MOD SECURITY
PHẦN 1: CƠ BẢN VỀ GIAO THỨC HTTP
Phần này chỉ giới thiệu sơ lược các kiến thức cơ bản về giao thức HTTP, tạo tiền đề để
phần 2 trình bày về MODSECURITY. Vì vậy, nếu bạn nào cần tìm hiểu sâu hơn, hãy
tham khảo RFC hoặc cuốn HTTP Essentials
11. Giới thiệu chung
1.1.1. Lớp của giao thức HTTP
HTTP (Hypertext Transfer Protocol) là giao thức thuộc lớp ứng dụng trong mô hình tham
chiếu OSI. Hoạt động thông thường ở port 80 và là giao thức hướng kết nối. Nói cách
khác, trước khi thực hiện phiên làm việc, giao thức HTTP sẽ thực hiện bắt tay ba bước.
Hình 1.1 Lớp của giao thức HTTP
1.1.2. URI – Uniform Resource Identifiers
Thông thường, chúng ta thường quen thuộc với định nghĩa URL (Uniform Resource
Locators) Địa chỉ là một ví dụ về URL. Trên thực tế, không
có nhiều khác biệt giữa hai khái niệm URL và URI, URL một chỉ là một loại của URI.
URI là một đặc điểm kỹ thuật của giao thức HTTP. Như hình dưới cho thấy một URI
chứa rất nhiều các thành phần, không đơn giản như URL.
Hình 1.2 Cấu trúc đầy đủ của URI
- Protocol: Xác định các giao thức và các ứng dụng cần thiết để truy cập tài nguyên,
trong trường hợp này là giao thức HTTP
- Username: Nếu giao thức hỗ trợ khái niệm về tên người dùng thì username cung cấp
tên người dùng để chứng thực truy cập tài nguyên
- Password: Mật khẩu truy cập tài nguyên
- Host: Tên miền truyền thông cho webserver,
- Port: Là port cho các giao thức lớp ứng dụng, ví dụ như HTTP là cổng 80 (có thể bỏ
qua tham số này).
- Path: đường dẫn phân cấp đến tài nguyên được đặt trên Server
- File: Tên các tập tin tài nguyên trên Server
- Query: Các tuy vấn thêm thông tin về tài nguyên của Client
- Fragment: Một vị trí nào đó trong tài nguyên
1.2. Hoạt động HTTP
1.2.1. Kết nối
HTTP thuộc giao thức TCP, vì vậy trước khi tiến hành truyền thông phải thực hiện phiên
kết nối TCP.
Trước đây, mỗi kết nối TCP sẽ thực hiện chỉ 1 request HTTP và 1 response, nghĩa là nếu
client request 2 lần thì sẽ cần 2 phiên kết nối TCP. Điều này gây ra nhiều bất cập, ảnh
hưởng rất nhiều đến hiệu năng hoạt động của server.
Hình 1.3 Hoạt động của HTTP
Hiện nay, giao thức HTTP đã hỗ trợ một phiên kết nối TCP cho phép nhiều HTTP
request
Hình 1.4 Hoạt động kết nối của HTTP
1.2.2. Pipelining
Pipelining cũng nhằm mục đích cải thiện hiệu năng của HTTP. Client không cần phải chờ
Server response mới có thể request và ngược lại.
Hình 1.5 Hoạt động Pipelining của HTTP
1.2.3. Web Page Retrieval – GET
Hoạt động HTTP đơn giản nhất là GET. Đó là cách để Client lấy một đối tượng hoặc tài
nguyên nào đó trên Server. Các trình duyệt sẽ yêu cầu một website từ Server với GET.
Hình 1.6 Hoạt động GET của HTTP
Với ví dụ trên, Client khởi tạo và gởi thông điệp GET đến Server, thông điệp này định
danh đối tượng mà Client yêu cầu Server đáp ứng bằng một URI (Uniform Resource
Identifier). Server có thể trả về tài nguyên mà Client yêu cầu với một mã trạng thái 200
OK. Nếu Server không đáp ứng được yêu cầu Client thì nó sẽ gởi về một số mã trạng thái
khác được mô tả ở bảng bên dưới.
