v.
Không nản chí, với quyết tâm khai thác tối đa tiềm năng của thị trường
này, bên cạnh việc duy trì mối quan hệ tốt với khách hàng truyền thống
khi thuận lợi cũng như lúc khó khăn. Sau năm 1990 Than Việt Nam lại
tiếp tục và ngày càng thâm nhập sâu hơn, rộng hơn vào các ngành kinh tế
cũng như đời sống sinh hoạt của Hàn Quốc.
Hơn 10 năm gần đây Việt Nam cùng với Trung Quốc, Nga luôn là ba nhà
cung cấp than anthracite hàng đầu cho Hàn Quốc. Bạn hàng lớn nhất của
Việt Nam hiện nay là Công ty Daeshin.
Thị trường các nước XHCN
Trong thời gian từ năm 1982 đến năm 1988 Công ty còn xuất khẩu than
sang các nước XHCN như: Liên Xô, Công hoà dân chủ nhân dân Triều
Tiên, Rumani, cộng hòa Séc theo Nghị định thư của Chính phủ.
Từ năm 1996 mở rộng vào thị trường Bungari bình quân mỗi năm tiêu
thụ khoảng 500 nghìn tấn và cho đến nay Công ty vẫn duy trì được cung
cấp than vào thị trường này mặc dù việc duy trì đưa than vào thị trường
này rất khó khăn vì giá cước vận tải cao, cạnh tranh gay gắt với than của
Nga và Ucraina thuận lợi rất nhiều về giá cước vận tải.
- 15 -
Thị trường Trung Quốc
Hiện nay thị trường Trung Quốc là thị trường lớn nhất của Việt Nam.
Than Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc cung cấp cho các nhà máy
điện ở tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây khoảng 70%. Ngoài ra còn cung cấp
cho các nhà máy Xi măng và sản xuất vật liệu xây dựng tại khu vực đảo
Hải Nam, Quảng Tây, Quảng Đông, cho nhà máy thép Baosteel ở
Thượng Hải…
Do đón bắt được nhu cầu lớn của thị trường Trung Quốc, nước ta đã chủ
động tìm kiếm và tiếp cận khách hàng cũng như nhà sử dụng cuối cùng từ
rất sớm. Đến nay chúng ta đã có những khách hàng lớn, mua than rất ổn
định ở Trung Quốc. Đặc biệt chúng ta đã ký được biên bản thỏa thuận
cung cấp than dài hạn với tập đoàn điện lực Yudean Quảng Đông để cung
cấp mỗi năm hơn 2 - 3 triệu tấn than cho Tập đoàn này đến năm 2010.
Các thị trường khác
Ngoài các thị trường lớn của Việt Nam như Trung Quốc, Hàn Quốc thì
các thị trường khác như: Bungari, Cuba, Thái Lan, Đài Loan, Philippin,
Ấn Độ v.v. cũng hết sức quan trọng vì đây đều là các khách hàng truyền
thống của Công ty từ rất lâu và sử dụng các loại than có chất lượng cao
dùng cho công nghiệp xi măng, thép, hóa chất, luyện kim và nhiệt điện
v.v.
c.Kim ngạch xuất khẩu than của Việt Nam
*
Trước khi gia nhập WTO
Theo số liệu của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt
Nam (TKV):
Năm 2003, sản lượng than xuất khẩu đạt 6,524 triệu tấn giá trị xuất
khẩu đạt 163,726 triệu USD
Năm 2004 là 10,644 triệu tấn và 322 triệu USD
Năm 2005 tăng lên 14,74 triệu tấn và giá trị xuất khẩu đạt 595 triệu
USD.
