Tải bản đầy đủ (.pdf) (5 trang)

Hoằng Nghị Đại Vương - Thân phụ Thái sư Trần Thủ Độ 2 pdf

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (123.21 KB, 5 trang )

Hoằng Nghị Đại Vương - Thân phụ Thái sư Trần Thủ Độ
2

Các cụ cao niên trong thôn Phương La giải thích vì Trần Hoằng Nghị ở vào “bậc
ông của vua Trần Thái Tông”, nên có tên như vậy. Cũng có thể là như vậy, nhưng
theo chúng tôi, chữ “Ông” trước kia (và cả ngày nay), trong khẩu ngữ nhằm để chỉ
một người có quyền thế, có danh vọng trong vùng, (như trong thành ngữ “Con
Ông, cháu Cha” chẳng hạn), ở đây để chỉ cụ Trần Hoằng Nghị.
Hiện trong Miếu nhỏ còn lưu giữ được một tấm bài vị có ghi dòng chữ:
“Phụng Đại Vương Thượng đẳng Phúc thần Trần Hoàng Nghị, đồng tứ vị phu
nhân” (Nghĩa là: Nơi đây phụng thờ vị Đại vương được phong làm Thượng đẳng
Phúc thần là Trần Hoàng Nghị cùng với bốn bà phu nhân của ngài).
Dòng chữ trên cho chúng ta biết: cụ Trần Hoằng Nghị đã từng được tôn làm
Phúc thần của làng ứng Mão - Phương La. Trần Hoằng Nghị được tôn vinh làm
“Thần làng - Tổ họ”. Cụ cũng chính là một trong số những người đầu tiên về nơi
đây khai canh lập ấp, vào những thập niên cuối thế kỷ thứ XII. Nhưng điều đặc
biệt là cụ được thờ tại Đền Nhà Ông, chứ không phải tại đình làng như thường
thấy ở các nơi khác.
Việc cụ Trần Hoằng Nghị cùng với người dân mở mang vùng đất Bến Trấn vào
cuối đời Lý còn để lại các dấu ấn lịch sử tại đất Phương La - Xuân La - Trác
Dương. Cả hai thôn Xuân La và Trác Dương cùng đều thờ Hoằng Nghị đại vương
làm thần thành hoàng: Đình Phương La, hiện thờ “Lục vị thành, hoàng (6 vị) -
tương truyền là sáu anh em họ Trần - đã tiếp nối sự nghiệp của Trần Hoằng Nghị,
tổ chức khai khẩn làng xã, xây dựng thôn trang, giúp nhà vua dẹp loạn, đánh giặc
giữ nước
Như trên đã nói, Trần Hoằng Nghị có 4 bà phu nhân. Có lẽ, cụ sinh được khá
nhiều con, nhưng sử sách và thần tích chỉ còn ghi chép được 3 người con trai, đó
là: Trần An Quốc, Trần An hạ và Trần An Bang (tức Trần Thủ Độ).
Về Trần An Quốc, chính sử của ta có nhắc tới ông. Đó là vào năm Giáp tý
(1264), tháng Giêng, Thái sư Trần Thủ Độ chết. Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho
biết: “Thái tông có lần muốn cho người anh của Thủ Độ là An Quốc làm tể tướng.