Bảng 1.1 Mã trạng thái được trả về của HTTP
1.2.4. Web Forms – POST
Trong khi GET cho phép một Server gửi thông tin đến Client, thì hoạt động POST cung
cấp một cách để Client gửi thông tin đến các Server. Trình duyệt sử dụng POST để gởi
nội dung các Form đến Web Server. Hình dưới cho thấy một ví dụ như vậy.
Hình 1.7 Ví dụ về Web Forms POST
Hình 1.8 Hoạt động POST của HTTP
Như hình trên cho thấy, hoạt động POST đơn giản như GET. Client gửi một thông điệp
POST và bao gồm thông tin mà nó muốn gửi đến server. Cũng giống như GET, một phần
của thông điệp POST là URI. Nhưng trong trường hợp này, URI xác định các đối tượng
trên Server có thể xử lý thông tin.
Cũng như GET, Server có thể trả về thông tin cho client. Đối với trình duyệt web, thông
tin thường là một trang web mới để hiển thị.
1.2.5. File Upload – PUT
Các hoạt động PUT cũng cung cấp một cách để client gửi thông tin đến các Server. Hay
nói cách khác, PUT dùng để upload dữ liệu lên server.
Như hình dưới cho thấy, hai hoạt động nhìn rất giống nhau. Với POST, Client gửi bao
gồm một URI và dữ liệu. Web Server về mã trạng thái, tuỳ chọn kèm theo và dữ liệu. Sự
khác biệt giữa POST và PUT ở chỗ URI : Với POST, các URI xác định một đối tượng
trên Server mà có thể xử lý dữ liệu. Với một PUT, các URI xác định đối tượng trong đó
các Server nên đặt dữ liệu (ví dụ đường dẫn cho Server đặt dữ liệu).
Trong khi một POST URI thường chỉ ra một chương trình, script thì PUT uri thường là
đường dẫn và tên cho tập tin.
Hình 1.9 Hoạt động PUT của HTTP
Hình 1.10 Ví dụ về File Upload - PUT
1.2.6. File Deletion – DELETE
Với GET và PUT, giao thức HTTP trở thành một giao thức chuyển file đơn giản. Hoạt
động DELETE sẽ hoàn thành chức năng này bằng cách giúp client xoá các đối tượng, tài
nguyên từ các server.
Như hình dưới cho thấy, client gửi một thông điệp DELETE cùng với các URI của đối
tượng mà server nên xoá. Các server đáp ứng với một mã trạng thái và dữ liệu kèm theo.
Hình 1.11 Hoạt động File Delection - DELETE
1.2.7. Trạng thái - HEAD
Các hoạt động của HEAD giống như GET, ngoại trừ Server không trả lại đối tượng thực
tế yêu cầu. Cụ thể, server sẽ trả về một mã trạng thái nhưng không có dữ liệu. (HEAD có
nghĩa là "tiêu đề," nghĩa là server chỉ trả về thông điệp chứa tiêu đề chứ không chứa dữ
liệu) .
Client có thể sử dụng thông điệp HEAD khi muốn xác minh rằng một đối tượng có tồn tại
hay không,.
Ví dụ: Có thể sử dụng thông điệp HEAD để đảm bảo liên kết đến một đối tượng hợp lệ
mà không tiêu tốn băng thông.
Cache trong trình duyệt cũng có thể sử dụng thông điệp HEAD để xem một đối tượng đã
thay đổi hay không, nếu không thay đổi thì hiển thị thông tin đã được lưu trước đây, nếu
thay đổi thì sẽ thực hiện GET để lấy dữ liệu về từ Server
1.3. Thông điệp HTTP
Các phần trước đã trình bày hoạt động của HTTP, và chúng ta đã xem xét từng thông điệp
cụ thể. Không giống như các giao thức truyền thông khác, các thông điệp HTTP chủ yếu
là các văn bản tiếng Anh. Thay vì lo lắng về các bit và byte, trong phần này chúng ta xem
xét những từ mà HTTP định dạng.
