Bệnh tay chân miệng ở trẻ: coi chừng các
biến chứng
Bệnh tay chân miệng ở trẻ em đang có diễn biến phức tạp. Tại thành phố
HCM, từ đầu năm đến nay đã có hơn 1.200 bệnh nhi mắc bệnh này. Công
tác phòng bệnh trở nên quan trọng hơn bao giờ hết vì bệnh chưa có thuốc
điều trị đặc hiệu.
Tác nhân gây bệnh
Bệnh tay chân miệng do siêu vi trùng đường ruột thuộc nhóm
Coxasackieviruses và Enterovirus 71 gây ra. Bệnh lây lan nhanh qua các
chất tiết từ mũi, miệng, nước bọt khi trẻ ho, hắt hơi bắn ra hoặc dính từ tay
trẻ bệnh sang trẻ lành.
Biểu hiện bệnh
Trẻ bị lở, loét niêm mạc miệng, chảy nước bọt nhiều. Các nốt lở loét có
đường kính 2-3mm, xuất hiện ở vòm họng, phía trong má, lợi (nướu), lưỡi.
Biểu hiện bệnh ở miệng
Xuất hiện bóng nước ở vùng da thuộc tay, chân, miệng. Các bóng nước có
đường kính khoảng 2-10mm, hình tròn hoặc bầu dục, nổi hẳn trên da hoặc
chìm dưới da ở dạng ban màu hồng, không đau, bóng nước khô đi để lại vết
thâm trên da.
Biểu hiện bệnh ở chân
Biểu hiện bệnh ở tay
Bệnh khiến trẻ chán ăn hoặc bỏ ăn, quấy khóc, khó ngủ, hay giật mình, trẻ
có thể không sốt , sốt nhẹ hoặc sốt cao. Một số trẻ mắc bệnh tay chân miệng
không điển hình sẽ không có tất cả các triệu chứng nêu trên mà chỉ loét
miệng, bóng nước không rõ ràng mà chỉ có chấm hoặc ban màu hồng.
Biến chứng
Sau khi mắc bệnh từ 2 đến 7 ngày, trẻ có các dấu hiệu thần kinh như: run
giật cơ, bứt rứt, lờ đờ, giật mình chới với, tay chân yếu, co giật, hôn mê. Các
dấu hiệu tim mạch xuất hiện với mạch nhanh, tay chân lạnh, nổi vân da, thở
dốc, sùi bọt hồng ở miệng. Nếu không được cấp cứu kịp thời, trẻ nhanh
chóng bị suy hô hấp, suy tim và tử vong.
Một số bệnh có các triệu chứng tương tự như bệnh tay chân miệng
Thủy đậu: bóng nước mọc thành nhiều đợt, mọc rải rác toàn thân chứ không
chỉ tập trung đặc biệt ở tay, chân, miệng.
Dị ứng: bóng nước không có hoặc chỉ rất ít, chủ yếu là các nốt ban; có thể
tìm thấy yếu tố gây dị ứng.
Nhiễm trùng da: bóng nước đỏ, có mủ, gây đau; không có tổn thương trong
niêm mạc miệng.
Chăm sóc và điều trị:
Chỉ điều trị tại nhà với những trường hợp nhẹ, tức là bệnh nhi chỉ có loét
miệng hoặc loét miệng và bóng nước trên da.
Cho trẻ nghỉ ngơi trong phòng yên tĩnh, thoáng nhưng không có gió lùa,
cách ly trẻ bệnh với trẻ lành.
Thực hiện vệ sinh: cho trẻ xúc miệng với nước muối pha loãng hoặc nước
muối sinh lý 9‰ (chai 500ml có bán tại các hiệu thuốc). Người chăm sóc trẻ
phải rửa tay bằng xà phòng sát khuẩn trước và sau khi tiếp xúc với trẻ.
Theo dõi nhiệt độ của trẻ thường xuyên, hạ nhiệt bằng cách chườm nước ấm
30-32 độ C vào trán, nách, bẹn cho trẻ. Khi trẻ sốt từ 38,5 độ C trở lên mới
dùng thuốc hạ sốt (paracetamol 10 -15mg/kg cân nặng/ trong 4 – 6 giờ).
Cho trẻ uống các vitamin (C, PP, A) và kẽm để giúp da và niêm mạc bị tổn
thương nhanh hồi phục, dùng kháng sinh khi có bội nhiễm theo chỉ định của
bác sĩ .
Cho trẻ ăn những thức ăn mềm, mịn, mát (để trẻ không bị đau khi thức ăn đi
ngang qua vết loét) như súp xay nhuyễn, sữa, sữa chua, caramen, hoa quả
nghiền… Chú ý dùng thìa trơn nhẵn, không có cạnh sắc để bón cho trẻ, khi
bón hết sức nhẹ nhàng để tránh đụng chạm vào vết loét ở môi và đầu lưỡi
của trẻ.
Theo dõi sát diễn biến bệnh của trẻ để kịp thời phát hiện các dấu hiệu nặng.
Nếu thấy có một trong các triệu chứng sau thì phải đưa trẻ đi cấp cứu ngay:
sốt cao trên 39 độ C, giật mình liên tục, chân tay run giật, hoảng hốt, chới
với, quấy khóc, bứt rứt, co giật.
Phòng bệnh
- Đẩy mạnh công tác giữ gìn vệ sinh là cách phòng bệnh hữu hiệu nhất:
. Thường xuyên lau chùi, dọn dẹp nơi ở và khu vui chơi của trẻ. Rửa sạch đồ
chơi, vật dụng, sàn nhà bằng dung dịch sát khuẩn.
. Nhắc nhở và giám sát trẻ rửa tay trước khi ăn, sau khi đi đại tiện, sau khi
chơi đồ chơi.
. Người tiếp xúc với trẻ cần rửa tay sạch sẽ trước và sau khi tiếp xúc với trẻ
bệnh đặc biệt là sau khi thay quần áo/tã lót hoặc tiếp xúc với những vết loét,
phân, nước tiểu, nước bọt của trẻ bệnh.
. Ăn thức ăn đã nấu chín, uống nước đã đun sôi.
- Khi trẻ xuất hiện các triệu chứng sốt cao, giật mình, đi đứng loạng choạng,
thở mệt, tay chân nổi hoặc không nổi bóng nước…, phải nhanh chóng đưa
trẻ đến bệnh viện để được chẩn đoán và điều trị kịp thời.
Cách ly trẻ bệnh với trẻ lành, cho trẻ nghỉ học ngay khi có các dấu hiệu bệnh
để tránh tình trạng bệnh lây lan nhanh trong các lớp học, vườn trẻ và cộng
đồng.