Lê Thánh Tông - Nhà lãnh đạo thi sĩ
Vua Lê Thánh Tông là một vị hiền vương nhưng cũng là một thi si lãng mạng.
Ngoài việc trị nước, bình dân (ngài trị vì từ năm 1460-1497), ngài rất thích đi ngao
du 4 biển 5 châu để thả hồn theo mây nước sông ngàn. Sau khi lên ngôi vào năm
18 tuổi, ngài bắt đầu tu chỉnh luật pháp, chính trị và thành lập các bộ văn hoá để
cải tiến nền văn học Việt Nam sau bao nhiêu năm bị ảnh hưởng của Bắc thuộc.
Ông nội của ngài (vua Lê Lợi - Lê Thái Tổ) là một tướng quân nên sau khi đánh
bạt quân Tàu ra khỏi đất Việt, ngài chỉ lo củng cố quân sự và chính trị để giữ
nước. Ðến đời cha của ngài (vua Lê Thái Tông), nước ta vẫn còn trong thời kỳ
"hồi sanh" nên văn chương thi thơ phải nhường bước cho những kế hoạch chống
ngoại xâm bảo vệ biên giới đất Việt. ( Vua Lê Thái Tông là người bị nàng thiếp
Thị Lộ của Ðại Công Thần Nguyễn Trãi ám hạị. Vụ oan án này đã làm gia tộc của
Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc. Ðến nửa đời vua Lê Thánh Tông, gia tộc Nguyễn
Trãi mới được giải oan).
Dưới triều đại vua Lê Thánh Tông, nước Việt đã bắt đầu bước vào một trang
lịch sử thịnh vuợng hoà bình. Không bận tâm mài kiếm giáo vì nước cường quân
mạnh, người dân Việt đã trở lại với bản tánh thuần túy Việt, tức là đã trở lại với
mộng trăng tương gió lãng mạng. Từ cổ chí kim, mỗi người Việt dều là một thi
sĩ vai vác cầy mà tâm hồn thì trôi trên mây nước từ vua dến thường dân,
chẳng con Việt nào tránh đuợc vòng "đi truyền văn hóa" nàỵ
Ðể mở mang nền văn học Việt Nam, vua Lê Thánh Tông đã chiêu hội 28 văn
thần và lập hội văn "Tao Ðàm Nhị Thập Bát Tú" mà chính ngài là nguyên soái để
sưu tầm, thi họa. Dưới sự diều khiển của ngài, các nhà quan văn như: Thân Nhân
Trung, Ðỗ Nhuận, v.v , dã soạn tập "Thiên Nam Du Hạ Tập" ( thiên nam =
phuong trời nam, du hạ = nhàn rỗi, tập = tập thơ) để ghi chép lại thi thơ, văn
chương, chính trị trong triều đại của ngàị. Tập này có hơn 100 quyển nhưng rất
tiếc, nay đã thất lạc rất nhiềụ. Ấy là thời thịnh nhất trong văn sử đời Hậu Lệ, Vua
Lê Thánh Tông đã chính tay soạn rất nhiều thơ chữ Hán trong bộ Thiên Nam như
Quỳnh Uyển Cửu Ca ( quỳnh uyển = vườn tiên, cửu ca = chín bài ca) . Ngài cũng
để lại một số bài thơ chữ nôm và rất thích đi thăm viếng các phong cảnh thiên
nhiên hữu tình của đất Việt. Ði đâu cũng hứng đề thơ và lưu truyền bút sắc cho
hậu duệ.
Thơ của vua Lê Thánh Tông
Ðề Miếu Bà
Nghi ngút đầu nghềng toả khói hương
Miếu ai như miếu vợ chàng Trương
Ngọn dèn dầu tắt dừng nghe trẻ
Làn nước chi cho lụy đến nàng
Chứng quả có đôi vừng nhật nguyệt
Giải oan chi muợn đến đàn tràng
Qua đây mới biết nguồn con ấy
Khá trách chàng Trương khéo phủ phàng
Chú Thích: Tích sự bà Trương
Bên giòng sông Hoàng Giang (nay thuộc tỉnh Hà Nam) có một miếu của bà
Trương. Tục truyền bà Trương là một giai nhân gả cho họ Trương. Lấy nhau đuợc
nửa năm thì chàng Trương nhập ngũ chống giặc Bắc khi vợ mới có thai vài tháng.