Phần này sẽ trình bày cấu trúc tổng thể của thông điệp HTTP. Chúng ta sẽ thấy, một thông
điệp HTTP bắt đầu với một “line” hay một mã trạng thái, có thể được theo sau bởi các
tiêu đề (header) khác nhau và phần thân (body) của thông điệp.
1.3.1. Cấu trúc của thông điệp HTTP
HTTP có hai tác nhân là client và server. Các client gởi yêu cầu (request) và server trả lời
(response). Vì vậy, chúng ta sẽ phân tích hai thông điệp chính là HTTP Requests và
HTTP Responses.
a. HTTP Request
Hình 1.12 Cấu trúc thông điệp HTTP Request
Hình trên cho thấy cấu trúc cơ bản của HTTP Requests. Một HTTP Requests. bắt đầu bởi
Request-Line. Request-Line có thể được theo sau bởi một hoặc nhiều header và body.
Để cụ thể hơn, hình bên dưới cho thấy một thông điệp http (dưới dạng văn bản) do
Internet Explorer của Microsoft gửi khi người dùng truy cập vào trang www.ft.com. Dòng
đầu tiên là Request-Line, và tiêu đề thông điệp tạo nên phần còn lại của văn bản.
Hình 1.13 Một ví dụ về nội dung thông điệp HTTP
Hình dưới phân tích cụ thể hơn Request-Line, bao gồm 3 phần: Method – phương thức
của thông điệp, URI, và Version- phiên bản của HTTP
Hình 1.14 Ví dụ cụ thể về Request-Line
Phương thức (method) cụ thể xuất hiện đầu tiên trong Request-Line. Trong ví dụ trên đây
là một phương thức GET
Mục tiếp theo trong Request-Line là Request-URI. Request-URI chứa nguồn tài nguyên
cần truy cập. Trong ví dụ trên, Request-uri là (/), chỉ ra một yêu cầu đối với các nguồn tài
nguyên gốc. Phần cuối cùng của Request-Line là phiên bản HTTP. Như ví dụ trên cho
thấy, HTTP phiên bản 1.1.
b. HTTP Response:
Request Resonse bắt đầu bởi Status-Line (dòng mã trạng thái). Sau đó là phần thông tin
của Header và một dòng trắng. Cuối cùng là phần body.
Hình 1.15 Cấu trúc thông điệp HTTP Response
Status-Line bắt đầu bởi số phiên bản của HTTP (trường hợp này là HTTP/1.1), sau đó là
mã trạng thái(trường hợp này là 200 OK)
Hình 1.16 Cụ thể trường Status-Line
1.3.2. Các trường trong HTTP header
Hình 1.17 Ví dụ về HTTP header
Như chúng ta đã thấy ở các phần trước, HTTP Request và HTTP Response có thể bao
gồm một hoặc nhiều thông điệp header (message header). Message header bắt đầu với
một tên trường và dấu hai chấm (:).
Như ví dụ trên, các Message header là Accept: , Accept-Language…
Trong HTTP header có rất nhiều trường đảm nhận các tính năng, mục đích khác nhau.
Bài viết này chỉ mang tính giới thiệu nên sẽ không trình bày. Các bạn có thể tham khảo ở
Kết thúc phần 1
PHẦN 2: MODSECURITY
2.1. GIỚI THIỆU MODSECURITY
ModSecurity là một Opensource web application firewall được Ivan Ristic phát triển
dành cho Web Server Apache. Ivan Ristic cũng là tác giả quyển sách “Mod Security
Handbook”. Ông là một người có rất nhiều kinh nghiệm trong bảo vệ Web Server
Apache. Ông đã có nhiều thời gian nghiên cứu Web Application Security, Web Intrusion
Detection, và Security Patterns. Trước khi chuyển sang lĩnh vực security, Ivan đã có
nhiều năm làm việc như một Developer, System Architect, Technical Director trong phát
triển phần mềm. Ông là người sáng lập ra công ty ThinkingStone làm các dịch vụ liên
quan đến web application security.