Năm 2006, lượng than xuất khẩu tăng đột biến , tức là tăng 65,6%
so với năm 2005, đạt mức 29,783 triệu tấn ; kim ngạch tăng 38,5% , đạt
927 triệu USD
Nhận xét : Việt Nam là một trong những quốc gia có trữ lượng than lớn
trên Thế giới do vậy việc phát triển công nghiệp khai thác và xuất khẩu
mặt hàng này có rất nhiều điều kiện để phát triển. Từ năm 2003 đến năm
2006, sản lượng và kim ngạch xuất khẩu than của nước ta liên tục tăng
thậm chí tăng khá nhanh ( trong vòng 4 năm sản lượng xuất khẩu tăng
356,5% và kim ngạch tăng 466 %)
Tuy nhiên vì nước ta chưa gia nhập WTO nên vẫn còn vấp phải những
hàng rào bảo hộ mậu dịch cũng như chưa kí kết được những hợp đồng lớn
và cũng chưa thâm nhập vào những thị trường tiềm năng
- 16 -
Chính vì thế kim ngạch xuất khẩu than của chúng ta có tăng nhưng chưa
cao
*
Sau khi gia nhập WTO
Theo số liệu của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam
(TKV):
Năm 2007, kim ngạch xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD, tăng 11,3% so
với năm 2006. Than trở thành một trong những mặt hàng có kim ngạch
xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD ( cùng với dầu thô, hàng dệt may )
Năm 2008, kim ngạch xuất khẩu đạt 1,444 tỷ USD, tăng 61,7% về
sản lượng, và tăng 44,4% về kim ngạch
Năm 2009, kim ngạch xuất khẩu đạt 1,3 tỷ USD, tăng 29,9 % về
lượng nhưng giảm 4,5% về kim ngạch
Nam 2010, kim ngạch xuất khẩu đạt 1,98 tỷ USD , tăng 52,9% sao
với năm 2009
Nhận xét:
Sau khi gia nhập WTO – Tổ chức kinh tế lớn nhất trên Thế giới, chúng ta
tiếp cận dễ dàng hơn thị trường của các nước thành viên WTO và hạn
ngạch đối với một số mặt hàng xuất khẩu của ta cũng được bãi bỏ
Mở rộng thị trường xuất khẩu. Xuất khẩu của Việt Nam sẽ không bị bó
hẹp trong các hiệp định song phương và khu vực mà sẽ có thị trường toàn
cầu. Doanh nghiệp và hàng hóa của ta sẽ không bị phân biệt đối xử so với
doanh ngiệp và hàng hóa của các nước khác theo điều kiện đãi ngộ tối
huệ quốc MFN ( hay quan hệ thương mại bình thường NTR) và nguyên
tắc đối xử quốc gia ( NT)
Chính vì thế, các mặt hàng xuất khẩu của nước ta hiện nay đều có giá trị
kim ngạch cao, đóng góp đáng kể vào nền kinh tế quốc dân. Trong đó có
mặt hàng than, đến nay cũng đã xấp xỉ đạt ngưỡng 2 tỷ USD/ năm
Xuất khẩu tăng là một dấu hiệu đáng mừng khi nước ta đang từng bước
hội nhập. Những mặt hàng truyền thống của ta như hàng nông sản, dệt
may, da giày, gạo, cà phê, đang dần khẳng định vị thế của mình trên thị
trường Thế giới. Xuất khẩu ròng tăng ảnh hưởng tới nhiều mặt trên các
lĩnh vực kinh tế, xã hội. Khi sản phẩm bán được, người lao động nước ta
có việc làm, tăng tổng cầu và tăng các chỉ số GDP, GNP
Thế nhưng, như đã nói ở trên, than là tài nguyên thiên nhiên không tái
sinh, có thể cạn kiệt bất cứ lúc nào nếu như không có biện pháp khai thác
và sử dụng hợp lý.Do đó tăng sản lượng xuất khẩu than qua mỗi năm có
thể đem lại nguồn thu lớn trước mắt nhưng hệ quả lâu dài thì chưa thể
lường trước
3.Những khó khăn, bất cập trong ngành khai thác than của Việt Nam
Là ngành công nghiệp khai khoáng mũi nhọn của đất nước, ngành than
luôn được ưu tiên chú trọng phát triển. Tuy nhiên vẫn còn vô số những
- 17 -
khó khăn, tiêu cực mà chúng ta cần phải nhìn nhận và tìm ra cách giải
quyết thỏa đáng.
a. An toàn lao động
Ba vụ nổ khí mêtan lớn tại các mỏ than từ năm 1999 đến nay đã làm 40
công nhân thiệt mạng. Năm 1999, vụ nổ khí mêtan tại mỏ than Mạo Khê
làm chết 19 công nhân.Năm 2002, nổ khí mêtan tại mỏ Suối Lại và mỏ
909, làm chết 13 công nhân.Đầu năm 2006, nổ khí mêtan tại mỏ Thống
Nhất, chết 8 công nhân.Điều đó cho thấy công tác an toàn lao động của
chúng ta chưa được quan tâm thỏa đáng.
