Tải bản đầy đủ (.doc) (127 trang)

Hệ thống điều khiển giám sát kho chứa LPG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.19 MB, 127 trang )

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN HỆ THỐNG ĐIỀU KHIỂN GIÁM SÁT
1.1. TÍNH THỜI SỰ, KHOA HỌC, THỰC TIỄN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Lĩnh vực sản xuất là cơ sở, nền tảng vững chắc trong nền kinh tế. Một
quốc gia có nhiều ngành sản xuất vững mạnh sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển
nhanh và ổn định của nền kinh tế. Chính vì vậy, các hệ thống điều khiển phải được
ứng dụng hầu hết trong các ngành sản xuất, đặc biệt là những ngành có qui mô
lớn, giữ vai trò then chốt trong nền kinh tế như: điện lực, dầu khí, ngành chế biến
thực phẩm vv Tất cả các ngành này đều đã ứng dụng các hệ thống điều khiển
hiện đại trong tất cả cỏc khõu của quá trình sản xuất. Các hệ thống điều khiển,
công nghệ hiện đại sẽ góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, hiệu quả trong sản
xuất, tăng độ tin cậy, giảm bớt chi phí và sức lao động, tăng khả năng cạnh tranh
của các doanh nghiệp trên thị trường. Bên cạnh đó, thành tựu khoa học những năm
qua đó cú những bước phát vượt bậc. Công nghệ số đã dần thay thế cho công nghệ
tương tự. Hầu hết các tập đoàn hùng mạnh về tự động hóa như siemens, ABB, AB,
Omron, Emerson vv đã cho ra nhiều sản phẩm trên cơ sở kĩ thuật số. Các sản
phẩm này đều có tính năng vượt trội so với các sản phẩm cũ. Các thiết bị đo được
tích hợp với bộ vi xử lý vừa thực hiện chức năng đo và vừa xử lý tại chỗ, tự tính
toán và chuẩn đoán lỗi và vừa có chức năng truyền thông tin. Các bộ điều khiển số
ngày càng hoàn thiện, có thể thực hiện nhiều chức năng, số lượng các đầu vào ra
ngày càng lớn, độ chính xác và hoạt động tin cậy cao. Hệ thống mạng truyền
thông liên kết các thiết bị ngày càng hoàn thiện, kĩ thuật truyền ứng dụng kĩ thuật
số sẽ làm giảm sự suy hao tín hiệu, giảm sự tác động của nhiễu và làm tăng tốc độ
và độ tin cậy trong giao tiếp. Đặc biệt hầu hết các thiết bị có cấu trúc mở chính vì
vậy dễ dàng tích hợp với nhau theo một chuẩn chung giúp cho hệ thống điều khiển
mang tính mềm dẻo và dễ ràng mở rộng. Hiện nay, máy tính là công cụ rất phổ
biến trên thị trường, các hệ thống điều khiển hiện đại đều phải sử dụng máy tính.
Mỏy tính không chỉ thực hiện chức năng giám sát và thu thập dữ liệu mà còn tích
hợp thêm chức năng điều khiển. Thuật ngữ “computer based control” được sử
- 1 -
dụng phổ biến. Kết hợp với máy tính là sự phát triển mạnh của ngành công nghệ
thông tin, hiện tại các hệ thống điều khiển hiện đại,qui mô lớn không thể tách rời


với công nghệ thông tin. Đặc biệt là sự bùng nổ của internet, Các hệ thống điều
khiển không chỉ ứng dụng trong phạm vi của nhà máy mà còn mở rộng trên phạm
vi cỏc vựng thậm trí là các quốc gia. Trong tương lai, nền sản xuất ngày càng mở
rộng kết hợp sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật các hệ thống điều khiển
giám sát ngày càng thay đổi với qui mô lớn hơn hiện đại hơn và ngày càng ứng
dụng sâu rộng vào trong quá trình sản xuất, là yếu tố quan trọng góp phần thúc
đẩy sự phát triển của các ngành sản xuất.
Trên thế giới, đặc biệt các nước phát triển các hệ thống tự động hóa hiện
đại đã được áp dụng sâu rộng vào trong sản xuất. Kể cả trong những ngành nông
nghiệp mức độ tự động hóa không cao. Chính vì vậy, các hệ thống này đó nõng
cao được năng suất lao động và chất lượng sản phẩm. Nước ta hiện là nước đang
phát triển tuy đã có sự tiến bộ trong ứng dụng công nghệ hiện đại, tự động hóa vào
trong sản xuất nhưng chưa thực sự cao. Mức độ đầu tư các thiết bị, công nghệ hiện
đại chưa tương xứng với tiềm năng. Hầu hết các ngành then chốt như dầu khí, chế
biến, viễn thông, điện lực đều đã ứng dụng các công nghệ hiện đại. Tuy nhiên các
hệ thống đó thường là đồng bộ, nhập hoàn toàn từ nước ngoài. Đội ngũ kĩ sư tích
hợp hệ thống vừa thiếu và chưa có đủ kinh nghiệm vì vậy chủ yếu là phải thuờ cỏc
chuyên gia nước ngoài với mức chi phí rất là cao. Bên cạnh đó, những ngành sản
xuất nhỏ lẻ, các làng nghề thủ công chủ yếu chưa áp dụng công nghệ tự động hóa.
Họ thường sử dụng nguồn lực con người chính vì vậy năng xuất thấp, chi phí cao.
Việc ứng dụng công nghệ sản xuất hiện đại, thiết bị sản phẩm tự động hóa sẽ giúp
cho các ngành nghề này phát triển nhanh chóng.
Tóm lại, nghiên cứu và ứng dụng hệ thống điều khiển vào trong hệ thống
điều khiển là nhiệm vụ cấp bách và thiết yếu trong điều khiện của nền kinh tế
nước ta hiện nay.
1.2 NHỮNG ỨNG DỤNG CỦA HỆ THỐNG ĐIỀU KHIỂN GIÁM SÁT
- 2 -
Hệ thống điều khiển giám sát được ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực.
- Ngành điện lực: Các trạm phát điện, hệ thống đường dây, các trạm
biến áp được đặt tại ở những vùng xa trung tâm. Tất cả các thông số về điện áp,

