Tải bản đầy đủ (.pdf) (12 trang)

Giáo trình độc chất học đại cương - chương 5 potx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (302.64 KB, 12 trang )

103
103
Điều trị ngộ độc: Bệnh súc được đưa vào chỗ tối, tránh ánh sáng, tiếng động và mọi
kích thích. Hấp phụ chất độc bằng than hoạt tính (2 g/kgP). Không gây nôn vì làm tăng co
giật. Dùng thuốc an thần va giãn cơ: pentobarbital, methocarbamol (150 mg/kgP). Cho thở
oxy và hô hấp nhân tạo nếu cần thiết. Không có chất kháng độc đặc hiệu.
c. Thallium sulfate (Tl
2
SO
4
)
Thallium sulfate không mùi không vị, dễ hấp thu qua đường hô hấp, đường dạ dày, ruột,
qua da, súc vật có thể bị ngộ độc do ăn động vật bị ngộ độc thallium. Hiện nay trên thế giới dã
cấm dùng do độc tính của nó.
- Cơ chế gây độc: Tl kết hợp với nhóm sulfhydryl ty lạp thể gây cản trở qúa trình
phosphoryl oxy hoá.
- Triệu chứng ngộ độc: Xảy ra trong khoảng từ 0,5 ngày đến 2 ngày với các triệu chứng
tiêu hoá như đau bụng, nôn, buồn nôn, nôn ra máu, ỉa chảy có máu. Triệu chứng thần kinh
xuất hiện sau 2 - 5 ngày như đau đầu, yếu cơ, mệt xỉu, đau và yếu chi, mất điều hoà (ataxia),
giãn đồng tử co giật, trì trệ và hôn mê. Nếu người hoặc vật không chết ngay thường để lại các
triệu chứng thần kinh kéo dài. Liều gây chết là 14 mg/kg.


Câu hỏi ôn tập
1. Trình bày cơ chế gây độc của các hợp chất phospho hữu cơ và carbamat?
2. Nêu các phương pháp chẩn đoán ngộ độc các hợp chất phospho hữu cơ và carbamat và
các biện pháp phòng, trị?
3. Trình bày cơ chế gây độc của hợp chất clo hữu cơ?
4. Nêu các phương pháp chẩn đoán ngộ độc clo hữu cơ và các biện pháp phòng, trị?
5. Trình bày cơ chế gây độc của các thuốc diệt chuột có độc tính cao (strychnin, Thallium
sulfate, Sodium fluoroacetate và fluoroacetamide).


6. Nêu các biện pháp phòng và điều trị ngộ độc strychnin, Thallium sulfate, Sodium
fluoroacetate và fluoroacetamide.

Chương V
Ngộ độc thuốc thú y
Hiện tại sự khác nhau giữa thức ăn - thuốc - chất độc trong cuộc sống hàng ngày vẫn
chưa thật rõ ràng. Thuốc là con dao hai lưỡi, nếu dùng đúng nó có tác dụng chữa bệnh, ngược
lại là chất độc. Khi nồng độ thuốc trong cơ thể cao (ở máu cao thường do nhiễm độc cấp;
trong tổ chức cao thường do nhiễm độc mãn tính) đều gây ra trạng thái ngộ độc thuốc.
Chương này không đề cập đến các trường hợp sử dụng thuốc quá hạn, kém phẩm chất. Cũng
không bàn đến trường hợp tuỳ tiện, hay do trình độ chuyên môn kém, bảo quản, pha chế
không đúng qui cách dẫn đến ngộ độc thuốc thú y. Chủ yếu phần này đề cập đến những vấn
đề sau
- Ngộ độc thuốc có liên quan đến bản thân các dạng thuốc sử dụng.
- Hiện tượng dị ứng thuốc
- Tác dụng phụ của rthuốc
104
104
- Độc tính của thuốc kháng sinh và các thuốc hoá học trị liệu trong chăn nuôi thú y.
Do nhu cầu thuốc phòng trị bệnh cho động vật ngày càng tăng, số lượng và chủng loại sử
dụng ngày càng nhiều. Tình trạng sử dụng nhầm thuốc đưa tới ngộ độc là không thể tránh khỏi.
Chăn nuôi theo kiểu công nghiệp phát triển, số đầu gia súc, gia cẩm nhiều, việc sử
dụng thuốc phải tiến hành đại trà, đồng loạt, do vây sẽ gặp các trường hợp ngộ độc sau:
Những cá thể có độ mẫn cảm với thuốc cao cùng tồn tại trong đàn.
Những con có sẵn các yếu tố bệnh lý về gan, tim, thận làm giảm sức chịu đựng với
thuốc
Khi tiêm vacin cũng làm giảm khả năng chịu thuốc đễ gây ngộ độc.
Sử dụng thuốc không đúng qui định: quá liều do pha trộn không đều, chỗ nhiều, chỗ ít
1. Đại cương
1.1. Nguyên nhân