Thủ Độ tâu: “An Quốc là anh thần, nếu cho là giỏi hơn thần , thị thần xin trí sĩ,
nếu cho thần giỏi hơn An Quốc thì không thể cử An Quốc. Nếu anh em đều làm tể
tướng thì việc triều đình sẽ ra làm sao?. Vua bèn thôi” (4).
Sự kiện trên không chỉ cho biết nhân cách cao, đức độ lớn của Trần Thủ Độ, mà
còn hé mở cho chúng ta thấy Trần An Quốc cũng là một nhân vật có tài năng. Rõ
ràng tài năng, đức độ của Trần An Quốc phải vượt lên trên nhiều vị trong hoàng
tộc nhà Trần thời bấy giờ, nên vua Trần Thái Tông mới có ý định cử ông làm chức
Tể tướng đứng ngang hàng với Trần Thủ Độ.
Nhưng tư liệu điền dã đã khoả lấp sự thiếu hụt này. Hiện nay, tại thôn Vũ Bị, xa
Vũ Bản, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam vẫn còn lưu giữ được những di tích liên
quan tới Trần An Quốc. Tại đây, còn có Phủ Dũ, vừa thờ Phật, vừa thờ thần. Các
vị thần được thờ, chính là Trần An Quốc với phu nhân là bà Thiềm Hoa công chúa
và người con trai là Cự Việt Tín hầu. Trong phủ thờ, chúng tôi đã đọc được 5 đạo
sắc phong (2 đạo phong cho Thiềm Hoa công chúa, 1 đạo phong cho An Quốc chi
thần và 2 đạo phong cho Cự Việt Tín hầu tôn thần).
Người anh thứ hai của Trần Thủ Độ là Trần An Hạ thì không thấy chính sử của
ta ghi chép một dòng nào. Tuy nhiên, tại Đình Miễu, thôn Kênh, xã Đông Quang
và Đình Quán, thôn Quán, xã Đông Xuân, cùng thuộc huyện Đông Hưng, tỉnh
Thái Bình đều có thờ An Hạ và phu nhân là Đàm Chiêu Trinh làm thần thành
hoàng. Tại đình Miễu, chúng tôi được đọc 2 đạo sắc phong (một phong cho An Hạ
đại vương vào năm Tự Đức thứ 6 (1853) và một phong cho Lý Triều An Hạ
vương phu nhân tôn thần (tức bà Đàm Chiêu Trinh) vào năm Khải Định thứ 2
(1917). Còn tại Đình Quán, có tới 5 đạo sắc phong, nhưng chỉ có 1 đạo sắc năm
Khải Định thứ 9 (1924) là phong cho An Hạ đại vương làm Thượng đẳng thần.
Đây có thể là khu điền trang, thái ấp của vợ chồng An Hạ Đại vương và Đàm
Chiêu Trinh.
Còn người con trai thứ ba của Hoằng Nghị Đại Vương là Trần An Bang, tức
Trần Thủ Độ, thì sử sách đã chép tương đối rõ ràng về ông. Có điểu một câu hỏi
đặt ra đối với chúng ta: Tài năng quân sự và chính trị của Trần Thủ Độ chắc chắn
hình thành từ rất sớm - trong khoảng thời gian từ khi ông 16,17 tuổi đến 24, 25

tuổi (Năm 1224, khi tròn 30 tuổi, đã được “uỷ nhiệm cho một mình chỉ huy sứ
Trần Thủ Độ quản lĩnh các quân điện tiền hộ vệ cấm đình” (5), vậy ai là người dạy
dỗ và luyện rèn tài năng cho ông?
Chúng đã biết vào cuối đời Lý, các thế lực phong kiến phân tán rất mạnh. Các
quý tộc được phong tước, cấp đất làm chủ thái ấp của mình, hay trấn trị các địa
phương xa, có rất nhiều gia nô, thần thuộc, có quân đội riêng, và có lực lượng kinh
tế ở trong tay. Một số hào trưởng địa phương thuộc các cự tộc, tuy không được
phong tước cấp đất, nhưng thực tế vẫn nắm quyền hành ở các địa phương. Nhân
tình trạng suy yếu của chính quyền trung ương, họ cũng nổi dậy đánh chiếm các
miền xung quanh, lợi dụng danh nghĩa chống triều đình trung ương, tập họp được
một lực lượng quần chúng đáng kể vốn sẵn lòng bất bình với nhà Lý.
Sử cũ chép rõ người anh trai của Trần Hoằng Nghị, bác ruột của Trần Thủ Độ là
Trần Lý vốn làm nghề đánh cá, sau khi trở nên giàu có, nhân loạn chiếm cứ miền
Hải ấp. Sau nay, Trần Lý bị chết, con thứ là Trần Tự Khánh thay cha thống lĩnh
binh chúng, xưng là Thuận Lưu Bá, đóng quân ở Thuận Lưu. Trong điều kiện xã
hội và hoàn cảnh chính trị loạn lạc như vậy, rõ ràng Trần Hoằng Nghị không thể
không tổ chức binh chúng và thao luyện võ nghệ để tự bảo vệ gia thuộc và đất đai
của mình. Tương truyền Trần Hoằng Nghị đã bị chết trận cùng với một số binh
lính dưới quyền của ông.



×