Hiện tại ModSecurity sử dụng giấy phép GPL, hoàn toàn miễn phí
2.2. CÁC KHẢ NĂNG CỦA MODSECURITY
Hình 2.1 Mô hình tổng quan của ModSecurity
- Request filtering: Tất cả các request gửi đến web server đều được phân tích và cản lọc
(filter) trước khi chúng được đưa đến các modules khác để xử lý
- Understanding of the HTTP protocol: ModSecurity là một tường lửa ứng dụng nên
nó có khả năng hiểu được giao thức HTTP. ModSecurity có khả năng cản lọc dựa trên
các thông tin ở HTTP Header hay có thể xem xét đến từng thông số hay cookies của các
request vv
- POST payload analysis: Ngoài việc cản lọc dựa trên HTTP Header, ModSecurity có
thể dựa trên nội dung (payload) của POST requests.
- Audit logging: Mọi requests đều có thể được ghi lại (bao gồm cả POST) để người
quản trị có thể theo dõi nếu cần.
- HTTPS filtering: ModSecurity có thể phân tích HTTPS.
- Compressed content filtering: ModSecurity sẽ phân tích sau khi đã giải nén các các dữ
liệu được yêu cầu.
Hình 2.2 Quá trình xử lý các request của Apache và ModSecurity
Modsecurity cho phép chúng ta đặt rule tại một trong năm thời điểm trong chu kỳ xử lý
của Apache như sau:
1. Phase Request Header: Rule được đặt tại đây sẽ được thực hiện ngay say khi Apache
đọc request header, lúc này phần request body vẫn chưa được đọc.
2. Phase Request Body: Đây là thời điểm các thông tin chức năng chung đưa vào vào
được phân tích và xem xét, các rule mang tính ứng dụng hướng kết nối (application-
oriented) thường được đặt ở đây. Ở thời điểm này, Server đã nhận đủ các thông số của
request và phần request body đã được đọc. Modsecurity hỗ trợ ba loại mã hoá request
body
+ application/x-www-form-urlencoded: Dùng để truyền form dữ liệu
+ multipart/form-data: Dùng để truyền file
+ text/xml: Dùng để phân tích dữ liệu XML
3. Phase Response Header: Đây là thời điểm ngay sau khi phần response header được
gửi trả về cho client. Chúng ta đặt rule ở đây nếu muốn giám sát quá trình sau khi phần
response được gửi đi.
4. Phase Response Body: Đây là thời điểm chúng ta muốn kiểm tra những dữ liệu
HTML gửi trả về.
5. Phase logging: Là thời điểm các hoạt động log được thực hiện, các rules đặt ở đây sẽ
định rõ việc log sẽ như thế nào, nó sẽ kiểm tra các error message log của Apache. Đây
cũng là thời điểm cuối cùng để chúng ta chặn các kết nối không mong muốn, kiểm tra
các response header mà chúng ta không thể kiểm tra ở phase 3 và phase 4.
2.3. CÀI ĐẶT VÀ CẤU HÌNH
(phần cài đặt được tham khảo từ một bài viết của forum ceh.vn, có một số chỉnh sửa cho
phù hợp )
Trước khi cài đặt, chúng ta phải đảm bảo web server Apache đã hoạt động tốt. Distro
Linux sử dụng là CentOS5 và phiên bản ModSecurity sử dụng là 2.5. Có thể thực hiện
trên các Distro khác như Ubuntu, Fedora
- Thực hiện tải mã nguồn về
Code:
wget />
01:52:06 (161 KB/s) - `modsecurity-apache_2.5.11.tar.gz' saved [1338425/1338425]
- Thực hiện tra tính toàn vẹn của mã nguồn (việc này không bắt buộc nhưng chúng ta
nên có thói quen kiểm tra để đảm bảo rằng mã nguồn đã không bị can thiệp vào dưới bất
kỳ hình thức nào). Có thể sử dụng MD5 hay PGP để làm việc này. Ở đây sử dụng PGP
+ Đầu tiên cần download chữ ký :