Do liều lượng thuốc: quá liều, sai liều lượng, liệu trình. Ngược lại có thể do giảm liều
trong quá trình điều trị hay dùng quá lâu một loại thuốc. Cũng có thể do sự tương tác giữa các
thuốc dùng khi điều trị. Cơ thể động vật bị bệnh về gan, thận nên giảm khả năng đào thải
thuốc. Đường đưa thuốc không thích hợp, sai chu kỳ dùng thuốc.
Do tác dụng phụ có hại của thuốc: Adverse Drug Reaction (ADR) một phản ứng có hại
của thuốc không được định trước và xuất hiện ở liều phòng, trị làm thay đổi một chức năng
sinh lý (tác dụng có hại xuất hiện ở liều dùng thuốc cho phép). ADR không bao gồm những
phản ứng do dùng sai thuốc, sai liều của nguyên nhân một. Nguy cơ xuất hiện RDA là hậu
quả không thể tránh khỏi của việc dùng thuốc. Hầu như tất cả các thuốc có hiệu lực, dù được
dùng khôn khéo đến mấy đều có thể gây RDA.
1.2. Biện pháp đề phòng
Tuỳ theo nguyên nhân gây ra để có biện pháp phòng ngừa thích hợp.
Với nguyên nhân thứ nhất chủ yếu là do thao tác kỹ thuật của cán bộ chuyên môn. Khi gia
súc bị trúng độc do nguyên nhân nay, ta nhận biết được ngay, có biện pháp khắc phục kịp thời.
Gan, thận là hai nơi chuyển hoá thaỉ trừ chất độc chủ yếu. Tế bào gan tạo enzym giúp
cho quá trình chuyển hoá thuốc bằng các phản ừng: oxy hoá khử, thuỷ phân, kết hợp biến
thuốc thành những sản phẩm không hay ít độc thải ra ngoài qua thận, hay tan trong dịch mật
theo phân ra ngoài. Muốn cơ năng của gan được tăng cường trong khi ngộ độc thuốc cũng
như các chất độc hại khác cần chú ý:
Dùng các vitamin, nhất là nhóm vitamin tan trong dầu: vitamin A, D, E và các acid
amin không thay thế: methionin, L- lysin, cystein
Quá trình khử độc của thuốc cần năng lượng, tốn glucoza, cần tiếp thêm glucoza 5%,
hay 10%. Dung dịch này vừa cung cấp năng lượng vừa tăng lợi tiểu, tăng thải chất độc.
Dùng các thuốc kích thích quá trình lợi mật, tạo mật: colagonum, cao actiso, cao gan
Tiêm các chất kích hoạt để sản sinh enzym P
450
hay các chất chelat hoá “chất càng
cua” tạo phức không cho thuốc ngấm qua vách tế bào.
Dùng thuốc đối kháng: đối kháng hoá học, vật lý, hay tác dụng dược lý. Khi đưa thuốc
vào cơ thể sẽ làm giảm nồng độ thuốc độc trong máu và tổ chức.

105
105
Đối kháng hóa học, vật lý: khi bò cao sản bị ngộ độc toan (aceton huyết do ăn nhiều
tinh bột) cần bổ sung NaHCO
3
để trung hoà lượng acid trong máu. Khi ngộ độc các kim loại
nặng: Cu, Hg, Fe, Pb dùng EDTA - chất càng cua để giải độc. Chất DETA sẽ gắn chặt với
kim loại nặng, giữ không hấp thu được, rồi thải ra ngoài.
Dùng thuốc đối kháng dược lý: ngộ độc thuốc mê, thuốc ngủ dùng các thuốc kích
thích hệ thần kinh trung ương: caphein, strychnin, long não hay ngược lại. Ngộ độc các thuốc
trị nội, ngoại ký sinh trùng: Mebendazol, Levamyzol, Detomax dùng Atropin.
1.3. Hiện tượng dị ứng thuốc
Dị ứng thuốc có xu hướng ngày càng tăng do có nhiều loại thuốc mới ra đời. Trong
lâm sàng lại sử dụng thuốc bừa bãi, không có nguyên tắc đặc biệt là thuốc kháng sinh. Khi
điều trị một ca bệnh cụ thể hay kết hợp nhiều thuốc cùng một lúc, nếu không nắm rõ cơ chế
tác dụng, dược động học, nhất là các tính tương kỵ của chúng rất hay gặp dị ứng thuốc.
a. Những yếu tố ảnh hưởng đến phát sinh dị ứng
Theo Del - Rio - Navario B.E phân thành
- Thuộc về thuốc: Tính chất lý hoá của thuốc (các thuốc thuộc nhóm
b
- lactam, nhóm
thuốc hạ sốt, giảm đau, novocain và các acid aminosalicylic, sulfadiazin và các sulfamid khác
các chất này có những thành phần cấu trúc hoá học tương tự nhau ). Thuốc là một hapten, khi
vào cơ thể sẽ kết hợp với protein của huyết tương hay của mô bào. Khi đó thuốc có vai trò như
một kháng nguyên. Do vậy có khả năng kích tích cơ thể sinh kháng thể gây dị ứng. Phản ứng dị
ứng có thể xuất hiện với thuốc có cấu trúc kháng nguyên giống với thuốc đã gây mẫn cảm.
- Phụ thuộc đường đưa thuốc: Dị ứng thuốc hay gặp khi cho uống với những cá thể cá
biệt, shock phản vệ có thể xẩy ra khi dùng thuốc ở bấy kỳ đường nào nhưng nếu tiêm gặp
nhiều hơn, nhất các thuốc thuốc nhóm b - lactam khi tiêm hay với chó mèo tiêm B - comlex
vào dưới da rất dễ gây dị ứng.

- Cách sử dụng thuốc: Dùng thuốc kéo dài, dùng nhiều thuốc cùng một lúc, dùng
thuốc ngắt quãng cũng dễ gây dị ứng thuốc.
- Yếu tố gia súc: loài, tuổi, tình trạng bệnh lý thường gia súc non, con quá già đều mẫn
cảm với thuốc hơn. Tỷ lệ di ứng thuốc ở nhóm gia súc này cũng có hơn do các men chuyển hoá,
giáng hoà thuốc ở gan của chung chưa được hoàn thiện hay công năng của gan, thận kém
- Cơ địa và tiền sử dị ứng. Hay gặp ở những người có cơ địa dị ứng atopy khi dùng
thuốc dễ bị dị ứng hơn. Những người có tiền sử dị ứng thuốc thì bản thân người đó và các con
đều dễ bị dị ứng thuốc khi dùng lại thuốc đó.
b. Cơ chế:
Dị ứng thuốc thuộc dị ứng typI theo phân loại của Gell và Coombs, gồm 3 giai đoạn:
* Giai đoạn 1:. Kể từ khi dị nguyên (thuốc) vào cơ thể. Dị nguyên được các tế bào kháng
nguyên trình diện tiếp nhận rồi truyền thông tin này đến tế bào Th2. Th2 dưới tác động của IL
4