tần số, dòng điện, công suất, các trạng thái hoạt động đều được truyền về trung
tâm điều độ quốc gia một cách tức thời và liên tục. Tại đây sẽ thực hiện giám sát,
lưu trữ dữ liệu và đưa ra các mệnh lệnh điều khiển để đảm bảo hệ thống luôn hoạt
động ổn định.
- Các trung tâm khí tượng quốc gia: Các thông số về nhiệt độ, áp suất,
độ ẩm vv Sẽ được truyền từ các vùng cao về trung tâm lưu trữ khí tượng thủy
văn. Tại đây các thông số sẽ được lưu trữ và xử lý.
- Các nhà máy sử lý chất thải, cỏc dõy truyền sản xuất lắp ráp đều có
thể ứng dụng các hệ thống điều khiển giám sát trong các hoạt động sản xuất.
- Trong xây dựng: Hệ thống tích hợp trong tòa nhà thông minh ( BMS)
các thiết bị camera, chống trộm, bỏo chỏy, cửa thông minh, kiểm soát vào ra vv
đều được tích hợp vào hệ thống.
- Các dây chuyền chế biến: Các dây chuyền sản xuất hoạt động tự động
theo công nghệ, chương trình cho trước, các thông số liên quan quá trình sản xuất
được giám sát một cách chặt chẽ.
1.3 MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1.3.1 Mục tiêu đề tài
- Tìm hiểu và nắm vững cơ sở lý thuyết của hệ thống điều khiển giám
sát, phân biệt được các hệ thống SCADA, DCS và hệ thống PLC.
- Tìm hiểu và nắm vững cơ sở lý thuyết mạng truyền thông công
nghiệp, hiểu được bản chất các loại giao thức, phân biệt được các loại mạng với
nhau.
- 3 -
- Xây dựng cấu trúc hệ thống điều khiển giám sát ứng dụng cho đối
tượng là các bồn chứa LPG.
- Nắm vững và làm chủ các phần mềm lập trình điều khiển ( Step7),
phần mềm giám sát ( WINCC).
- Hoàn thành viết chương trình điều khiển theo bài toán công nghệ và
chương trình mô phỏng bằng phần mềm giám sát ( WinCC).
- Nắm vững cơ sở lý thuyết và bản chất mạng internet và các ứng dụng

của mạng internet trong cuộc sống và trong sản xuất.
- Thực hiện mô phỏng hệ thống điều khiển giám sát kho chứa LPG qua
mô hình mạng internet bằng phần mềm giám sát qua mạng Internet ( WinCC
webnavigator server, client ).
1.3.2 Nội dung đề tài
Trình bày về tính cấp thiết, tính khoa học và thực tiễn của hệ thống điều
khiển giám sát trong quá trình sản xuất. Phân loại các hệ thống điều khiển theo cấu
trúc, chức năng.
Trình bày về cơ sở lý thuyết truyền thông gồm có các chế độ truyền
thông, cấu trúc mạng truyền thông, các chuẩn kết nối, các giao thức mạng truyền
thông và các phương pháp truy cập bus. Từ cơ sở lý thuyết sẽ tìm hiểu các thành
phần mạng truyền thông công nghiệp Simatic của siemens.
Trình bày về hệ thống điều khiển giám sát kho cảng LPG. Trong phần
này sẽ tìm hiểu tổng quan về LPG bao gồm cấu trúc thành phần, đặc tính hóa lý.
Tiếp theo sẽ phân loại cấu trúc hệ thống tự động hóa kho chứa LPG, đưa ra các
yêu cầu công nghệ để xây dựng hệ thống điều khiển, đưa ra các qui trình hoạt
động của cả tổng kho. Tiếp theo đó, đề tài sẽ giới thiệu một số hệ thống điều khiển
giám sát tổng kho LPG của cỏc hóng nổi tiếng Varec, Emerson đưa ra những đánh
giá và phân tích lựa chọn giải pháp.
- 4 -
Sau khi đã lựa chọn giải pháp tích hợp hệ thống của siemens, đề tài sẽ đi
sâu xây dựng các thành phần của hệ thống, giới thiệu và lựa chọn thiết bị trong hệ
thống. Và sau đó sẽ dựng cỏc phần mềm của siemens để thiết lập cấu hình hệ
thống, viết chương trình điều khiển quá trình vận hành, và thiết lập giao diện giám
sát kho cảng LPG.
Cuối cùng đề tài sẽ phát triển hệ thống thông qua thiết lập hệ thống điều
khiển từ xa, điều khiển qua mạng internet. Trên cơ sở đó sẽ đi tìm hiểu về lý
thuyết điều khiển qua mạng sử dụng phần mềm điều khiển giám sát qua mạng để
thiết lập giao diện màn hình điều khiển giám sát qua mạng internet.
1.3.3 Bố cục của luận văn

Luận văn gồm 5 chương, mỗi chương sẽ chia thành nhiều mục lớn, mỗi
mục lớn lại được chia thành nhiều mục nhỏ.
Các chương trình bày trong luận văn bao gồm:
Chương 1: Tổng quan hệ thống điều khiển giám sát
Chương 2: Cơ sở lý thuyết mạng truyền thông
Chương 3: Hệ thống điều khiển giám sát kho chứa LPG
Chương 4: Xây dựng thiết lập hệ thống điều khiển giám sát kho chứa LPG
Chương 5: Thiết lập xây dựng cấu trúc hệ thống điều khiển giám sát qua
mạng internet.
1.4 MÔ HÌNH PHÂN CẤP VÀ CẤU TRÚC HỆ THỐNG ĐIỀU KHIỂN
1.4.1 Lịch sử phát triển của hệ thống điều khiển
Từ những thời kì sơ khai nhất trong sự phát triển của loài người, người ta
đã có thể tìm thấy những khái niệm về điều khiển, cả về tự nhiên lẫn kĩ thuật. Việc
điều khiển các hoạt động, các sự vật, các hiện tượng là một nhu cầu thực tế và bắt
- 5 -
buộc trong cuộc sống. Trước đây con người luôn có ý tưởng điều khiển các sự vật
hiện tượng xung quanh mình. Nhưng điều khiển sử dụng tín hiệu phản hồi, một
trong những nền tảng cơ bản trong điều khiển, để điều khiển được hệ thống ra đời
vào khoảng 300 năm trước công nguyên. Ứng dụng đầu tiên là cơ cấu phao điều
chỉnh tại Hi Lạp, sau đó là đồng hồ nước của Ktesibios, thiết bị đèn dầu của Philon
khoảng 250 năm trước công nguyên để giữ mức nguyên liệu không đổi.
Alexandria đã cho ra đời quyển sách về hơi khí- Pneumatica về cơ cấu
điều chỉnh mức nước sử dụng máy điều chỉnh phao vào thế kỉ thứ nhất. Tại châu
âu, Cornelis Drebbel đã đưa ra bộ điều chỉnh nhiệt độ, được coi như là một trong
những bộ điều chỉnh phản hồi đầu tiên. Tiếp theo là sự ra đời điều chỉnh áp suất
nồi hơi vào năm 1861 của Dennis Papin. Vào năm 1769 Jame Watt đưa ra bộ điều
khiển phản hồi đầu tiên trong công nghiệp đó là máy điều tốc, để điều khiển tốc độ
của động cơ hơi nước. Nó hoạt động trên nguyên tắc quả cầu li tâm được nối với
trục ra để điều khiển độ mở van cung cấp hơi nước cho động cơ. Khi tốc độ tăng
làm cho quả cầu quay nhanh làm đóng van hơi nước làm cho tốc độ giảm.