Nguyên nhân gây mất an toàn lao động trong các hầm than qua theo dõi
thống kê, phân tích cho thấy :
Nhiều vụ tai nạn lao động, đặc biệt là số vụ TNLĐ nghiêm trọng thường
xảy ra ở những cơ sở sản xuất vừa và nhỏ đầu tư chưa đồng bộ, điều kiện
kỹ thuật khai thác chưa đảm bảo yêu cầu, chưa đảm bảo an toàn lao động
(đo kiểm tra khí nổ, thông gió hầm lò, trang bị PCCN ).
Cán bộ quản lý (chủ yếu cán bộ chỉ huy sản xuất ở công trường, phân
xưởng) và người lao động vi phạm các quy định về KTAT trong sản xuất,
quy phạm ATLĐ, chức trách nhiệm vụ như:
Không thực hiện đúng quy định về đào chống lò, phá hỏa, quy phạm khai
thác than, thu hồi cột chống sai qui định.
- Cán bộ chỉ huy sản xuất không thực hiện đúng quy định về trách nhiệm
phân công bố trí lao động, kiểm tra kỹ thuật trong ca, khi phát hiện ra các
yếu tố kỹ thuật không an toàn, không báo cáo cho giám đốc xí nghiệp, lơ
là trách nhiệm, thiếu biện pháp đảm bảo an toàn cho người lao động.
- Không chấp hành nghiêm túc chế độ đo, kiểm tra nồng độ khí mỏ, bố trí
người lao động vào làm việc trong điều kiện mỏ không được kiểm soát
khí.
Người sử dụng lao động buông lỏng quản lý tổ chức sản xuất, quản lý lao
động, vi phạm pháp luật bố trí lao động không được đào tạo, đào tạo chưa
đủ trình độ mà vẫn làm làm công việc đòi hỏi trình độ kỹ thuật và yêu cầu
nghiêm ngặt về ATLĐ, sử dụng lao động không có hợp đồng
Buông lỏng công tác tự kiểm tra ATLĐ, chưa thực hiện tốt chế độ kiểm
tra để phát hiện giải quyết kịp thời các yếu tố không đảm bảo an toàn cho
người lao động khi có sự thay đổi điều kiện khai thác, khí mỏ
Để ngăn chặn khả năng xảy ra tai nạn, nhất là tai nạn lao động chết người,
cần nhanh chóng tiến hành những biện pháp hữu hiệu hơn cả về mặt quản
lý nhà nước cũng như ngành than phải chủ động thực hiện mọi biện pháp
- 18 -
cần thiết để ATLĐ được thực hiện tốt, triệt để hơn nhằm hạn chế đến mức
thấp nhất sự cố và tai nạn lao động.
b.Ô nhiễm môi trường
Than đá dùng để tạo ra năng lượng điện. Bù lại, mỗi năm sẽ có 11 tỷ tấn
CO2 bay vào bầu khí quyển trái đất. Điều sẽ gây ảnh hưởng rất nghiêm
trọng đến khí hậu trái đất. Khai thác than đá đang dẫn đầu danh sách
trong các hoạt động của con người gây ra biến đổi khí hậu. Còn đối với
những người trực tiếp tiếp xúc với than đá và sống xung quanh khu vực
khai thác, bệnh về đường hô hấp và đường ruột luôn rình rập để dẫn họ
đến những căn bệnh ung thư, thậm chí là tử vong.
Thời gian qua, tại các hồ thủy lợi thuộc địa bàn huyện Đông Triều, Quảng
Ninh đã xảy ra ô nhiễm trầm trọng, cản trở và gây thiệt hại trong sản xuất
nông nghiệp cũng như ảnh hưởng đến cảnh quan và sức khỏe cộng đồng.