IL
13
(Interleukin 4 và 13) làm tế bào lympho B biệt hoá thành plasmocyte. Tế bào này sẽ tổng hợp
kháng thể IgE. Các IgE sẽ gắn lên màng mastocyte nhờ các receptor đặc hiệu.
* Giai đoạn 2: Giai đoạn sinh hoá bệnh. Khi dị nguyên lần 2 vào cơ thể, dị nguyên
này sẽ kết hợp với kháng thể có sẵn gắn trên màng mastocyte nhờ các receptor đặc hiệu. Sự
kết hợp này làm tế bào mastocyte tổn thương, giải phóng ra các chất trung gian hoá học
(mediators): histamin, serotonin, bradykinin, leucotrien
106
106
* Giai đoạn 3: Sinh lý bệnh. Các chất trung gian hoá học trên tác động hệ thống niêm
mạc của các cơ quan. Hệ hô hấp: phế quản, phế nang, mũi, họng Hệ thống tim mạch, đặc
biệt mao mạch dưới da gây nên dị ứng: hen, mối mề day, phù Quincke, viêm mũi dị ứng,
shock phản vệ
c. Triệu chứng lâm sàng
Hội chứng lâm sàng của dị ứng thuốc rất đa dạng, biểu hiện chủ yếu ở ngoài da, niêm mạc

miệng mũi, mắt, kèm theo những tổn thương ở các cơ quan khác nhau: gan, thận, phổi, máu
* Sốc phản vệ: Là dị ứng nghiêm trọng nhất, dễ gây tử vong. Thường xuất hiện sau
30 phút. Xuất hiện càng sớm, bệnh càng nặng. Các thuốc hay gây ra shock phản vệ:
Các kháng sinh: Penicillin, Ampicillin, Cefotaxim, Gentamicin, Kanamycin,
Citrimmoxazol, Cloramphenicol, Chlortetracyclin, Streptomycin, Cephalosporidin, Lincomycin
Các thuốc có phân tử lớn: huyết thanh, vaccin, globulin, dextran
Thuốc gây tê: Procain, Lindocain.
Thuốc chống viêm physteroid: Indomethacin, Salicylat, Anagin
Các vitamin tiêm tĩnh mạch: Vitamin C, vitamin B
1;
Các loại đạm: Moriamin, Alvesin,
plasma, Beotamin
Các thuốc khác: Optalidon, Pamin, Seda, Insulin, hormon ACTH
Chú ý những diễn biến muộn xẩy ra sau shock phản vệ: viêm cơ tim dị ứng, viêm
thận, viêm cầu thận, viêm phế quản, mày đay, phù quicke tái phát nhiều lần.
Mọi đường đưa thuốc đều có thể gây ra nhưng nặng nhất khi tiên tĩnh mạch. Mèo, chó
tiêm B - comlex dưới da hay tĩnh mạch. Lúc đầu có thể mổi mề day, phù Quincke. Tăng tuần
hoàn, huyết áp, thở nhanh. Sau đó chuyển nhanh sang rối loạn hô hấp, tuần hoàn, tím tái, tụt
huyết áp Tiêu hoá đau bụng, nôn mửa, tiêu chẩy ran máu
* Mày đay: Cũng hay gặp khi dị ứng thuốc. Các loại thuốc đều có thể gây dị ứng,
nhưng hay gặp các thuốc kháng sinh, thuốc chống viêm physteroid (CVPS), vitamin, huyết
thanh Sau khi dùng thuốc vật có cảm giác nóng, ngứa. Xuất hiện các đám ban sưng to, dầy
dưới da gây ngứa rất khó chịu, cáng gãi càng sưng to, phù nhanh. đôi khi kèm theo đau bụng,
dâu khớp, chóng mặt, nôn, sốt
* Phù Quincke: Năm 1882 tác giả Quincke đã mô tả: “trong da, tổ chức dưới da xuất
hiện từng đám sưng, phù nề, đường kính 2 - 10 cm trên da mặt lưng, khớp, nhiều nhất ở mí
mắt và môi. Mầu sắc da có thể bình thường hay hơi tái, hoặc hơi hồng. Miệng, thanh quản
sưng, phù nề, gây khó thở.
Các thuốc hay gây dị ứng: Penicilin, Streptomycin, Tetracyclin, Chloramphenicol,
Sulphamid, Các thuốc chống viêm physteroid, heparin, hormon tuyến yên, insulin Quincke

có thể xuất hiện sau vài phút, vài giờ hay vai ngày. Phù Quincke nếu ở bên trong niêm mạc
đường hô hấp, tiêu hoá tiết niệu Quincke ở thanh quản nguy hiểm nhất đẽ gây tử vong.
* Hội chứng (Stevens - Jóhnon syndrome): Gây viêm loét da và niêm mạc do thuốc
nhất là thuốc kháng sinh: Ampicillin, Streptomycin, Tetracycllin, Chloraphenicol các thuốc
chống viêm physteroid: Anagin, Paracetamol
107
107
* Hen phế quản do thuốc: Cơn khó thở xuất hiện sau khi tiếp xúc với thuốc. Nghe
phổi đầy ran rít, ran ngáy. Nhiều thuốc có thể là yếu tố sinh học gây hen phế quản dị ứng:
Penicillin, Sulphamid, Hydrothiazid, Methotrexat
1.4. Tác dụng phụ của thuốc
Trong lịch sử dùng thuốc có những chất có cuộc đời làm thuốc rất dài: Morphin,
Digitalis, Aspirin Có những chất được dùng làm thuốc rất tốt nhưng trong quá trình theo
dõi, điều trị bệnh đã phát hiện ra các tác dụng phụ nguy hại đến sức khoẻ cộng đồng, súc vật
nên mặc dù vẫn còn hiệu lực chữa bệnh nhưng đã bị loại ra khỏi dạnh mục thuốc: Santonin,
Pyramidon, các sulfamid cổ điển, Phenacetyl, Chloramphenicol, các đẫn xuất của bạc, asen
trong trị ký sinh trùng đường máu Các nguyên nhân gây tác dụng phụ của thuốc gồm:
* Thuộc về động vật: Động vật nuôi quá mẫn với thuốc (shock phản vệ), ở liều điều
trị khi tiêm naganol phòng trị ký sinh trùng đường máu cho trâu bò nhưng vẫn có con bị dị
ứng với thuốc, chiếm khoảng 0,02%. Vật nuôi bị dị ứng với thuốc kháng sinh, đặc biệt nhất
là nhóm b - lactame.
* Thuộc về dạng thuốc, đường đưa thuốc: Đường dùng thuốc khác nhau như Vitamin
nhóm B, C, tiêm tĩnh mạch gây choáng phản vệ, nhưng nếu uống không gặp phản ứng này.
* Độ tinh khiết của thuốc
Một thứ thuốc dù hoàn hảo đến mấy cũng không thể là “chất siêu sạch” lý tưởng được.
Tạp chất trong thuốc có nhiều nguồn gốc khác nhau:
(1) Do nguyên liệu ban đầu tổng hợp hay chế biến nhưng chưa loại hết. Tạp chất là
các hoạt chất phụ có trong dược liệu khi chiết xuất đã đi kèm theo hoạt chất chính. Tạp chất
được hình thành trong quá trình bảo quản thuốc ở điều kiện bất lợi.
(2) Do quá trình bào chế, sản xuất, đã xẩy ra nhiều phản ứng hoá học khác không cần