Code:
wget />
02:04:38 (14.8 MB/s) - `modsecurity-apache_2.5.11.tar.gz.asc' saved [189/189]
+ Download Publick Key:
Code:
gpg keyserver pgp.mit.edu recv-key E77B534D
gpg: Total number processed: 1
gpg: imported: 1
+ Kiểm tra chữ ký:
Code:
gpg verify modsecurity-apache_2.5.11.tar.gz.asc
gpg: Good signature from "Brian Rectanus (work) <>"
gpg: aka "Brian Rectanus <>"
gpg: aka "Brian Rectanus (personal) <>"
- Kiểm tra thành công. Thực hiện giải nén mã nguồn:
Code:
tar xfvz modsecurity-apache_2.5.11.tar.gz
- Kiểm tra các gói thư viện cần thiết, ModSecurity yêu cầu có 4 thành phần sau
trước khi biên dịch :
+ apxs : Kiểm tra bằng cách :
Code:
whereis -b apxs
apxs: /usr/sbin/apxs
Nếu chưa có, chúng ta phải cài thêm gói httpd-devel (hay apache2-dev đối với dòng
debian,ubuntu )
Code:
yum install httpd-devel (hoặc apt-get install apache2-dev)
+ libxml2: Kiểm tra bằng cách :
Code:
whereis -b libxml2
libxml2: /usr/lib/libxml2.a /usr/lib/libxml2.so /usr/include/libxml2
Nếu chưa có, chúng ta phải cài thêm gói libxml2-devel (hay libxml2-dev đối với
debian,ubuntu )
Code:
yum install libxml2-devel (hoặc apt-get install libxml2-dev)
+ pcre: Kiểm tra bằng cách :
Code:
whereis pcre
pcre: /usr/include/pcre.h /usr/share/man/man3/pcre.3.gz
Nếu chưa có thì chúng ta phải cài thêm gói pcre-devel :
yum install pcre-devel (hoặc apt-get install pcre-dev)
+ mod_unique_id: Là mod thường đã được biên dịch cùng Apache. Có thể kiểm tra lại
bằng cách tìm trong httpd.conf dòng:
Code:
LoadModule unique_id_module modules/mod_unique_id.so
Nếu chưa có, chúng ta phải thêm vào với nội dung như trên.
- Chuyển vào thư mục chứa mã nguồn và tiến hành biên dịch :
Code:
cd modsecurity-apache_2.5.11/apache2/
+ Tạo Make file :
Code:
./configure
configure: creating ./config.status
config.status: creating Makefile
config.status: creating build/apxs-wrapper
config.status: creating mlogc-src/mlogc-batch-load.pl
config.status: creating t/run-unit-tests.pl
config.status: creating t/run-regression-tests.pl
config.status: creating t/gen_rx-pm.pl
config.status: creating t/csv_rx-pm.pl
config.status: creating t/regression/server_root/conf/httpd.conf
config.status: creating /tools/rules-updater.pl
config.status: creating mlogc-src/Makefile
config.status: creating mod_security2_config.h
+ Tiến hành biên dịch
Code:
make
Sau khi biên dịch thành công file mod_security2.so sẽ được tạo ra trong thư mục libs.
- Tích hợp ModSecurity vào Apache
Để Apache nhận ra sự tồn tại của ModSecurity chúng ta cần copy mod_security2.so đến
thư mục chứa
modules của apache, đối với distro CentOS là /etc/httpd/modules
Code:
cp /libs/mod_security2.so /etc/httpd/modules/
Sửa lại file httpd.conf để thực hiện load module ModSecurity:
Code:
vi /etc/httpd/conf/httpd.conf
Thêm dòng
Code:
LoadModule security2_module modules/mod_security2.so
- Quy định file cấu hình ModSecurity
Chúng ta có thể cấu hình trực tiếp các thông số và rule của ModSecurity vào file
httpd.conf. Nhưng để cho rõ ràng và đảm bảo không sai sót trong quá trình thực hiện -
gây ảnh hưởng Apache, Chúng ta nên tạo một file cấu hình riêng và sau đó include vào.