Nàng sanh đuợc một đứa con dặt tên là Ðản.
Ngày qua đêm lại, chồng nàng vẫn miệt mài ngoài biên giới. Dưới ánh đèn đêm
chợp choàng, nàng chỉ vào bóng mình trên vách tường để trả lời câu hỏi ngây thơ
của Ðản "cha con đâủ". Dần rồi đứa trẻ tưởng bóng đêm là cha nó.
Khi người chồng trở về, đứa con không nhận chàng là cha mà cứ bao? "ông
không phải là cha tôi". Oan nghiệp cho nàng Trương, chồng nàng tưởng nàng đã
ngoại dâm khi chàng không có ở nhà nên dã nghi kỵ đay nghiến hành hạ nàng.
Chịu không nổi sự nghen tuông oan ức, nàng gieo mình xuống sông Hoàng Giang
tự vẫn.
Một đêm kia, chàng Trương ngồi chơi với con dưới ánh đèn thì đứa nhỏ tự
nhiên vui mừng chỉ vào bóng đêm mà réo "cha tôi về kià". Lúc dó chàng mới biết
đã vu oán cho người vợ trung thành, đáng thương. Ðể chuộc tội với người vợ qúa
cố, chàng lập miếu thờ nàng bên giòng sông Hoàng Giang (có một dã sử rất "liêu
trai chí dị" về nàng Trương hoá tiên đã đuợc dân chúng khẩu truyền đó là 1
truyện dài khác sẽ trích cùng ban. đoc. sau này!).
Sự tiết trinh oan ức của nàng Trương đã động lòng thánh hoàng và ngài dề bài
thơ trên lưu truyền cho đến nay.
Vua Lê Thánh Tông ngồi trên ngai vàng nguy nga vương giả nhưng tâm hồn
của ngài vẫn là một hồn thơ rất dễ rung động trước những tiểu cảnh thiên nhiên
của trời dất. Ngắm nhìn một con cóc trong hang động, ngài dã để lại bốn câu thơ
bất hủ:
Thơ nôm của vua Lê Thánh Tông
Con Cóc
Bác mẹ sinh ra vốn áo sồi (1)
Chốn nghiêm(2), thăm thẳm một mình ngồi
Nghiến răng ba cái nghiêng trời động(3)
Tắc lưỡi vài hồi chúng kiến lui(4).
(có bản chép câu 3, 4 như sau)
Tép miệng năm ba con kiến gió
Nghiến răng chuyển động bốn phương trời.
Chú Thích:
(1). Áo sồi - áo dệt bằng loại tơ xấu hạng có nhiều mấu
(2). Chốn nghiêm - chốn nghiêm trang như cung đường, điện vua hang cóc).
(3). Nghiến răng - Khẩu truyền trong dân gian là mỗi khi cóc nghiến răng là
điềm trời sắp có giông bão cũng như kiến kéo vào nhà trước cơn bão đến.
(4) - Cóc thè lưỡi ăn kiến
Truyền Thuyết về Lê Thánh Tông (trích từ Tang Thương Ngẫu Lục của cụ
Phạm Ðình Hổ)
Ðức Quang-Thục Hoàng Thái Hậu (mẹ của vua Thánh Tông) thuở còn hàn vi,
ngụ tại phía tây nam nhà Quốc Tử Giám. Nơi đây, nước hồ bao bọc chung quanh
nhà, các thầy tướng số đều cho là có vuợng khí của Thiên Tử.
Vì có họ hàng với các phi-tần trong cung, bà thường tới, lui trong cung điện.
Vua Lê Thái Tông (1434 - 1442) trông thấy yêu thương , khi về có mang. Ðến kỳ
nằm giường cữ, bà sanh đuợc một nam nhi, thiên tu tuyệt lạ. Thuở nhỏ, theo mẹ ở
luẩn-quẩn trong đám thường dân, nhưng đuợc nổi tiếng về văn học. Vua Thái
Tông nghe tin liền vời đến, phong cho tước vương.