thiết.
(3) Tương tác giữa các thuốc với nhau.
2. Độc tính của một số thuốc thú y
Thuốc vào nước ta bằng nhiều đường khác nhau chưa kiểm soát được. Trong khi đó
lại có hàng trăm cơ sở và công ty kinh doanh, sản xuất, xuất nhập khẩu thuốc thú y lớn nhỏ
đóng trên cả nước. Cộng thêm vào đó trình độ hiểu biết của dân còn chưa đầy đủ, nên dễ có
nguy cơ xuất hiện các phản ứng có hại của thuốc. Để tiện theo dõi, tránh những sai lầm đáng
tiếc trong lâm sàng, khi dùng thuốc cần chú ý đến độc tính của thuốc. Tuỳ loại thuốc, tuỳ loài
động vât mà độc tính của chúng biểu hiện trong lâm sàng có khác nhau.
2.1. Thuốc kháng sinh
a. Nhóm beta-lactam
- Dị ứng: hay gặp trên lợn ngoại: choáng phản vệ, truỵ tim mạch, khó thở, nổi mề đay,
có khi phát ban đỏ hay báng nước.
- Loạn khuẩn đường ruột hay gặp ở gà chăn nuôi công nghiệp hay lợn con từ 1 - 21
ngày tuổi khi uống Ampicillin, Amoxicillin. Động vật nuôi sẽ bị tiêu chẩy nặng sau khi
dùng thuốc. Ampicillin trên chó, mèo và bò có thể gặp: rối loạn vận động, tăng huyết áp, khó
thở.
Liều độc của Penicillin G gấp 2700 lần so với liều điều trị trên gia súc. Khi dùng thuốc
cần lưu ý dạng Procain - penicillin chậm và các thuốc bán tổng hợp: Ampicillin, Amoxicillin,
108
108
Oxacillin . Penicilin G trên ngựa, chó, bò gặp tăng huyết áp, dị ứng, kích thích thần kinh
trung ương, nôn, co giật. Viêm thận có thể gặp trên ngựa. Bội nhiễm nấm đường tiêu hóa gặp
trên bò
Các thuốc tổng hợp thuộc nhóm Cephalosporidin trên gà công nghiệp và chim cút.
Các thuốc này cũng gây tác dụng phụ giống như trên lợn ngoại: shock phản vệ, dị ứng, tiêu
chẩy, rối loạn quá trình tạo máu
b. Nhóm aminoglycozid.
Các thuốc thuộc nhóm này gồm: Streptomycin, Kanamycin, Gentamicin, Neomycin
Khi bị ngộ độc cấp gây liệt trung khu hô hấp, vận mạch ở gà con, gà tây, thuỷ cầm, nhất là vịt

con rất nhày cảm với Streptomycin. Nếu tiêm ở ức vịt con dễ chết rất nhanh.
Ngộ độc cấp tính hay gặp với các loại dạ day đơn và ở những động vật có bệnh viêm
thận, suy thận do khả năng thải trừ các Amynoglucozid kém sẽ gây hiện tượng vô niệu hay
thiểu niệu. Vật chết trong tình trạng hôn mê do độc tố tích lại nhiều trong máu. Trường hợp
shock của thuốc trong nhóm này rất ít, nhưng những con đã bị có tỷ lệ chết rất cao. Theo dõi
trên lâm sàng có tới 6/10 động vật bị chết khi shock do dùng thuốc thuộc nhóm
Amynoglucozid.
Ngộ độc mạn sẽ làm liệt thần kinh cơ - xương, động vật nuôi cả bò, lợn, chó, mèo đều
bị mất thăng bằng, rối loạn vận động, phù, liệt thần kinh thính giác gây điếc ở người. Cá biệt
trên lợn và chó khi dùng Erythromycin tiêm, có con bị đau do nơi tiêm viêm. Rối loạn về
thần kinh thính giác gặp trên chó nghiệp vụ do tiền đình bị nhiễm độc trước ốc tai, gây chóng
mặt rối loạn vận động, mất thăng bằng do não bị phù, tích nước, tai chó bị ù rồi điếc. Tác
dụng xẩy ra trong khi dùng thuốc lâu ngày (dùng thuốc quá 10 ngày), và kéo dài khi đã ngừng
thuốc 7 ngày có khi hàng tháng. Hay cùng có thể xẩy ra do trước khi dùng nhóm
Amynoglucozid đã dùng các thuốc có độc với thính giác: Furosemid hay Vancomycin.
- Độc với thận. Các Amynoglucozid thải ra ngoài nguyên vẹn qua thận. Nếu thận bị
suy sẽ gây tích luỹ ở vỏ thận (nộng độ thuốc trong thận cao gấp 20 - 30 lần so với huyết
tương) hay gặp ở động vật dạ dầy đơn có tiền sử về bệnh thận. Gây viêm cầu thận cấp đẫn đến
vô niệu. Khi cơ thể mất muối, nước độc tính thuốc còn tăng lên.
- Làm giãn cơ vân. Thuốc có tác dụng hiệp đồng với nhóm curare (thuốc gây mềm cơ khi
phẫu thuật). Nếu dùng lâu có thể gây liệt cơ hô hấp. Độc với thai, nhất là chó gây sẩy thai kỳ 3.
c. Nhóm tetracycline.
Với loài nhai lại (bò), sau khi tiêm tĩnh mạch Tetracyclin hay gặp các triệu chứng: lo
âu, buồn chán, có những biểu hiện khó chịu, nhưng lại dễ bị kích động, nước bọt chảy nhiều.
Sau đó khu hệ vi sinh vật đường ruột bị rối loạn, nhất là loài nhai lại. Khi tiêm bắp
Oxytetracyclin cho ngựa, cừu hay gặp viêm tại chỗ. Còn làm tăng lượng trombocyt, leucocyt
trong máu gây ảnh hưởng đến quá trình đông máu. Trên bò nếu tiêm bắp quá liều (cá biệt ngay
ở liều điều trị) gây ngộ độc cấp sẽ mất thăng bằng, suy sụp, khó thở bị liệt trung khu hô hấp,
vận mạch, gây tổn thương gan, rối loạn quá trình tạo xương của động vât. Một vài trường hợp
có thể gây methemoglobin khi tiêm mạch