Năm 1765, I Polzunow đưa ra máy điều chỉnh mức nước bằng cơ cấu
phao. Trong những năm 1768 sự phát triển của hệ thống điều khiển vẫn nằm trong
giai đoạn khởi đầu do sự không ổn định của hệ thống.
Trong chiến tranh thế giới thứ hai, lý thuyết điều khiển được phát triển ở
Mĩ, các nước tây âu khác với nước Nga và Đông âu sử dụng tín phản hồi dựa trên
các hiện tượng điện tín và dựa trên tín hiệu khuyếch đại điện tử bởi Bode, Nyquist,
Black. Trong thời kì này do đòi hỏi thiết kế và chế tạo các hệ thống trong máy
bay, hệ thống chỉnh súng, hệ thống quân sự dẫn đến sự phát triển mạnh mẽ của hệ
thống phản hồi. Từ những năm 40-80 lý thuyết điều khiển tự động phát triển mạnh
mẽ từ kĩ thuật miền tần số, sử dụng hàm Laplace đến các phương pháp quỹ đạo
pha, các máy tính điều khiển số, tính theo phương pháp trên miền thời gian của
Liapunow, Minosky.
- 6 -
Lý thuyết điều khiển tối ưu ngày nay được phát triển bởi Pontryagin và
Bellman cùng với sự ra đời của các hệ bền vững, các lý thuyết điều khiển hiện đại
như điều khiển thích nghi, điều khiển mờ, điều khiển thông minh.
Ngày nay các hệ thống điều khiển phát triển cả về quy mô, phức tạp mức
độ tự động hoá cao, từ cấu trúc tập trung đến cấu trúc phân tán có tính phức tạp
cao đáp ứng được nhu cầu thực tế.
Sự phát triển của kĩ thuật vi bán dẫn, vi điều khiển, máy tính, trên nền tảng
kĩ thuật số. Hệ thống điều khiển đã phát triển nhảy vọt. Các thiết bị điều khiển, đo,
cơ cấu chấp hành thông minh trên nền tảng vi điều khiển có thể đáp ứng mọi thuật
toán điều khiển hiện đại và phức tạp, độ tin cậy cao hơn, đa chức năng hơn, nhỏ
gọn hơn. Các thiết bị với độ mở, linh hoạt cao có thể dễ dàng tích hợp với nhau
tạo thành các hệ thống lớn như SCADA, DCS, đáp ứng mọi yêu cầu về công
nghệ với mức độ tự động hoá cao nhất. Với sự bùng nổ mạnh mẽ của mạng
Internet, hệ thống điều khiển đã phát triển mạnh mẽ về qui mô không chỉ hoạt
động trên phạm vi nhà máy mà còn hoạt động trên cả phạm vi toàn cầu. Nhờ mạng
Internet mà tại bất kì vị trí nào đều có thể vận hành giám sát toàn bộ nhà máy. Đó
là xu thế phát triển hiện tại và trong tương lai.

1.4.2 Mô hình phân cấp chức năng
- 7 -
quản

Điều hành
Điều khiển
Chấp hành
management level
cell level
Field level
actuator-sensor
level
Hình 1.1: Phân cấp chức năng hệ thống

Một hệ thống tự động hoá quá trình công nghệ nói chung thường được
cấu trúc theo mô hình phân cấp hình chóp. Theo mô hình này, các chức năng được
phân thành nhiều cấp khác nhau, từ dưới lên trên . Càng ở những cấp dưới thỡ cỏc
chức năng càng mang tính chất cơ bản hơn, đòi hỏi yêu cầu cao hơn về độ nhanh
nhạy , thời gian phản ứng . Một chức năng ở cấp trên được thực hiện dựa trên các
chức năng ở cấp dưới, có lượng thông tin cần trao đổi và xử lý lớn hơn nhiốu .
Thụng thường , người ta chỉ coi 3 cấp dưới thuộc phạm vi của một hệ thống điều
khiển giám sát.
Cấp chấp hành : Chức năng chính của cấp chấp hành là đo lường , dẫn
động và chuyển đổi tín hiệu trong trường hợp cần thiết . Thực tế đa số các thiết bị
cảm biến hay chấp hành cũng có phần điều khiển riêng cho việc thực hiện đo
lường truyền động được chính xác và nhanh nhạy . Các thiết bị thông minh (có bộ
vi xử lý riêng ) cũng có thể đảm nhận việc xử lý và chuẩn bị thông tin trước khi
đưa lên cấp điều khiển.
Cấp điều khiển : Nhiệm vụ chính của cấp điều khiển là nhận thông tin
từ các bộ cảm biến , tự động xử lý các thông tin đó theo chương trình của con