Ở hầu hết các vỉa Công ty Than Mạo Khê đang khai thác đều lập báo cáo
đánh giá tác động môi trường nhưng quá trình khai thác đã không hề áp
dụng các hình thức xử lý môi trường, thải thẳng ra tự nhiên khiến cho
không chỉ hồ Nội Hoàng mà tất cả các dòng chảy phía hạ lưu đều bị ô
nhiễm nghiêm trọng, giảm nồng độ PH gấp nhiều lần so với mức độ cho
phép.
Đây cũng là nguyên nhân gây phá vỡ kết cấu trong đất và độ phì của tầng
đất canh tác, làm ảnh hưởng đến năng suất cây trồng và đời sống của
người dân trong khu vực.
Kiểm tra tại vị trí vỉa 43, 46 xã Hồng Thái Tây (Đông Triều) và cửa lò
248 do Công ty Than Uông Bí đang khai thác đã cho thấy, nước rửa trôi
bề mặt và nước thải lò không được thu gom và chảy xuống các hồ Khe
Ươn 1 và Khe Ươn 2.
Bên cạnh đó, ở các khai trường khai thác than chưa xây dựng hệ thống
đập tràn chắn đất đá thải nên vào mùa mưa lượng nước chảy tràn bề mặt
đã cuốn trôi đất đá thải làm axit hoá và bồi lắng các hồ thủy lợi ở hạ lưu.
Riêng đối với vỉa 46, theo quy hoạch vỉa này nằm trong vùng hạn chế
hoạt động khai thác khoáng sản nên UBND tỉnh chỉ cho phép Công ty
khai thác với công nghệ hầm lò.
Bất chấp, Công ty TNHH một thành viên Than Hồng Thái (thuộc Công ty
Than Uông Bí) đã tự ý khai thác theo công nghệ lộ thiên dẫn tới sạt lở đất
đá làm bồi lấp lòng hồ
Công ty cổ phần Đầu tư thương mại và Dịch vụ - TKV đang có hoạt động
khai thác than cách khu vực hồ Nội Hoàng khoảng 200m. Mặc dù công ty
đã có báo cáo đánh giá tác động môi trường song chưa thực hiện đúng
cam kết bảo vệ môi trường như: Không áp dụng các biện pháp thu gom,
xử lý nước thải mà đổ trực tiếp ra hồ Cầu Cuốn.
- 19 -
c.Xuất khẩu than thấp
Ông Dương Văn Hòa, Phó Tổng Giám đốc TKV cho hay, hiện than trong
nước sản xuất đã được cơ cấu chặt chẽ cho sản xuất, xuất khẩu và tiêu
dùng (17% cho sản xuất xi măng; 50% cho sản xuất điện; 8% cho dự
trữ…), tuy nhiên, lượng than xấu vẫn còn khoảng 6 triệu tấn. "Bộ Công
Thương nên cho phép ngành than xuất số than xấu này đi để giải phóng
kho, thu ngoại tệ và tăng mục tiêu khai thác năm 2011. Nếu không xuất
khẩu, lượng than tồn kho cộng với 33 triệu tấn sản xuất mới sẽ đủ chỉ tiêu
năm 2011. Tuy nhiên nếu làm vậy, ngành than sẽ lỗ 5.800 tỉ đồng, 30.000
công nhân sẽ “ít việc” và không có thu nhập
Về giá than và lợi nhuận sản xuất, nếu cứ theo lộ trình tăng giá áp với lộ
trình cắt giảm xuất khẩu than thì đến khi giá than theo giá thị trường,
chúng ta đã hết than cho xuất khẩu. Hiện giá than bán cho các đơn vị
trong nước là 27 USD/tấn, trong khi xuất khẩu là 81,5 USD/tấn. Trong
khi mỗi năm TKV cần 39.000 tỉ đồng đầu tư cho sản xuất, với Cơ cấu bán
than và giá như hiện nay, ngành than càng làm càng lỗ. Thời gian qua báo
chí hồ hởi với thành tích xuất khẩu 2 triệu tấn clinker của ngành xi măng,
Tuy nhiên giá xuất quá rẻ. Nếu trước đây ta nhập clinker thì nay Trung
Quốc lại nhập clinker và cả xi măng của Việt Nam do giá than, xi măng,
clinker của Việt Nam đều rẻ hơn Trung Quốc nhiều lần (vì được trợ giá).