- Gắn vào xương: thuốc tham gia chelat hoá với ion Ca
++
giảm sự tạo xương, kém phát
triển khung xương gây còi xương.
- Rối loạn tiêu hoá, viêm miệng - lưỡi - hầu - thực quản. Có thể gây tiêu chảy do loạn
khuẩn (thường 3 ngày). Khi dùng thuốc lâu ngày rễ gây bội nhiễm nấm đường tiêu hóa, vật sẽ
bị mất thăng bằng, ủ rũ, chán ăn, có thể bị sốt từ vài ngày đến vài tuần.
109
109
Liều cao gây tổn thương gan, suy thận (triệu chứng rõ khi súc vật có thai). Với gà đẻ
và gia súc sinh sản nếu dùng Doxycyline làm giảm sản lượng trứng, giảm khả năng thụ thai,
giảm số con trên lứa đẻ, giảm sản sinh tinh trùng và hoạt lực tinh trùng. Trên thi trường có
loại Tetra-eggs dùng cho gà đẻ trứng hay súc vật sinh sản thành phần có chứa chlo hay oxy
tetracycline là những loại ít hay không được phân bố trong buồng trứng và dịch tử cung, dịch
hoàn ==è không độc cho động vật sinh sản.
Chú ý: Nếu tiêm bắp cũng có thể gây đau do bị viêm. Mèo có thể gây sốt do thuốc
khoảng 2 ngày sau khi ngừng thuốc. Không dùng khi gia súc bị nhược cơ, mang thai, khai
thác sữa, suy gan, thận.
d. Nhóm lincosamid
Gây tiêu chẩy mất nước và chất điện giản nặng do ruột bị viêm thể màng giả, sốt, xuất
huyết niêm mạc. Nôn, ngứa hậu môn (gia súc, nhất là chó, nèo hay quay lại liếm hậu môn),
viêm xoang miệng, lợi, lưỡi.
Nếu dùng phối hợp Lincomycin với Spetinomycin trên bò có thể gặp shock quá mẫn
xẩy ra ngay sau khi tiêm. Phối hợp lincimycin với Neomycin tiêm cho loài linh trưởng sẽ bị
shock quá mẫn xảy ra ngay tức khắc 5 -10 giây giống như shock của penicilin trên người.
e. Nhóm polypeptid
Khi sử dụng Polymycin B trị bệnh cho chó sẽ gặp hiện tượng tăng BUN.
f. Nhóm quinolone (cả thế hệ I và II)
- Hệ tiêu hoá: Gây rối loạn tiêu hoá, tích thực, đau bụng, có thể nôn.
- Liều cao gây co giật, làm tổn thương mô sụn ==è ảnh hường đến tốc độ phát triển.

Chú ý: không dùng khi gia súc có chửa kỳ I và kỳ III, đang khai thác sữa (dùng sữa
cho bê con bú); hay khi bị bệnh suy gan, thận.
g. Nhóm nitro - imidazole
- Trên hệ tiêu hoá gia súc có hiện tượng chán ăn, buồn nôn, viêm miệng và lưỡi, giai
đoạn sau lưỡi bị đen, rồi bị tiêu chẩy.
- Gây rối loạn hoạt động thần kinh khi dùng liều cao, lâu ngày do các dây thần kinh
thính, thị giác và thần kinh ngoại vi bị viêm ==è rối loạn vận động, ít khi gặp.
Chú ý: Không dùng khi có chửa kỳ I, đang nuôi con, hay bị bệnh ở các cơ quan tạo máu.
h. Các sulfamid
Biểu hiện mẫn cảm: hay gặp trên dạ dầy đơn: chó, mèo, lợn Gây viêm da bọng
nước, bong biểu bì, tổn thương niêm mạc mũi, miệng. Nếu bôi trên da gây viêm da do tiếp
xúc. Hiện tượng rụng lông gặp nhiều trên chó, mèo.
- Gây tổn thương thận ở loài dạ dầy đơn do hiện tượng acetyl hoá thành các sản phẩm
không tan trong môi trường a xit gây sỏi mầu xanh, tím trong bể thận, bàng quang, gan, ống
mật. Với chó gặp: khó đi tiểu (đái dắt), sau chuyển vô niệu, hàm lượng BUN tăng cao, máu
không đông. Với loài linh trưởng để lại tồn lưu trong tế bào
- Gây rối loạn tiêu hoá, không nhai lại (bò), thức ăn tích trong thực quản hầu (ngựa),
sau chán ăn vài ngày rồi tiêu chẩy. Kế phát viêm phúc mạc sau chuyển viêm dính toàn ổ bụng.
Gây thiếu máu do thiếu a xid folic tạo tế bào máu. Vàng da do gan bị bệnh hay bị tắc ống mật.
110
110
Chú ý: không dùng cho gia súc bị suy gan, thận, có thai, cho con bú, động vật non.
Cẩn thận khi dùng các sulfamid chậm: Sulfadoxine, Sulfamethoxypyzidazin = SMP hay Co -
trimoxazole có chứa Sulfamethoxazole, Fan - sidar có chứa Sulfadoxine.
i. Thuốc chống nấm
AmphotericinB: Độc với thận, gây giảm K
+
và Mg
++
trong máu, sốt viêm tĩnh mạch huyết