người đã cài đặt sẵn và truyền đạt lại kết quả xuống các bộ chấp hành. Những
thông tin và kết quả của việc điều khiển sẽ được chuyển lên cấp điều hành . ở cấp
điều khiển thường đặt các bộ điều khiển PID, các controllers, PLC,
transmitter/RTU số thông minh
Cấp điều khiển và cấp chấp hành cũng được gọi chung là cấp trường
(field level) chớnh vỡ cỏc bộ điều khiển , cảm biến và chấp hành được cài đặt trực
tiếp tại hiện trường , gần kề với hệ thống kỹ thuật .
- 8 -
Cấp điều hành : Khi đa số các chức năng như đo lường , điều khiển ,
điều chỉnh bảo toàn hệ thống được các cấp cơ sở thực hiện thì nhiệm vụ của cấp
điều hành là hỗ trợ người sử dụng trong việc cài đặt ứng dụng, thao tác , theo dõi ,
giám sát , vận hành và xử lý những tình huống bất thường . Khác với cấp dưới ,
việc thực hiện các chức năng ở cấp điều hành thường không đòi hỏi phương tiện
,thiết bị phần cứng đặc biệt ngoài cỏc mỏytớnh thông thường (máy tính cá nhân ,
máy trạm, máy chủ ,terminal )cú giao diện mạng gọi chung là máy tính điều
hành.
Việc phân cấp chức năng như trên sẽ rất tiện lợi khi thiết kế hệ thống và
lựa chọn thiết bị . Theo đú cỏc nhà sản xuất cũng đưa ra kiến trúc các tầng mạng
thích hợp với đặc thù trao đổi thông tin của từng cấp.
1.4.3 Cấu trúc của hệ thống điều khiển
1.4.3.1 Cấu trúc tập chung


Hình 1.2: Cấu trúc điều khiển tập chung
- 9 -
I/0 input/out(vµo /ra)
A actuator(chÊp hµnh)
S sensor(c¶m biÕn)
M¸y tÝnh §K
I/O

A S
Ph©n ®o¹n
qu¸ tr×nh 1
A S
Ph©n ®o¹n
qu¸ tr×nh 2
A S
Ph©n ®o¹n
qu¸ tr×nh 3
Ranh giíi phßng
®iÒu khiÓn
Tất cả các thiết bị được kết nối với một trung tõm duy nhất. Trung tõm này
sẽ là bộ nóo duy nhất thực hiện mọi quyền quyết định, phõn phối và chỉ huy. Hệ
thống có cấu trúc tập chung có nhược điểm rất lớn đó là số lượng dõy kết nối lớn.
Điều khiển tập chung làm cho bộ điều khiển phải có bộ nhớ lớn, tốc độ cao, xử lý
tốt. Vì điều khiển tập chung mà khi bộ nóo gặp sự cố thì hệ thống sẽ ngưng hoạt
động hoàn toàn. Hệ thống có cấu trúc tập chung chỉ phù hợp đối với các hệ thống
nhỏ, số lượng đối tượng I/O ít và quá trình công nghệ không quá phức tạp.
1.4.3.2 Cấu trúc phân quyền.
Cấu trúc này khắc phục sự phụ thuộc vào một máy tính trung tâm và vì thế
hệ thống trở lên linh hoạt hơn . Mỗi quá trình con được điều khiển bởi một máy
tính riờng cựng được đặt tại phòng điều khiển . Do các quá trình con có liên quan
hệ quả , nên để điều khiển quá trình tổng hợp cần có sự hợp tác giữa chúng với
nhau.Trong phần lớn các trường hợp , một máy tính trung tâm được dùng để điều
khiển cao cấp cũng như để phối hợp sự hoạt động của các máy phân quyền .Tuy
nhiên vẫn tồn tại nhược điểm lớn nhất là dùng số lượng lớn dây nối . Các giải
pháp khắc phục nhược điểm đã dẫn đến những hệ thống điều khiển có cấu trúc
phân tán hay còn gọi là điều khiển phân tán.
- 10 -
Máy tính phối hợp

Máy tính phối hợp
bus xử lý
ranh giới
phòng ĐK
A S
Phân đoạn
quá trình 1
Phân đoạn
quá trình 2
Phân đoạn
quá trình 3
A S A S
Máy tính ĐK 1
I/O
Máy tính ĐK 2
I/O
Máy tính ĐK 3
I/O
Hình 1.3: Cấu trúc điều khiển phân quyền
1.4.3.3 Hệ thống có cấu trúc phõn tỏn
Điểm nổi bật của cấu trúc phõn tán là việc phân bố trí tuệ cũng như chức
năng cả chiều rộng và chiều sõu, kết hợp với sử dụng mạng truyền thông thay thế
cho bảng điện và phương pháp nối dõy cổ điển. Bên trong hệ thống sử dụng các
cụm vào ra tại chỗ và cơ cấu chấp hành có tích hợp công nghệ vi điện tử. Cấu trúc
phõn tán sẽ khắc phục nhược điểm là đi dõy tốn kém. Phõn bố trí tuệ tại từng nơi
sẽ giúp cho hệ thống điều khiển trở lên linh hoạt, không phụ thuộc hoàn toàn vào
một bộ điều khiển nào. Việc tách phõn tán chức năng điều khiển sẽ giúp hệ thống
hoạt động hiệu quả và đưa bài toán phức tạp trở lên đơn giản. Hệ thống phù hợp
với các hệ thống lớn có rất nhiều I/O, quá trình công nghệ phức tạp.
Ta có cấu trúc sơ đồ

- 11 -
Hình 1.4: Cấu trúc điều khiển phân tán
1.4.4 Phân loại các hệ thống điều khiển
1.4.4.1 SCADA :
- Trên cơ sở hệ truyền thông mạnh, tốc độ cao, khoảng cách xa trải trên
diện rộng lớn hàng trăm hoặc hàng ngàn km, cú cỏc lệnh kết nối qua vệ tinh, máy
thu phát vi ba, cáp quang hoặc ISDN
- Vớdụ: cỏc hệ điều độ sản xuất, truyền tải và phân phối điện lực Quốc gia,
các khu vực Miền Bắc, Miền Nam, Miền Trung, Cty điện lực Hà nội, Sài gòn, hệ
khai thác và dẫn khí đồng hành dinh cố
- Thường các hệ này chủ yếu thực hiện chức năng giám sát và thu tập dữ
liệu, ít điều khiển (tuy vẫn cúchức năng ĐK)
1.4.4.2 DCS/OCS/QCS:
- Hệ Đo lường - Điều khiển - Bảo vệ tập trung trong các nhà máy, xí
nghiệp, số điểm công nghệ lên đến vài ngàn điểm.
- Khoảng cách gần, max là 10 km
- 12 -
Tr¹m thao
t¸c(OS)
Tr¹m kü
thuËt(ES)
Tr¹m phôc
vô(SS)
Trung t©m ®iÒu
khiÓn gi¸m s¸t
Bus xö lý
M¸y tÝnh
®iÒu khiÓn
M¸y tÝnh
®iÒu khiÓn

