Nhà Mạc - Nam Bắc Triều (1527 - 1592)
4
Trong điện chính có rất nhiều đồ thờ, cổ vật. Từ chiếc bình với hình ảnh chùa một
cột, con chim hạc quen thuộc trong ca dao đến chiếc đại hồng chung nặng
1.527kg, chiếc chiêng đồng với hình ảnh 2 con rồng khắc nổi. Tất cả đều được đặt
trang trọng trong chính điện. Đặc biệt là thanh Đinh Nam Đao, là thanh đao từng
cùng vua Mạc Đăng Dung xông pha chiến trận và "bách chiến bách thắng". Đến
nay tuổi đời của bảo vật này là 500 năm tuổi.
Thanh long đao của Thái Tổ nhân minh Cao Hoàng đế Mạc Đăng Dung được bảo
quản và lưu thờ nhiều thế kỷ tại từ đường họ Phạm gốc Mạc thôn Ngọc Tỉnh, thị
trấn Xuân Trường, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Từ đất Dương Kinh 418
năm về trước, thanh bảo đao của Mạc Thái Tổ đã ra đi sau ngày thành Thăng Long
thất thủ. Trải qua hành trình lịch sử đằng đẵng, 418 năm sau, từ đất Thiên Trường,
từ đường họ Phạm gốc Mạc, thôn Ngọc Tỉnh, thị trấn Xuân Trường, báu vật của
tiên đế được long trọng rước về Dương Kinh trưng bày tại Thái Miếu, trước linh vị
thần tượng vị hoàng đế anh linh hộ quốc an dân, sáng nghiệp Mạc triều thiêng
liêng trong ngày lễ chính kỵ lần thứ 469 đức Mạc Thái Tổ (1483 - 1541), trong dịp
Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội.
Thanh Đinh Nam Đao của Mạc Thái Tổ tại nhà thờ họ Phạm ở huyện Xuân
Trường, Nam Định.
Huyền tích bảo vật quốc gia 500 năm tuổi
Triều vua Minh Mệnh (1821), Phan Bá Vành khởi binh, chống lại triều đình, muốn
dùng thanh long đao của Mạc Thái Tổ làm linh khí trên trận địa. Họ Phạm (Mạc) ở
Ngọc Tỉnh đã kịp thời chôn giấu thanh long đao, không để kỉ vật của Tiên đế vào
tay Phan Bá Vành. Thế rồi, nhiều năm trôi qua, dấu tích nơi chôn giấu không còn.
Thanh long đao bị thất lạc.
Tương truyền, thuở ấy có gò đất phía Đông Nam từ đường họ Phạm (Mạc) làng
Ngọc Tỉnh bỗng nhiên "phát hỏa". Lửa tự nhiên bốc cháy, phút chốc lại vụt tắt, khi
ẩn khi hiện. Có lần lửa bén vào cả rơm rạ, giấy, vải giắt trên mái nhà. Từ đó, dân
trong vùng đặt tên con gò này là gò Con Hỏa.
Đến năm 1938, họ Phạm (Mạc) Ngọc Tỉnh trùng tu từ đường, đào hồ bán nguyệt,
như có linh ứng chỉ dẫn đã tìm thấy thanh long đao sau hơn 90 năm nằm sâu trong
lòng đất. Thanh long đao đã bị sét gỉ ăn mòn nhiều chỗ cả phần lưỡi thép và cán
đao; lại được dòng họ rước về từ đường thờ phụng như xưa. Và cũng từ đây, gò
Con Hỏa xóm Đông thôn Ngọc Tỉnh không phát hỏa nữa. Hiện tượng lạ này đến
nay còn nhiều người kể.
Năm 1986, nhà nghiên cứu lịch sử Lê Xuân Quang, hội viên Hội Khoa học lịch sử
Việt Nam về tìm hiểu hậu duệ vương triều Mạc trên đất Hà Nam Ninh. Khi tiếp
xúc với thanh long đao, ông vô cùng phấn khích và đã xin phép chi họ cho tiến
hành việc cân, đo, chụp ảnh, tra cứu tộc phả, lập lý lịch di vật để đưa vào danh
mục di vật khảo cổ học. Ông ghi lại: Thanh long đao của Mạc Thái Tổ dài 2,55m,
cân nặng 25,6kg, lưỡi đao dài 0,95m, cán đao dài 1,60m, bằng sắt rỗng, có cá chốt
chặt lưỡi đao vào cán đao. Một hình đầu rồng bằng đồng thau che kín phần cuối
lưỡi đao tiếp vào cán đao thay thế cho khâu đao. Chỗ hình đầu rồng có "cá" chốt
chặt lưỡi đao vào cán đao. Hiện nay, Đinh Nam Đao được đặt trang trọng trước
bàn thờ Mạc Thái Tổ trong khu hậu cung.
Thanh Đinh Nam Đao của vua nhà Mạc, hiện nay đang được cất giữ tại di tích khu
tưởng niệm vương triều nhà Mạc thuộc xã Ngũ Đoan, huyện Kiến Thụy, TP Hải
Phòng. Hiện nay, châu Á chỉ còn 2 binh khí được lưu thờ là vật thái bảo: Một là
thanh đao của Tống Thái Tổ nhà Bắc Tống và thứ hai là thanh long đao của Mạc
Thái Tổ.