khối. Trên chó hay gặp co giất cơ, sốt do thuốc. Cả mèo và chó đều có hiện tượng tăng BUN.
Ketoconazole: gây rối loạn tiêu hoá, dị ứng ngoài da, độc với gan, rối loạn sinh dục,
giảm khả năng sinh tinh trên con đực. Không dùng khi có thai hay cho con bú.
Miconazole: rối loạn tiêu hoá, dị ứng, viêm tĩnh mạch, giảm bạch cầu và lipid/máu,
loạn nhịp tim (nếu tiêm tĩnh mạch). Không dùng khi có thai hay đang nuôi con.
Fluconazole: gây rối loạn tiêu hoá, sống phân, dị ứng trên da. Không dùng khi có chửa
và cho con bú.
Sau đây là bảng các thuốc cấm dùng hay dùng cần chú ý.




Bảng 5.1: Sử dụng thuốc trong điều trị bệnh cho động vật có chửa
STT Thuốc cấm dùng Dùng thận trọng
1 Chloramphenicol Các aminoglucozid
2 Dapsone Amphotericin B
3 Dehydroemetine, emitine Clindamycin
4 Erythromycin estolate Ethambutol
5 Furazolidone Fluconazole
6 Griseofulvin Imipenem
7 Mefloquine Idoquinol
8 Nitrofurantoin Isoniazid
9 Norfloxacin Ketoconazol
10 Ofloxacin Mebendazole
11 Oxamniquine Miconazole
12 Primaquine Piperazin
13 Các sulfamid Pyrazinamide
14 Các tetracycline Pyrimethamine
15 Co-trimxazole (Bactrim) Quinacrine
16 Các quinolone cả 2 thế hệ Quinine

111
111
17 Các nitro - imidazol như Rifampicin
Metronidazole Thiabendazol
Vancomycin
Trimethoprim

Sau đây là bảng danh sách các thuốc được đào thải qua sữa mẹ. Trong giai đọan khai
thác sữa hay nuôi con cần lưu ý để phòng độc cho người và ấu súc.

Bảng 5.2.: Thuốc hoá học trị liệu thải ra qua sữa

Sự sai khác giữa lý thuyết
và thực nghiệm

Tên thuốc
pKa Milk pH
Lý thuyết Thực nghiệm
Môi trường a cid
Penicillin G 2,7 6,8 0,20 0,13 - 0,26
Cloxacillin 2,7 6,8 0,20 0,25 - 0,30
Ampicillin 2,7; 7,2 6,8 0,26 0,24 - 0,30
Amoxycillin 2,7; 7,2 6,8 0,26
Cephaloridin 3,4 6,8 0,25 0,24 - 0,28
Sulfadimethoxine 6,0 6,6 0,19 0,23
Sulfamethazine 7,4 6,6 0,55 0,59
Môi trường kiềm
Erythromycin 8,8 6,8 6,1 8,7
Tylosin 7,1 6,8 3,0 3,5
Lincomycin 7,6 6,5 - 6,8 2,8 2,0 - 5,6

Trimethoprim 7,6 6,5 - 6,8 2,8 - 5,3 2,9 - 4,9
Amynoglucozid (7,8) 6,5 - 6,9 0,20 - 0,80
Spectinomycin 8,8 7,5 0,4
Dạng bột nguyên chất, tự nhiên
Chloramphenicol - 6,5 - 7,1 (1,0) 1,1
Oxytetracyclin - 6,5 - 6,8 - 0,75
Doxycyline - 6,5 - 6,8 - 1,53
112
112

k. Tác hại của tồn dư kháng sinh
* Đối với sức khoẻ. ảnh hưởng của chất tồn dư kháng sinh đến sức khoẻ của gia súc, con
người có thể trực tiếp hay gián tiếp: Chloramphenicol gây quái thai, suy tuỷ, rối loạn hệ vi sinh
vật đường ruột
* Các phản ứng dị ứng: Đặc biệt đối với những cá thể mẫn cảm, sự có mặt các chất
tồn dư trong thực phẩm có nguồn gốc động vật có thể gây ra phản ứng dị ứng trên người mẫn
cảm. Những người có sẵn cơ địa dị ứng với nhóm b - lactam, khi uống sữa bò hay dùng các sản
phẩm còn tồn lưu những thuốc kháng sinh thuộc nhóm này sẽ bị dị ứng mổi mề đay hay tiêu
chảy.
* Gây rối loạn khu hệ vi sinh vật đường ruột: Chúng có ảnh hường xấu theo 2 cách:
- Biến đổi thành phần hệ vi sinh vật, giết chết vi khuẩn có lợi, tạo điều kiện thuận lợi
cho vi khuẩn kháng thuốc phát triển. Đã có rất nhiều bằng chứng về vi khuẩn kháng thuốc có
thể truyền từ động vật sang người. Điều này gây khó khăn trong việc chẩn đoán, chọn thuốc
điều trị số bệnh. Sự truyền tính kháng thuốc của vi khuẩn gây bệnh ở động vật sang người có
thể do tiếp xúc trực tiếp hay qua đường tiêu hoá khi dùng thức ăn bị nhiễm vi khuẩn kháng
thuốc hay do nhiễm vi khuẩn kháng thuốc tại các bệnh viện. Việc này lại do việc sử dụng
kháng sinh bừa bãi, tuỳ tiện trong cả nhân y và thú y, nhất là việc dùng kháng sinh với mục
đích kích thích tăng trọng.
- Chất tồn dư của các tác nhân kháng khuẩn trong thực phẩm (tồn dư thuốc hoá học trị
liệu trong đó có kháng sinh) có nồng độ cao hơn LMR - Limite Maximale Residuc sẽ góp