M¸y tÝnh
phèi hîp
Bus tr?
êng
M¸y tÝnh §K
I/O
Trung t©m
®iÒu khiÓn
A S A S A S
I/O
A S
A S A S
- Truyền tin trờn cỏc đường truyền mạng/giao thức công nghiệp
- Có tính thời thực cao cho điều khiển và bảo vệ
- Hệ thống thực hiện điều khiển quá trình công nghệ phức tạp. Các bài
toán điều khiển quá trình. Các hệ DCS thường đi đồng bộ của các hóng. Được ứng
dụng rộng rói trong các nhà máy lọc dầu, xử lý hoá chất, sản xuất giấy.
1.4.4.3 Hệ thống PLC
- Hệ thống ứng dụng trong các nhà máy sản xuất không liên tục. Ví
dụ: Trong các nhà máy lắp ráp ôtô xe máy, đóng gói sản phẩm, sản xuất bánh kẹo.
- Hệ thống có tính thời gian thực rất cao. Thời gian vòng quét bé, đáp
ứng hệ thống nhanh. Số lượng đầu vào ra bé khoảng vài trục đến vài trăm.
- Hệ thống mở, có thể tích hợp nhiều thiết bị của các hóng khác nhau.
Thực hiện giải quyết tối ưu các bài toán logic, tuần tự.
- Phạm vi hoạt động nhỏ phạm vi trong nhà máy, truyền tin qua mạng
truyền thông công nghiệp.
1.4.5 Phân loại mạng truyền thông công nghiệp
1.4.5.1 Bus trường, bus thiết bị
Bus trường là khái niệm chung được dùng trong ngành chế biến để chỉ
các hệ thống bus nối tiếp, sử dụng các thiết bị truyền tin số để nối các thiết bị

thuộc điều khiển (PC, PLC) với nhau và với các thiết bị cấp chấp hành, hay các
thiết bị trường. Các chức năng chính của cấp chấp hành là đo lường truyền động
và chuyển đổi tín hiệu trong trường hợp cần thiết. Các thiết bị có khả năng nối
mạng là vào/ra phân tán, các thiết bị đo lường ( sensor, transductor, transmitter)
hoặc cơ cấu chấp hành có khả năng tích hợp khả năng xử lý truyền thông. Một số
thiết bị bus trường chỉ thích hợp khả năng nối mạng các thiết bị cảm biến, cơ cấu
chấp hành với bộ điều khiển cũng được gọi là cấp chấp hành cảm biến.
- 13 -
Trong công nghệ chế tạo( tự động hoỏ cỏc dây truyền sản xuõt, gia công,
lắp ráp) hoặc ở một số lĩnh vực khác như tự động hoá toà nhà, sản xuất xe hơi,
khái niệm bus thiết bị lại được sử dụng phổ biến. Có thể nói bus thiết bị và bus
trường có chức năng gần tương đương, nhưng do có một số đặc trưng riêng của 2
ngành công nghiệp nên một số tính năng cũng khác nhau. Tuy nhiên sự khác nhau
ngày nay càng trở lên không rõ rệt, phạm vi của hai ngành đều được mở rộng, đen
chéo sang nhau. Trong thực tế người ta dùng chung khái niệm là bus trường. Do
nhiệm vụ của bus trường là truyền dữ liệu quá trình lên cấp điều khiển để xử lý, và
sau đó chuyển quyết định điều khiển xuống cơ cấu chấp hành vì vậy yêu cầu tính
thời gian thực được đặt lên hàng đầu. Thời gian phản ứng tiêu biều nằm trong
phạm vi từ 0,1 tới vài miligiõy. Trong khi đó , yêu cầu lượng thông tin trong một
bức điện chỉ hạn chế trong một vài byte vì vậy tốc độ truyền chỉ cần ở phạm vi
Mbit/s hoặc thấp hơn. Việc trao đổi thông tin mang tính chất định kì, tuần hoàn
bên cạnh tham số hoỏ cỏc tín hiệu cảnh báo mang tính bất thường.
Các hệ thống bus được sử dụng rộng rãi hiện nay là Profibus, ControlNet,
Interbus, Can, WouldFip, P-net, Modbus và gần đây là Foundation Fieldbus,
DeviceNet, As-i…
1.4.5.2 Bus hệ thống, bus điều khiển
Các hệ thống mạng công nghiệp được dùng để kết nối các máy tính điều
khiển và các máy tính cấp trên điều khiển giám sát với nhau được gọi là bus hệ
thống ( hay bus quá trình) Khái niệm sau chỉ được dùng trong lĩnh vực điều khiển
quá trình. Qua bus hệ thống các máy tính điều khiển có thể phối hợp các hoạt

động, cung cấp dữ liệu kĩ thuật cho trạm kĩ thuật, trạm quan sát, cũng như các
mệnh lệnh, các tham số điều khiển từ các trạm phía trên. Thông tin không những
được trao đổi theo chiều dọc mà còn trao đổi theo chiều ngang. Các trạm kĩ thuật,
trạm vận hành, trạm chủ trao đổi dữ liệu qua bus hệ thống. Ngoài ra các máy in,
báo cáo dữ liệu cũng có thể được kết nối qua mạng này.
- 14 -
Đối với bus hệ thống, tuỳ theo lĩnh vực mà đòi hỏi tính năng thời gian thực
có được cài đặt ngặt nghèo hay không. Thời gian phản ứng tiêu biểu nằm trong
khoảng vài trăm miligiõy, trong khi lưu lượng thông tin trao đổi lớn hơn nhiều so
với bus trường. Tốc độ truyền thông tiêu biểu của bus hệ thống nằm trong khoảng
vài trăm kbit/s đến vài Mbit/s. Khi hệ thống được sử dụng chỉ để ghép nối chiều
ngang giữa các máy tính điều khiển, người ta thường dùng khái niệm bus điều
khiển . Vai trò của bus điều khiển là trao đổi dữ liệu giữa các trạm điều khiển
trong hệ thống có cấu trúc phân tán. Bus điều khiển thông thường có tốc độ không
cao nhưng yêu cầu đòi hỏi về thời gian thực thì rất khắt khe.
Do yêu cầu về tốc độ và khả năng kết nối dễ dàng với các máy tính, hầu
hết các bus hệ thống đều dựa trên nền Ethernet, ví dụ Industrial Ethernet, Fieldbus
Foundation, Hight Speed Ethernet.
1.4.5.3 Mạng xí nghiệp
Mạng xí nghiệp thực chất là mạng Lan bình thường, có chức năng kết nối
các máy tính văn phòng thuộc cấp điều hành sản xuất với cấp điều khiển giám sát.
Thông tin được đưa lên bao gồm các trạng thái làm việc của quá trình kĩ thuật, các
số liệu tính toán, thống kê diễn biến quá trình sản xuất và chất lượng sản phẩm.
Thông tin ngược lại là các thông số thiết kế, công thức điều khiển, mệnh lệnh điều
hành. Ngoài ra thông tin cũng được trao đổi mạnh theo chiều ngang giữa các máy
tính cấp điều hành. Ví dụ làm việc theo nhóm, sử dụng tài nguyên chung nối
mạng.
Đối với việc trao đổi dữ liệu với các mạng cấp dưới hệ thống không đòi
hỏi về thời gian thực. Việc trao đổi dữ liệu diễn ra không định kì nhưng dung
lượng truyền lớn tới hàng Mbyte. Mạng dùng phổ biến hiện nay là Ethernet,