Sau khi Lạng Sơn Lệ-Ðức-hầu bị phế, các đại thần liền đón rước vị vương này,
lập lên làm vua, tức vua Lê Thánh Tông(1460-1497). Vua thường đến thăm chỗ
ngôi nhà cũ của Thái Hậu, rồi cho xây điện Huy-Văn, và dựng xây ngôi chùa Dục-
Khánh ở bên cạnh.
Trước khi Thái - Hậu có mang, nàng chiêm bao đến chỗ Thuợng Ðế, thấy
Thuợng Ðế sai một vị Tiên-Ðồng giáng trần làm vua nước Nam, và cho một người
Ngọc-Nữ theo xuống để sánh đôi Tiên-Ðồng do dự, không vâng chỉ ngaỵ Thuợng
Ðế cả giận, ném viên ngọc-khuê làm sầy sát ở trán. Tiên đồng dập đầu lạy tạ và
xin ban cho một người giúp việc. Thuợng Ðế trỏ một viên trong bọn các quan, cho
đi theo giúp. Viên quan đó cúi dầu lạy xin cố từ. Thuợng Ðế dập vào vai không
cho cáo từ. Lúc Hoàng Thái Hậu tỉnh giấc thì ngài hạ sanh ra vua Thánh Tông, vết
ngọc-khuê ở trên trán hãy còn rõ rệt.
Khi đã lên ngôi đại bảo, vua tôn bà mẹ lên làm Hoàng-Thái-Hậu và thường cho
dò tìm người trong chiêm bao. Chưa gặp, lòng vẫn không vui.
Khoảng đầu niên-hiệu Thái-Hoà (1443-1453), Tế-văn-hầu Nguyễn Trãi phải tội,
có người con gái bị bắt vào quan, sung vào hàng nữ nhạc. Người con gái ấy tư sắc
tuyệt đẹp, tuổi đã 17, 18 mà không biết nói. Ðến nay theo đồng bạn vào cung hầu
yến, vì câm, nên chỉ ngồi gõ phách.
Khi vua bước lên Ngự tọa, người con gái bỗng cầm phách hát "Hẹn nhau từ
thủa Thiên-Ðình, lòng nào nỡ phụ tâm tình thế ru". Tiếng hát du dương, du âm
nhường quấn trên rường như khúc hát Quân-Thiên (điệu hát trên Ðế-Ðình). Vua
lấy làm lạ hỏi, thì người con gái nói năng giống hệt người Ngọc-nữ trên chỗ
Thuợng Ðế. Vua liền thu nạp vào hậu cung, sách lập làm Trường-Lạc Hoàng Hậụ
Khoa Qúy-Mùi, niên hiệu Quang-Thuận(1463) thứ tư, ngày truyền lô kỳ thi Ðình.
Trạng nguyên Lương Thế Vinh vào bái yết, hai vai hơi lệch, không ngay ngắn.
Vua kinh dị sai vào bái yết Hoàng Thái Hậu.
Thái Hậu nhận ra hình mạo Lương đúng là người trong mộng trên Ðế Ðình khi
trước. Hai cung(Thái Hậu và vua) đều rất vui vẻ. Vua bèn trao cho Lương chức
Hàm-Lâm Thị Ðộc, dự vào hàng 28 ngôi sao trên Tao Ðàn(Tao Ðàn Nhị Thập Bát
Tú). Những thơ văn xướng họa có ghi chép trong các tập "Thiên-Nam Du Hạ" và
bức đồ "Bình-Nam Chỉ Chưởng.
Chùa Dục-Khánh sau lầm là chùa Hoa-Văn. Ðiện ở phía tả, thờ Thần-Khâm đức
Quang-Thục Hoàng Thái Hậụ Khoảng năm Dương-Ðức, đời Trung-Hưng(1672-
1673), Tây-cung Hoàng-Thái-Hậu chữa lại chùa Khán-Sơn, phía hữu chính diện
thờ ngự dung đức Thần-Tôn Uyên Hoàng Ðế. Từ hồi thay đổi triều vua trở về sau,
chuà Khán-Sơn đổ nát, Ngự dung thiên đến chuà Dục Khánh, nay ở gian hữu tiền
đường(có người lầm là tuợng đức Thánh Tôn).