Tính chính đáng của Vương triều Mạc
Sở dĩ nhà Mạc bị các sử gia coi là "ngụy triều" vì đã tiếm ngôi nhà Lê. Cần hiểu
rằng nhà Lê Sơ sau cuộc kháng chiến chống Minh thắng lợi đã xác lập tính chính
đáng của dòng họ mình một cách vẻ vang. Thứ nhất, nhà Lê đã được đông đảo
nhân dân ủng hộ trong suốt quá trình tiến hành kháng chiến. Bởi vậy, ngay sau khi
Lê Lợi lên ngôi, sự ủng hộ của nhân dân là lẽ đương nhiên, hợp với lòng người và
"ý trời". Thứ hai, Lê Lợi đã đại diện toàn dân thu hồi lại toàn bộ đất đai và chủ
quyền lãnh thổ qua hội thề Đông Quan với quân Minh trước khi chúng rút về
nước. Thứ ba, điều mà nhà Lê hơn hẳn so với các triều đại khác đó là sau thắng
lợi, nhà Lê đã ban bố một chính sách xây dựng đất nước với những tư tưởng duy
tân tiến bộ và nỗ lực thực hiện, đem lại cuộc sống yên bình cho nhân dân Đại Việt.
1. Đặt vấn đề
Chế độ phong kiến Việt Nam trải qua bao nhiêu thăng trầm cũng chứng kiến bấy
nhiêu sự đổi thay. Tuy không thoát khỏi hình thái kinh tế xã hội phong kiến nhưng
sự thay thế giữa các triều đại đã góp phần duy trì và phát triển xã hội Đại Việt
trong gần mười thế kỷ độc lập. Mỗi triều đại mới khi thay thế triều đại cũ đều thi
hành nhiều biện pháp khẳng định tính chính đáng của dòng họ mình để được nhân
dân, đặc biệt là giới tri thức công nhận. Vậy tính chính đáng của một dòng họ
trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam được hiểu như thế nào?
Dưới thời đại quân chủ chuyên chế, một triều đại được xác định là thống trị một
cách chính đáng khi hội đủ ba điều kiện: Thứ nhất, Triều đại đó phải có lãnh thổ
thuộc quyền quản lý của mình; Thứ hai, cư dân sống trên lãnh thổ ấy phải theo về
triều đại đó; Thứ ba: Triều đại đó phải có một đường lối xây dựng đất nước trên tất
cả các phương diện. Ngoài ra, triều đại ấy phải được thiên triều công nhận và
truyền ngôi theo dòng đích con trưởng.
Theo quan điểm đó, nhà Mạc đường đường chính chính là một triều đại chính
thống, từng tồn tại như các triều đại khác trong lịch sử chế độ phong kiến Việt
Nam. Tuy nhiên, nhà Mạc dường như vẫn bị mờ nhạt, dẫu triều đại này đã có
những đóng góp nhất định đối với lịch sử dân tộc thế kỷ XVI. Điều đáng nói là
trong khi nhà Hồ tiếm ngôi nhà Trần, nhà Mạc tiếm ngôi nhà Lê Sơ đều bị coi là
ngụy triều thì nhà Trần tiếm ngôi nhà Lý vẫn được coi là triều đại chính thống,
mặc dù những biện pháp của Mạc Đặng Dung không quá khốc liệt như cách của
Trần Thủ Độ hay Hồ Quý Ly từng làm với hoàng tộc, quan lại của triều đại trước
nhưng hành động của Mạc Đăng Dung lại bị lịch sử lên án. Giải thích điều này
như thế nào?
Sở dĩ nhà Mạc bị các sử gia coi là "ngụy triều" vì đã tiếm ngôi nhà Lê. Cần hiểu
rằng nhà Lê Sơ sau cuộc kháng chiến chống Minh thắng lợi đã xác lập tính chính
đáng của dòng họ mình một cách vẻ vang. Thứ nhất, nhà Lê đã được đông đảo
nhân dân ủng hộ trong suốt quá trình tiến hành kháng chiến. Bởi vậy, ngay sau khi
Lê Lợi lên ngôi, sự ủng hộ của nhân dân là lẽ đương nhiên, hợp với lòng người và
"ý trời". Thứ hai, Lê Lợi đã đại diện toàn dân thu hồi lại toàn bộ đất đai và chủ
quyền lãnh thổ qua hội thề Đông Quan với quân Minh trước khi chúng rút về
nước. Thứ ba, điều mà nhà Lê hơn hẳn so với các triều đại khác đó là sau thắng
lợi, nhà Lê đã ban bố một chính sách xây dựng đất nước với những tư tưởng duy
tân tiến bộ và nỗ lực thực hiện, đem lại cuộc sống yên bình cho nhân dân Đại Việt.
Dẫu vào cuối triều đại mình, nhà Lê Sơ đã bộc lộ sự suy tàn, khủng hoảng trầm
trọng với sự cai trị thối nát của những "vua quỷ" Lê Uy Mục, "vua lợn" Lê Tương
Dực, nhưng với vai trò to lớn trong cuộc kháng chiến chống giặc Minh và những
ảnh hưởng sâu sắc đến một thế kỷ trị vì, trong đó có những thời kỳ phát triển thịnh
trị được coi là hoàng kim của chế độ phong kiến Việt Nam, nhà Lê Sơ vẫn luôn là
"tượng đài" trong tư tưởng của các sử gia phong kiến. Vì thế, việc nhà Mạc bị coi
là "ngụy triều", "nghịch thần" khi đảo chính lật đổ nhà Lê là một điều dễ hiểu.
Tuy nhiên, dù các sử gia phong kiến cố tình không công nhận nhà Mạc là một
triều đại chính thống nhưng trên thực tế, nhà Mạc đã tồn tại và khẳng định được
tính chính đáng của mình với hàng loạt những chính sách cai trị đúng đắn, tiến bộ.