Giá than cũng chính là lí do tại sao TKV không muốn nhận các dự án sản
xuất điện chạy than…
III.Quan điểm phát triển ngành than trong tương lai
1. Quan điểm phát triển
a) Phát triển ngành than trên cơ sở khai thác, chế biến, sử dụng có hiệu
quả và tiết kiệm nguồn tài nguyên than trong nước; đóng góp tích cực vào
việc bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và đáp ứng tối đa nhu cầu than
phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; bảo đảm việc
xuất, nhập khẩu hợp lý theo hướng giảm dần xuất khẩu thông qua biện
pháp quản lý bằng kế hoạch và các biện pháp điều tiết khác phù hợp với
cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước và các cam kết quốc tế của
Việt Nam.
b) Phát triển ngành than bền vững, hiệu quả theo hướng đồng bộ, phù hợp
với sự phát triển chung của các ngành kinh tế khác. Phát huy cao độ nội
lực (vốn, khả năng thiết kế, chế tạo thiết bị trong nước v.v…) kết hợp mở
rộng hợp tác quốc tế, trước hết trong lĩnh vực nghiên cứu, triển khai, ứng
dụng công nghệ tiến bộ trong thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng
than; đầu tư thoả đáng cho công tác bảo vệ môi trường, an toàn lao động,
quản trị tài nguyên, quản trị rủi ro trong khai thác than.
- 20 -
c) Đẩy mạnh các hoạt động điều tra, thăm dò, đánh giá trữ lượng than
nhằm chuẩn bị cơ sở tài nguyên vững chắc cho sự phát triển ổn định, lâu
dài của ngành; kết hợp đẩy mạnh hoạt động đầu tư ra nước ngoài trong
lĩnh vực thăm dò, khai thác để bổ sung nguồn than cho nhu cầu trong
nước.
d) Sớm hình thành thị trường than cạnh tranh, hội nhập với khu vực và
thế giới, đa dạng hoá phương thức đầu tư và kinh doanh trong ngành than.
e) Phát triển ngành than gắn liền với bảo vệ, cải thiện môi trường, cảnh
quan vùng than; đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã
hội và củng cố an ninh, quốc phòng trên địa bàn, đặc biệt là vùng than
Quảng Ninh; đảm bảo an toàn trong sản xuất.
2.Chiến lược phát triển
Phát triển ngành than Việt Nam trở thành ngành công nghiệp phát triển,
có sức cạnh tranh cao, có trình độ công nghệ tiên tiến so với khu vực ở tất
cả các khâu thăm dò, khai thác, sàng tuyển, chế biến, sử dụng than, đủ
khả năng đáp ứng về cơ bản nhu cầu trong nước và bảo đảm an ninh năng
lượng quốc gia.
3.Mục tiêu phát triển
a) Về thăm dò than: phấn đấu đến năm 2010 thăm dò, đánh giá xong phần
tài nguyên nằm dưới mức - 300 m của bể than Đông Bắc, thăm dò tỷ mỉ
một phần tài nguyên của bể than đồng bằng sông Hồng; đến năm 2015
thăm dò, đánh giá xong phần tài nguyên của bể than đồng bằng sông
Hồng. Đẩy mạnh công tác thăm dò gia tăng trữ lượng than xác minh và
nâng cấp trữ lượng hiện có để bảo đảm đủ trữ lượng than tin cậy huy
động vào khai thác trong giai đoạn 2008 - 2025.
b) Về khai thác than: bể than Đông Bắc và các mỏ than khác (ngoài bể
than đồng bằng sông Hồng) phấn đấu đạt sản lượng than sạch khoảng 48 -
50 triệu tấn vào năm 2010; 60 - 65 triệu tấn vào năm 2015; 70 - 75 triệu
tấn vào năm 2020 và trên 80 triệu tấn vào năm 2025. Bể than đồng bằng
sông Hồng trong giai đoạn đến năm 2010, đầu tư thử nghiệm một số dự
án với công nghệ khai thác truyền thống bằng phương pháp hầm lò và
công nghệ khí hoá than, than hoá lỏng để làm căn cứ cho việc đầu tư phát
triển sau năm 2010.