phần tạo vi khuẩn kháng thuốc trên người.
* Tác hại về mặt công nghệ
Các tồn dư kháng sinh đã cản trở việc lên men trong quá trình chế biến thực phẩm: sữa
chua, phomat, chế xúc xích
2.2. Cỏc chất sỏt khuẩn
Chất sỏt khuẩn là những chất dựng với mục đích sát trùng tại chỗ, cục bộ, nơi tiếp xúc
với cơ thể vật nuôi (chất sát trùng ngoài da, vết thương, các chất uống vào với mục đích
chống nhiễm khuẩn, loạn khuẩn đường tiêu hóa); cỏc chất khử trựng, tẩy uế toa tầu, xe vận
chuyển vật nuụi, nền chuồng, sân chơi Tại những nơi thuốc tác dụng với tổ chức của cơ thể
ở liều quá cao sẽ gây hoại tử tế bào. Thông qua vết thương, chúng được hấp thu vào máu gây
rối loạn chức năng sinh lý toàn thõn. Chất sỏt khuẩn cũn bao gồm cả những chất cho vào thực
phẩm với mục đích ức chế hay tiêu diệt các vi sinh vật làm hư hỏng thực phẩm trong quá
trỡnh thu hoạch, chế biến, bảo quản. Nhờ đó mà kéo dài khả năng sử dụng nhưng vẫn bảo
đảm chất lượng của thực phẩm. Thuộc nhóm này gồm có các acid mạnh, kiềm mạnh và các
muối kim loại cũng được coi là các chất độc do tiếp xúc.
Trong các acid vô cơ, acid clohydric, acid sunphuric, acid nitric, acid photphoric là
những acid thường gây độc cho động vật. Trong chăn nuôi khi dùng các premix khoáng bổ
sung theo đường tiêu hóa, nếu dùng quá liều sẽ gây ngộ độc acid hay kiềm tùy dạng thức ăn
và loài vật nuôi. Các acid hữu cơ: acid lactic, acid acetic, acid oxalic hay gây ngộ độc cho loài
nhai lại.
* Sự hỡnh thành ngộ độc và các dạng ngộ độc
113
113
Khi bị nhiễm khuẩn đường tiêu hóa thường dùng cỏc chất sỏt khuẩn, hay acid loóng
cho vật nuụi uống. Cỏc acid clohydric, acid acetic cú thể bay hơi qua đường hô hấp gây hại
cho cơ thể. Các acid ở nồng độ cao, đậm đặc đều gây phản ứng với mọi loại tế bào của cơ thể
do làm biến đổi nguyên sinh chất. Mức độ biến đổi tỷ lệ thuận với nồng độ của acid. Nồng độ
càng cao sự tàn phá tế bào càng nặng. Xong ở nồng độ cao, các acid có tác dụng tại chỗ là
chính do làm biến chất đông kết chặt protein nên đó ngăn cản không cho acid tiếp tục hấp thu
vào máu gây nhiễm độc toàn thân. Ngược lại nồng độ thấp các acid được hấp thu từ từ vào

máu dễ gây nhiễm độc toàn thân.
* Tỏc dụng cục bộ: tại nơi tiếp xúc với acid, tổ chức thường bị biến màu. Với acid
clohydric, tổ chức sẽ có màu xám; acid sunphuric cho màu nâu đen, acid nitric có màu vàng.
Riêng với acid acetic đậm đặc chỉ gây hoại tử bề mặt, cũn acid mercuric gõy cỏc ổ loột trờn
bề mặt da.
Khi uống cỏc acid (ở nồng độ nhất định trị loạn khuẩn đường tiêu hóa) nếu niờm
mạc
đường tiờu húa bị viờm chỳng sẽ phỏ hủy lớp cơ dưới niêm mạc dạ dày - ruột, tiếp đó là quá
trỡnh nhiễm trựng kế phỏt. Hậu quả nặng nề nhất của nhiễm độc acid đường tiêu hóa là gây
viêm phúc mạc. Do acid kích thích niêm mạc đường tiêu hóa dễ đưa tới nôn ọe, thức ăn có thể
tràn sang đường hô hấp gây viêm phổi, co thăt phế quản, thùy thũng phổi, vật chết do ngạt thở.
Cũng có thể do tác dụng của các acid, toàn bộ ống tiêu hóa, dạ dày, ruột bị xung, xuất huyết.
* Triệu chứng toàn thõn: thường gặp với các acid vô cơ. Acid vô cơ có nồng độ
loóng và yếu dễ hấp thụ, dễ trúng độc hơn các acid hữu cơ. Khi hấp thu vào máu quá ngưỡng
bỡnh thường sẽ gây toan huyết (acidosis). Với hàm lượng thấp do có hệ thống đệm cơ thể tự
điều chỉnh nên pH không có biến đổi. Nhưng nếu cứ tiếp tục hấp thu, sự cõn bằng toan - kiềm
trong mỏu bị rối loạn, pH và khớ O
2
giảm, lượng khí CO
2
tăng, thần kinh trở nên mẫm cảm
gây co giật. Vật chết do hôn mê.
Bờn cạnh những triệu chứng chung núi trờn cỏc acid khỏc nhau cũn cú một số triệu
chứng đặc trưng riêng biệt.
- Acid acetic - CH
3
COOH : Được dùng trong chế biến, bảo quản thực phẩm và chông
loạn khuẩn đường tiêu hóa. Có tác dụng ức chế men vi sinh vật gây hại trong đường tiêu hóa.
- Acid focmic - HCOOH: Sử dụng để bảo quản thực phẩm. Đối với chó nếu cho ăn
theo khẩu phần 10% tương đương 50 mg/kg thể trọng gây methemoglobin trong máu kéo dài