Token-ring trên cơ sở các giao thức chuẩn TCP/IP, IPX/SPX.
- 15 -
1.4.5.4 Mạng công ty
Mạng công ty nằm trong mô hình phân cấp hệ thống truyền thông của các
công ty sản xuất trong công nghiệp. Đặc trưng của mạng công ty gắn liền với
mạng viễn thông hoặc mạng máy tính diện rộng nhiều hơn trên phạm vi hình thức
dịch vụ , phương pháp truyền thông và yêu cầu kĩ thuật.Chức năng của mạng công
ty là kết nối các máy tính văn phòng của các xí nghiệp, Cung cấp các dịch vụ
thông tin trao đổi với khác hàng như thư viện thư điện tử, hội thảo từ xa qua hỉnh
ảnh, cung cấp các dịch vụ truy cập internet và thương mại điện tử.
Mạng công ty có vai trò như một đường truyền cao tốc trong hệ thống cơ
sở hạ tầng truyền thông của công ty, vì vậy đòi hỏi tốc độ truyền thông an toàn, tin
cậy đặc biệt cao. Fast Ethernet, FDDI, ATM được áp dụng ở đây trong hiên tại và
trong tương lai.
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT TRUYỀN THÔNG
2.1 CHẾ ĐỘ TRUYỀN TẢI
- 16 -
Chế độ truyền tải được hiểu là phương thức các bit dữ liệu được
chuyển giữa các đối tượng truyền thông , gồm :
- Truyền song song hay nối tiếp.
- Truyền đồng bộ hay không đồng bộ
- Truyền một chiều (simplex) , hai chiều toàn phần (duplex, full-
duplex) hay hai chiều gián đoạn (half- duplex).
- Truyền tải dải cơ sở , truyền tải dải mang và truyền tải dải rộng.
2.1.1 Truyền bit song song và truyền bit nối tiếp
Truyền bit song song:
Phương pháp truyền bit song song được dùng phổ biến trong các
bus nội bộ của máy tính . Tốc độ truyền tải phụ thuộc vào số kênh dẫn hay chính
là độ rộng của một bus song song . Việc nhiều bit được truyền đi đồng thời gây trở
ngại lớn khi khoảng cách giữa các đối tác truyền thông tăng lên vỡ khú đồng bộ

giữa bên thu và bờn phỏt. Chớnh vì vậy , phạm vi ứng dụng của phương pháp
truyền này chỉ hạn chế ở khoảng cách nhỏ , có yêu cầu cao về thời gian và tốc độ
truyền.
Truyền bit nối tiếp:
Với phương pháp này, từng bit được chuyển đi một cách tuần tự
qua một đường truyền duy nhất . Tốc độ bit vì thế bị hạn chế nhưng cách thực hiện
lại đơn giản , độ tin cậy của dữ liệu cao. Tất cả các mạng truyền thông công
nghiệp đều sử dụng phương pháp truyền này.
2.1.2 Truyền đồng bộ và không dồng bộ
Sự phân biệt giữa chế độ truyền đồng bộ và không đồng bộ chỉ liên
quan tới phương thức truyền bit song song .Trong chế độ này , các đối tác truyền
thông làm việc theo cùng một nhịp , tức là với cùng tần số và độ lệch pha cố định .
- 17 -
2.1.3 Truyền một chiều , hai chiều toàn phần và gián đoạn


Hình 2.1: Chế độ truyền tín hiệu
Truyền một chiều
Trong chế độ truyền một chiều , thông tin chỉ được chuyển đi theo
một chiều, một trạm chỉ có thể đóng vai trò hoặc bờn phỏt(transmitter) hoặc bên
nhận thông tin (receiver) trong suốt quá trình giao tiếp. Chế độ truyền này hầu như
không có vai trò đối với hệ SCADA.
Truyền hai chiều gián đoạn
Chế độ truyền 2 chiều gián đoạn cho phép mỗi trạm có thể tham gia
gửi hoặc nhận thông tin nhưng không cùng một lúc. Nhờ vậy thông tin được trao
đổi theo cả hai chiều luân phiên trên cùng một đường truyền vật lý. Một ưu điểm
của chế độ này là không đòi hỏi cấu hình hệ thống phức tạp lắm , trong khi có thể
đạt được tốc độ truyền tương đối cao.
- 18 -
Bé ph¸t Bé thu

10110101
Bé thu ph¸t
Bé thu ph¸t
10110101
Bé thu ph¸t
10110101
Bé thu ph¸t
simplex
half-duplex
duplex
Truyền hai chiều toàn phần
Với chế độ truyền hai chiều toàn phần , mỗi trạm đều có thể gửi
hoặc nhận thông tin cùng một lúc. Thực chất chế độ này chỉ khác với chế độ
truyền hai chiều gián đoạn ở chỗ phải sử dụng hai đường truyền riêng biệt cho thu
và phát , tức là khác ở cấu hình hệ thống truyền thông .
2.1.4 Truyền tải dải cơ sở, dải mang và dải rộng .
Truyền tải dải cơ sở.
Một tín hiệu mang một nguồn thông tin có thể biểu diễn bằng tổng
của nhiều dao động có tần số khác nhau nằm trong một phạm vi hẹp được gọi là
dải tần cơ sở hay dải hẹp. Tín hiệu được truyền đi cũng chính là tín hiệu được tạo
ra sau khi mó hoỏ bit nờn cú tần số cố định hoặc nằm trong một khoảng hẹp nào
đó , tuỳ thuộc vào phương pháp mó hoỏ bit . Đường truyền chỉ có thể mang một
kênh thông tin duy nhất , mọi thành viên trong mạng phải phân chia thời gian để
sử dụng đường truyền . Tốc độ truyền tải vì thế tuy có bị hạn chế nhưng phương
pháp này dễ thực hiện và tin cậy , được dùng chủ yếu trong các hệ thống mạng
truyền thông công nghiệp .
Truyền tải dải mang.
Trong một số trường hợp , dải tần cơ sở không tương thích trong
môi trường làm việc , người ta sử dụng một tín hiệu khác - gọi là tín hiệu mang có
tần số nằm trong một dải tần thích hợp - dải mang . Dải tần này thường lớn hơn