c) Về sàng tuyển và chế biến than: phấn đấu đến năm 2015 phát triển chế
biến than theo hướng đa dạng hóa sản phẩm (nhiên liệu đốt trực tiếp, than
dùng cho luyện kim, khí hóa than, nhiên liệu lỏng từ than, nguyên liệu
cho công nghiệp hoá chất v.v…).
d) Về bảo vệ môi trường: phấn đấu đến năm 2010 cơ bản ngăn chặn được
việc gây ô nhiễm môi trường và ô nhiễm các nguồn nước; đến năm 2015
cải thiện cơ bản các chỉ tiêu chính về môi trường tại các khu vực nhạy
cảm (đô thị, khu dân cư, điểm du lịch v.v…), các mỏ phải đáp ứng tiêu
- 21 -
chuẩn về môi trường; đến năm 2020 đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn môi
trường trên toàn địa bàn vùng mỏ.
e) Về thị trường than: chuyển mạnh hoạt động ngành than theo cơ chế thị
trường hội nhập với thị trường khu vực và quốc tế có sự điều tiết của Nhà
nước.
4.Định hướng phát triển
a) Về công tác thăm dò, khai thác than ở trong nước:
- Tiếp tục đẩy mạnh việc đổi mới công nghệ trong công tác thăm dò, khai
thác với phương châm tập trung, đồng bộ. Đẩy mạnh công tác thăm dò
gia tăng trữ lượng than xác minh và nâng cấp trữ lượng than hiện có; đối
với than khu vực thềm lục địa cần sử dụng triệt để các tài liệu địa chất
trong quá trình tìm kiếm, thăm dò dầu khí để tổng hợp, đánh giá sơ bộ
tiềm năng than và lập kế hoạch cho các bước tiếp theo. Việc cấp phép
thăm dò, tổ chức khai thác theo đúng quy định của Luật Khoáng sản;
- Thực hiện công tác đầu tư cho thăm dò, khai thác, chế biến và kinh
doanh than theo quy hoạch. Chấm dứt tình trạng khai thác, chế biến, kinh
doanh than trái pháp luật;
- Khuyến khích các địa phương có các điểm than trữ lượng nhỏ đầu tư
thăm dò, khai thác để phục vụ cho nhu cầu tại chỗ; chú trọng công tác
thăm dò, khai thác than bùn để làm nhiên liệu và phân bón.
b) Về công tác thăm dò, khai thác than ở nước ngoài
Tăng cường đầu tư cho công tác thăm dò, khai thác than ở nước ngoài;
lựa chọn các khu vực có tiềm năng trữ lượng và điều kiện khai thác thuận
lợi ở các nước bạn Lào, Campuchia, châu Phi v.v… để thăm dò, khai thác
và nhập khẩu than về Việt Nam hoặc xây dựng tại chỗ các tổ hợp Than -
Điện, Than - Xi măng v.v theo hình thức tự đầu tư hoặc hợp tác đầu tư
với các công ty địa phương, công ty nước ngoài khác phù hợp với quy
định của nước sở tại.
c) Về công nghệ khai thác than
- Khai thác than bằng phương pháp hầm lò:
+ Quy hoạch, thiết kế xây dựng mới, cải tạo mở rộng các mỏ hiện có theo
hướng tập trung, công suất lớn với dây chuyền công nghệ đồng bộ và
hiện đại; tối ưu hóa sản lượng để đảm bảo khai thác ổn định lâu dài;
+ Sử dụng loại vật liệu mới, vì chống thuỷ lực thay thế cho vì chống gỗ
và kim loại; vì neo, vì neo kết hợp phun bê tông, bê tông phun v.v để
chống giữ và bảo vệ các đường lò trong điều kiện địa chất mỏ cho phép;
+ Tiếp tục hoàn thiện quy trình công nghệ khai thác cơ giới hóa đối với
vỉa dốc thoải. Nghiên cứu lựa chọn công nghệ thích hợp để nâng cao hiệu
quả khai thác đối với các vỉa dày dốc nghiêng và dốc đứng; nghiên cứu
- 22 -
áp dụng công nghệ khai thác hợp lý đối với phần trữ lượng than dưới mức
-300 m của bể than Quảng Ninh, bể than đồng bằng sông Hồng.