10 ngày là do acid focmic ức chế men catalaza. Nếu cho ăn liều thấp khoảng 0,5 g acid
focmic/ngày, ăn hàng ngày, chó vẫn không phát hiện thấy độc.
- Hexa-metylen-tetramin - (CH
2
)
6
N
4
: Trong môi trường acid hoặc dầu các hợp chất
hữu cơ và protein, Hexa-metylen-tetramin bị thủy phân dần dần thành amoniac hoặc focmon,
do đó tính chất gây độc cũng giông như focmon: gây đông vón đồng loạt protein, kích ứng
niêm mạc. Focmon có ảnh hưởng đến việc tổng hợp protein của cơ thể. Đồng thời cũn gõy đột
biến trên giống ruồi Drosophila.
Độc tính trên chuột cống trắng: nếu tiêm dưới da lặp lại nhiều lần dung dịch Hexa-
metylen-tetramin 35 – 40% sẽ thấy saccom cục bộ trên 2/3 số chuột thí nghiệm.
114
114
- Formol (HCHO): Trước đây hay dùng trong bảo quản thực phẩm, hiện nay đó bị
cấm. Trong lõm sàng cũn dựng cho trõu bũ uống khi bị chướng bụng đầy hơi, nếu dùng quá
liều sẽ gây độc.
- Acid socbic - CH
3
- CH = CH - CH = CH - COOH và cỏc muối natri, kali socbat:
Được sử dụng trong bảo quản thực phẩm với mục đích ức chế men mốc và các vi khuẩn có
hại. Hoạt chất diệt mốc được tăng lên trong môi trường acid hoặc natri clorua với pH = 4,5.
Thuốc có độc hại trên chuột cống trắng và chó. Hàng ngày cho ăn với liều 5% trong
thức ăn (tương đương 2500 mg /kg thể trọng/ngày) chưa có hại. Với liều 8% thấy trọng lượng
gan của chuột cống trắng to hơn lô đối chứng nhưng chưa thấy biến đổi về bệnh lý.
- Acid benzoic - C
6

H
5
COOH và muối natri benzoat C
6
H
5
COONa: Dựng làm chất
sỏt khuẩn trong bảo quản thực phẩm chống men, vi khuẩn và mốc. Tác dụng diệt khuẩn tăng
lên ở môi trường acid. Nếu chuột ăn với liều 1090 mg/kg thể trọng chưa thấy biểu hiện độc.
Nhưng ở liều cao 8% Natri benzoat trong thức ăn, 13 ngày sau đó cú 50% số chuột chết; số
chuột cũn lại trọng lượng chỉ bằng 2/3 so với lô đối chứng. Chuột chết có bệnh tích trong gan
thận. Với chó liều 1 g/kg thể trong chưa có biểu hiện độc, nhưng với liều cao hơn chó bị rối
loạn thần kinh như co giật, động kinh rồi chết.
Acid salicylic: Sử dụng làm thuốc sỏt khuẩn, bảo quản thực phẩm.Trong thỳ y cũn
dựng làm thuốc hạ sốt, giảm đau và chống viêm (tronng nhúm thuốc chống viờm physteroid).
Nếu dùng liều cao trên vật nuôi sẽ gây hiện tượng dón mạch ngoại vi, hạ thấp hàm lượng
protrombin trong máu, nổi mụn ngoài da, gan hoại tử và xuất huyết.
Acid Boric - H
3
BO
3
và muối natri borat - Na
2
B
4
O
7
.10H
2
O: Được dùng làm chất sát

khuẩn chống vi khuẩn. Nếu chuột cống trắng, chó mèo ăn ngắn ngày sẽ có hiện tượng chậm
lớn, tổn thương gan. Chuột cống trắng ăn dài ngày với liều 100 mg/kg thể trọng/ngày có hiện
tượng teo tinh hoàn gây vô sinh.
Anhydric sunfure - SO
2
: Trong thực tế hay dùng các muối của acid sunfurơ như:
Natri sunfit Na
2
SO
3
, Natri sunfit kết tinh với 7 phân tử nước: Na
2
S
2
O
5
.7H
2
O, Natri meta
bisunfit Na
2
S
2
O
5
, Natri bisunfit NaHSO
3
. Tác dụng độc hại của các muối trên phụ thuộc vào
nồng độ, hàm lượng và tốc độ giải phóng khí SO
2

.
Được dùng rộng rói chống men mốc vi khuẩn trong bảo quản thực phẩm và sỏt khuẩn.
Trờn thỏ với liều 1 - 3g/ngày kộo dài liờn tục 127 - 185 ngày có hiện tượng sụt cân, chảy máu
dạ dày. Với chuột cống trắng liều 0,1% Natri sunfit ức chế sự phát triển do phá hủy vitamin
B
1
trong thức ăn. Do vậy không được dùng SO
2
và các muối của nó để bảo quản các thức ăn
có nhiều vitamin B
1
như thịt, ngũ cốc, đậu đỗ hạt, sữa và các chế phẩm.
Các acid khác khi bị nhiễm độc như acid clohydric và acid acetic gây dung huyết, dẫn
tới huyết niệu. Khi nhiễm độc acid lactic các tổ chức nhu mô của gan tim bị thoái hóa. Nhiễm
độc acid oxalic sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của thận như viêm thận, sỏi thận. Đặc biệt đối với
động vật dạ dày đơn. Khi acid oxalic xuất hiện nhiều trong máu chúng sẽ kết hợp với canxi
tạo canxi oxalat lắng đọng trong thận đưa tới hàng loạt các rối loạn tiếp theo. Đặc biệt khi
thận bị có sỏi cắt ngang thận quan sỏt vựng tủy thấy cú những đám, những vệt xám dài 1 - 2
mm. Đó là những đám Canxi oxalat lắng đọng tạo nên.
* Điều trị
Trên da: khi bị dây acid nên dùng bông hay vải gạc lau sạch rồi rửa bằng nước Natri
bicacbonat để trung hũa hết acid.

×