nhiều so với tần số nhịp .Dữ liệu cần truyền tải sẽ dùng để điều chế tần số , biên
độ hoặc pha của tín hiệu mang. Bên nhận sẽ thực hiện quá trình giải điều chế để
hồi phục thông tin nguồn .Khác với truyền tải dải rộng nêu dưới đây , phương thức
truyền tải dải mang chỉ áp dụng cho một kênh truyền duy nhất , giống như truyền
tải dải cơ sở.
Truyền tải dải rộng.
- 19 -
Sau khi nhiều nguồn thông tin khác nhau đã được mó hoỏ bit, mỗi
tín hiệu được tạo ra sẽ dùng để điều biến một tín hiệu khác , thường có tần số lớn
hơn nhiều gọi là tín hiệu mang . Các tín hiệu mang đã được điều biến có tần số
khác nhau nên có thể pha trộn , xếp chồng thành một tín hiệu duy nhất có phổ tần
trải rộng . Tín hiệu này cuối cùng lại được dùng để điều biến một tín hiệu mang
khác . Tín hiệu thu được từ khâu này mới được truyền đi . Đú chớnh là kỹ thuật
dồn kờnh phõn tần trong truyền tải thông tin nhằm mục đích sử dụng hiệu quả hơn
đường truyền.Phớa bờn nhận sẽ thực hiện việc giải điều biến và phõn kờnh hồi
phục các tín hiệu mang các nguồn thông tin khác nhau.
Phương thức truyền tải dải rộng và kỹ thuật dồn kênh được dùng
rộng rãi trong các mạng viễn thông bởi tốc dộ cao và khả năng truyền song song
nhiều nguồn thông tin . Tuy nhiên , vì đặc điểm phạm vi mạng , lý do giá thành
thực hiện và tính năng thời gian , truyền tải băng rộng cũng như kỹ thuật dồn kênh
hầu như không đóng vai trũ gỡ trong các hệ thống truyền thông công nghiệp
2.2. CÁC THÀNH PHẦN CỦA MẠNG
Mạng máy tính- mạng công nghiệp là phương pháp tổ chức một tập
hợp các máy tính, các thiết bị tự động hoá được nối với nhau bởi các đường truyền
vật lý theo một cấu trúc nào đó.
2.2.1. Đường truyền vật lý.
Đường truyền vật lý dùng để chuyển các tín hiệu điện giữa các máy tính,
giữa các thiết bị tự động hoá hay giữa các thiết bị trong mạng với nhau. Các tín
hiệu điện đó biểu diễn các giá trị dữ liệu dưới dạng các xung nhị phân (on-off).
Tất cả các tín hiệu được truyền đều thuộc một dạng sóng điện từ nào đó. Mỗi loại

sóng điện từ có những thiết bị phương tiện truyền dẫn riêng.
Khi xem xét lựa chọn đường truyền vật lý cần chú ý tới các đặc trưng cơ
bản: dải thông (band width), độ suy giảm và nhiễu.
- 20 -
Dải thông của một đường truyền chính là phạm vi tần số mà nó có thể đáp
ứng được ( dải thông của cáp truyền phụ thuộc vào độ dài cỏp. Cỏp ngắn nói
chung có thể dải thông lớn hơn so với cáp dài. Bởi vậy khi thiết kế cáp cho mạng
phải chỉ rõ độ dài chạy cáp tối đa, vì ngoài giới hạn đó chất lượng truyền tín hiệu
không còn được đảm bảo).
Độ suy giảm là độ đo sự yếu đi của tín hiệu trên đường truyền. Nó cũng
phụ thuộc vào độ dài cáp.
Nhiễu: gây bởi tiếng ồn điện từ bên ngoài làm ảnh hưởng đến tín hiệu trên
đường truyền.
2.2.2. Cấu trúc của mạng (Topology):
Kiến trúc mạng (Network Architecture) thể hiện cỏch cỏc máy tính, các
thiết bị tự động nối với nhau ra sao và tập hợp các quy tắc, các quy ước mà tất cả
các thực thể tham gia truyền thông trên mạng phải tuân theo để đảm bảo cho mạng
hoạt động tốt. Cách nối này gọi là cấu trỳc(topolopy) của mạng ( gọi là tụpụ của
mạng).
Có hai kiểu nối mạng chủ yếu là điểm-điểm (point-to-point) và quảng bá
(point-to-multipoint):
- Nếu một mạng chỉ gồm hai nút được nối trực tiếp với nhau thì được gọi là
mạng có cấu trúc điểm - điểm (point to point structure). Theo kiểu điểm - điểm thỡ
các đường truyền nối với nhau và mỗi nút đều có trách nhiệm lưu trữ tạm thời sau
đó chuyển tiếp dữ liệu đi cho tới đích.
- Nếu một mạng gồm nhiều nút, liên kết với nhau theo kiểu quảng bá ( Cấu
trúc kiểu đường thẳng, vòng, hình sao, hình cây) thì tất cả cỏc nỳt cú chung một
đường truyền vật lý. Dữ liệu được gửi đi từ một nút nào đó sẽ có thể được tiếp
nhận bởi tất cả cỏc nỳt còn lại nên chỉ cần chỉ ra địa chỉ đích của dữ liệu để mỗi
nút căn cứ vào đó để kiểm tra xem dữ liệu có phải dành cho mỡnh khụng.