- Khai thác than bằng phương pháp lộ thiên:
+ Phát triển mở rộng các mỏ lộ thiên hiện có theo hướng nâng cao hệ số
bóc giới hạn; nâng cao tối đa năng lực khai thác phù hợp với quy hoạch
đổ thải, vận tải, thoát nước và bảo vệ cảnh quan môi trường;
+ Đổi mới đồng bộ và hiện đại hóa thiết bị dây chuyền khai thác theo
hướng đưa vào sử dụng các thiết bị cơ động có công suất lớn, phù hợp với
điều kiện và quy mô của từng mỏ;
+ Tối ưu hóa các chỉ tiêu thông số kỹ thuật của hệ thống khai thác đang
áp dụng; nghiên cứu ứng dụng hệ thống khai thác chia lớp đứng, công
nghệ khai thác chọn lọc và khai thác vỉa mỏng; công nghệ đổ thải bãi thải
tạm và bãi thải trong.
Đối với bất cứ công nghệ nào cũng cần phải áp dụng các giải pháp kỹ
thuật và quản lý tiến bộ nhất để giảm thiểu tỷ lệ tổn thất trong khai thác,
giảm tiêu hao năng lượng.
d) Về sàng tuyển và chế biến than
Đầu tư đổi mới công nghệ để nâng cao hiệu quả các nhà máy tuyển hiện
có; xây dựng thêm các nhà máy tuyển mới với công nghệ hiện đại để đáp
ứng tối đa và ổn định cho nhu cầu thị trường trong nước, nâng cao giá trị
sử dụng tài nguyên than và tăng cường bảo vệ môi trường. Đẩy mạnh
nghiên cứu, ứng dụng công nghệ chế biến than, bao gồm: chế biến than
dùng cho luyện kim, khí hoá than, than hóa dầu v.v… nhằm đa dạng hoá
sản phẩm từ than.
e) Về phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ ngành than:
- Thực hiện việc phân luồng vận chuyển than theo các khu vực thông qua
việc gắn các mỏ, các vùng than với các hộ tiêu thụ lớn trong khu vực phù
hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển đô thị
và phát triển cơ sở hạ tầng các khu vực có hoạt động khai thác than;
- Phát huy tối đa năng lực của hệ thống vận tải hiện có; tăng cường các
hình thức vận tải bằng đường sắt, băng tải hoặc liên hợp ôtô - băng tải;
giảm tối đa hình thức vận tải bằng ôtô để giảm thiểu ảnh hưởng xấu đến
môi trường xung quanh;
- Cải tạo, xây dựng mới các cụm cảng tập trung có quy mô, công suất lớn
có thiết bị rót hiện đại để từng bước xoá bỏ dần các bến rót than có quy
mô nhỏ lẻ, công nghệ lạc hậu; mở rộng bến cảng, nạo vét luồng lạch để
tăng cường khả năng rót than của các cảng chính.
f) Về công tác an toàn và bảo vệ môi trường:
- Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục phổ biến kiến thức về an
toàn lao động và bảo vệ môi trường đến mọi cán bộ, công nhân viên;
- 23 -
- Tranh thủ các nguồn vốn trong, ngoài nước, các tổ chức quốc tế, các
nguồn vốn tài trợ khác dành cho môi trường; kết hợp với chính quyền địa
phương nhanh chóng khắc phục những tồn tại ô nhiễm môi trường do
khai thác than nhiều năm để lại, đặc biệt là môi trường, cảnh quan vịnh
Hạ Long;
- Xây dựng kế hoạch và lộ trình dài hạn với các giải pháp đồng bộ nhằm
khắc phục và từng bước giải quyết tốt các vấn đề về môi trường trong
hoạt động khai thác than, đáp ứng tiêu chuẩn môi trường của Việt Nam,
khu vực và thế giới;
- Kiểm soát chặt chẽ quá trình thực hiện quy trình, tiêu chuẩn kỹ thuật an
toàn và môi trường trong thăm dò, khai thác, vận chuyển, chế biến và sử
dụng than. Trong quá trình triển khai các dự án cụ thể, chủ đầu tư phải
lập báo cáo đánh giá tác động môi trường, trình duyệt theo quy định hiện
hành;
- Chú trọng đầu tư trang thiết bị công nghệ hiện đại, mức độ tự động hóa
cao nhằm đề phòng và loại trừ các sự cố mỏ. Hiện đại hóa và quân sự hóa
Trung tâm cấp cứu mỏ chuyên nghiệp, trang bị đầy đủ các trang thiết bị
cấp cứu cá nhân cho công nhân, đặc biệt là công nhân hầm lò để hạn chế
đến mức thấp nhất tai nạn lao động.
g) Về sử dụng than:
- Khuyến khích đầu tư và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nghiên cứu, ứng
dụng công nghệ tiên tiến chế biến và sử dụng than nhằm nâng cao giá trị
sử dụng than, tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường, như: công nghệ
sử dụng than sạch, huyền phù than nước, chế biến than dùng cho luyện
kim, công nghệ khí hóa than, than hóa dầu v.v ;
- Ưu tiên phát triển các dự án có công nghệ sử dụng than tiết kiệm, hiệu
quả; các dự án sử dụng than cục, cám chất lượng cao và than có chất
lượng thấp.
h) Về giá than
Giá than cần được xác định phù hợp với cơ chế thị trường để hội nhập với
thị trường khu vực và thế giới; Nhà nước điều tiết giá than thông qua
chính sách thuế và các công cụ quản lý khác.
KÊT LUẬN
Qua những phân tích về sản lượng và nhu cầu than trên Thế giới
cũng như những thông kê tóm tắt quá trình xuất khẩu than của Việt Nam
trong một vài năm trở lại đây,ta có thể thấy,ngành than Việt Nam đã đạt
được những thành quả nhất định. Thể hiện ở kim ngạch xuất khẩu liên tục
- 24 -
tăng qua các năm, đáp ứng được nhu cầu trong nước và xuất khẩu.Sau khi
gia nhập WTO ngành than nước ta lại càng có được nhiều cơ hội mở rộng
thêm thị trường,nâng cao khả năng cạnh tranh. Đặc biệt trong giai đoạn
này, khi mà Trung Quốc đang trên đà phát triển mạnh mẽ, các nước nhỏ
bước vào giai đoạn công nghiệp hóa và nhu cầu tái thiết của Nhật Bản sau
thảm họa động đất vừa qua. Do đó chúng ta cần phải biết nắm bắt những
cơ hội, vạch ra được chiến lược phát triển lâu dài,bền vững cho ngành.
Kết cấu đề tài
I.Tổng quan về ngành than
.Khái niệm về than
.Phân loại than
.Ứng dụng của các loại than
.Phân bố than trên Thế giới
.Sản lượng khai thác than trên Thế giới
.Trữ lượng và phân bố than ở Việt Nam
II.Tình hình khai thác than hiện nay
- 25 -
1.Bối cảnh Thế giới : .Khai thác than
. Than Thương mại
. Giá than
2.Tình hình xuất khẩu than ở Việt Nam
.Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam
. Thị trường xuất khẩu than chính của Việt Nam
.Kim ngạch xuất khẩu than của Việt Nam
3.Những khó khăn, bất cập trong ngành khai thác than của Việt Nam
. An toàn lao động
.Ô nhiễm môi trường
.Xuất khẩu than thấp
III.Quan điểm phát triển ngành than trong tương lai
1.Quan điểm phát triển
2.Chiến lược phát triển
3.Mục tiêu phát triển
4.Định hướng phát triển
Các tài liệu tham khảo
_Than và phân loại than ( Wikipedia)
_Phân bố và trữ lượng than trên Thế giới ( BHP Billiton)
_Tình hình xuất khẩu than của Việt Nam, kim ngạch xuất than của
Việt Nam ( Số liệu của Tổng cục thống kê )
_Quan điểm phát triển ngành than trong tương lai ( Tham khảo tài
liệu của Viện chiến lược, chính sách tài nguyên và môi trường)