Tương ứng với các dạng liên kết, cú cỏc dạng cấu trúc mạng cơ bản sau:
- 21 -
2.2.2.1.Cấu trúc bus
Cấu trúc kiểu đường thẳng là kiểu cấu trúc đơn giản nhất, cấu trúc này còn
có tên là cấu trúc kiểu đường dẫn (bus structure), mặc dù không phải đường dẫn
nào cũng là cấu trúc đường thẳng. Tất cả các thành viên trong mạng đều phải có
một điểm ghép nối vào mạng. Nó có thể nối thông qua một đường dẫn ngắn để
đến điểm dẫn chính. Trong mạng này, nguyên tắc truyền thông được thực hiện như
sau: ở tại một thời điểm nhất định chỉ có một thành viên trong mạng được truyền
dữ liệu, cũn cỏc thành viên khác chỉ có quyền nhận, tín hiệu được truyền cả hai
chiều của bus. Đối với các bus một chiều thì tín hiệu chỉ đi về một phía. Lúc đó
các Terminator (thiết bị đầu cuối) phải được thiết kế sao cho các tín hiệu phải
được dội lại trên bus để có thể đến được các thành viên trong mạng. Điều này là
cần thiết để trỏnh cỏc xung đột trên đường dẫn. Đõy chớnh là các phương pháp
truyền thông kiểu bus. Phương pháp này cũng được sử dụng cho cấu trúc mạng
tiếp theo.
Trong dạng bus tất cả các thành viên phân chia chung một đường truyền
chính (bus). Đường truyền chính này được giới hạn bởi một loại đầu nối đặc biệt
gọi là Terminator. Mỗi thành viên được nối vào bus qua một đầu nối chữ T ( T-
connector) hoặc một bộ thu phát (Transceiver). Trong tụpụ mạng dạng bus, dữ liệu
được truyền dựa vào liên kết điểm - nhiều điểm ( point-to- multipoin).
Trong cỏc tụpụ dạng bus, cần có một cơ chế “trọng tài” để giải quyết “xung
đột” khi nhiều nút muốn truyền tin cùng một lúc. Việc cấp phát đường truyền có
thể là “tĩnh” hoặc “động”. Cấp phát tĩnh thường dùng cơ chế quay vòng để phân
chia đường truyền theo các khoảng thời gian định trước, còn cấp phát động là cấp
phát theo yêu cầu để hạn chế thời gian “chết” vô ích trên đường truyền.
- 22 -

Hình 2.2: Cấu trúc dạng bus
2.2.2.2.Cấu trúc mạch vòng

Cấu trúc vòng cũng có những điểm chung như cấu trúc đường thẳng. Cấu
trúc này cũng sử dụng phương pháp truyền thông kiểu bus. Cấu trúc vòng được
thiết kế sao cho các thành viên trong mạng được nối từ điểm này đến điểm kia một
cách tuần tự trong một mạch vòng khép kín. Ưu điểm cơ bản của mạng cấu trúc
theo kiểu này là mỗi một nút đồng thời có thể là một bộ khuyếch đại, do vậy khi
thiết kế mạng theo kiểu cấu trúc vòng có thể được thực hiện với khoảng cách rất
lớn.
Hình 2.3: Cấu trúc dạng mạch vòng
- 23 -
Tr¹m 2Tr¹m 1 Tr¹m 3
Tr¹m 4 Tr¹m 5 Tr¹m 6
Nếu có một thành viên trong mạng bị hỏng thì vấn đề phải giải quyết lớn
hơn rất nhiều so với mạng cấu trúc theo kiểu đường thẳng, vì không thể tiếp tục
quá trình truyền thông trong mạng được. Cấu trúc vòng có tính chất rất giống với
cấu trúc đường thẳng.
2.2.2.3.Cấu trúc hình cây
Hình 2.4: Cấu trúc mạng hình cây
Cấu trúc hình cây cũng được gắn trong các hệ tự động. Cấu trúc này là sự
liên kết của các cấu trúc đường thẳng có độ dài khác nhau với nhau. Do vậy mạng
cần thờm cỏc phần tử để nối các cấu trúc đường thẳng lại với nhau. Nó có thể chỉ
đơn thuần là bộ lặp lại Repeater nếu như các đường dẫn cùng một loại. Cũn cỏc
đường dẫn không cùng loại thì có thể phải dùng đến bộ chuyển đổi (Router,
Bridge, Gateway).
2.2.2.4. Cấu trúc hình sao
- 24 -
Trạm 1
Bộ ghép nối hình sao

Trạm 2 Trạm 3


Hình 2.5: Cấu trúc hình sao
Cấu trúc hình sao là cấu trúc mà có một nút quan trọng hơn tất cả
cỏc nỳt khỏc, nỳt này sẽ điều khiển sự truyền thông của toàn mạng, được gọi là
chủ (Master).
Nếu như nút này bị hỏng thì sự truyền thông trong mạng cũng không thể
tiếp tục được. Tất cả các trạm được nối vào thiết bị trung tâm này, thiết bị này có
nhiệm vụ nhận tín hiệu từ các trạm và chuyển đến trạm đích của tín hiệu. Vai trò
thực chất của thiết bị trung tâm này là việc “bắt tay” giữa các trạm cần trao đổi
thông tin với nhau, thiết lập các liên kết điểm - điểm giữa chúng. Ưu điểm của cấu
trúc này là lắp đặt đơn giản, dễ dàng thay đổi cấu hình (thêm, bớt trạm), dễ dàng
kiểm soát và khắc phục sự cố. Nhược điểm chủ yếu là độ dài đường truyền nối
một trạm với thiết bị trung tâm bị hạn chế.
2.2.3. Giao thức mạng (Protocol)
Việc trao đổi thông tin cho dù là đơn giản nhất cũng phải tuân theo quy tắc
nhất định. Việc truyền tín hiệu trên mạng cũng vậy cũng cần phải có quy tắc quy
ước: khuôn dạng (cú pháp, cú nghĩa) của dữ liệu, các thủ tục gửi nhận dữ liệu –
kiểm soát hiệu quả và chất lượng truyền tin, xử lý các lỗi và sự cố. Yêu cầu về xử
lý và trao đổi thông tin của người sử dụng càng cao thỡ cỏc quy tắc càng nhiều và
phức tạp hơn. Tập hợp các quy tắc đó là giao thức(protocol) của mạng. ( Mạng sử
dụng các giao thức khác nhau tuỳ sự lựa chọn của người thiết kế).
Mô hình kết nối OSI (Open System Interconnection).
Hầu hết các loại card mạng được thiết kế trên cơ sở mô hình kết nối hệ mở
OSI do hội đồng tiêu chuẩn hoá quốc tế ISO (International Organization
- 25 -

×