Trong CentOS các file cấu hình riêng mặc định chứa trong /etc/httpd/conf.d/
Code:
vi /etc/httpd/conf.d/modsecurity.conf
Thêm vào các thông số cấu hình cơ bản
Code:
<IfModule security2_module>
# Bat che do loc cua Modsecurity
SecRuleEngine On
# Thiet lap action mac dinh
SecDefaultAction "phase:2,deny,log,status:404"
# rule thu nghiem block tat ca request co uri chua "hacker"
SecRule REQUEST_URI "hacker"
</IfModule>
Thực hiện thử nghiệm để kiểm tra hoạt động của ModSecurity. Tiến hành tạo 2 file trong
thư mục web, hacker.html và index.html chẳng hạn. Khi chúng ta truy cập vào file
index.html thì trình duyệt trả về kết quả bình thường
Còn khi truy cập vào hacker.html thì trình duyệt báo lỗi :
Code:
404 – Forbidden
Đó là kết quả do ModSecurity đã chặn những URI có chứa chuỗi hacker và cũng đồng
nghĩa với việc ModSecurity đã hoạt động.
2.4. VIẾT RULES
2.4.1. Cú pháp SecRule
SecRule được sử dụng để tạo các rule cho ModSecurity . Cú pháp rất đơn giản
Code:
SecRule Target Operator [Actions]
Target (mục tiêu): Quy định cụ thể mục tiêu của request hoặc response mà chúng ta
muốn kiểm tra. Trong ví dụ kiểm cơ bản được đưa ra trong phần trước, sử dụng biến có
tên REQUEST_URI, trong đó có các URI được request trên server, để nhận diện và
chặn bất cứ Client nào truy cập vào các vị trí /hacker.html. Hiện có hơn 70 biến có thể
được sử dụng để tạo rule.
Ngoài ra còn có một loại biến đặc biệt được gọi là biến collection có thể chứa nhiều đối
số. Một ví dụ về collection là ARGS, trong đó có chứa tất cả các đối số được truyền
trong một chuỗi truy vấn hoặc thông qua một request POST.
Phần Operator xác định phương pháp và so sánh khớp dữ liệu để kích hoạt Action. Với
Operator, mặc định là @rx
Cuối cùng, Actions (hành động) là một danh sách các hành động được thực hiện nếu
phù hợp (matching) rule. Action có thể là allow (cho phép) hoặc deny (từ chối) các
request; và quy định cụ thể các mã trạng thái (status code) khi trả về (response) cho
client. Nếu không có action nào được quy định, các action mặc định của action
SecDefaultAction sẽ được sử dụng (rule chứa action này thường được khai báo đầu
tiên).
Để làm rõ hơn, chúng ta xem ví dụ. Giả sử chúng ta là một chủ doanh nghiệp nhỏ bán
sách dạy nấu ăn ở định dạng file PDF trên website. Để lôi kéo khách hàng mua sách,
chúng ta cung cấp một chương mẫu có chứa các công thức nấu ăn ngon nhất trong cuốn
sách, mà họ có thể tải về miễn phí để xem trước khi quyết định mua.
Công việc kinh doanh đang ổn định, nhưng sau đó đột nhiên chúng ta nhận được đơn
khiếu nại qua email nói rằng trang web của chúng ta rất chậm hoặc không truy cập được.
Khi nhìn vào log chúng ta nhận thấy rằng, một IP kết nối tới server web tràn ngập với
các request cho các chương mẫu. Các chuỗi user-agent thấy được có tên Red Bullet
Downloader . User-agent này của các chương trình Download nhanh.
Giải pháp đưa ra để giải quyết vấn đề này là dùng Mod Securiry để ngăn chặn các user-
agent này download. Rules được viết như sau.
Code:
SecRule REQUEST_HEADERS:User-Agent "Red Bullet" "deny,nolog"
Trong ví dụ trên, REQUEST_HEADERS là một Collection chứa tất cả các trường
trong thông điệp header (message header) được gởi đến bởi client và trong header này
chứa User-agent. Vì vậy, ta sử dụng từ khoá cho user-agent là “Red Bullet” vì từ Red
Bullet này thường xuyên xuất hiện trong các header được gởi đển từ client. Và Action là
deny – là từ chối và nolog là không ghi lại log
2.4.1.1. Biến và bộ chọn lọc Collection
Hiện khoản hơn 70 biến có sẵn. ModSecurity sử dụng hai loại biến: biến Standard, đơn
giản chỉ chứa một giá trị duy nhất, và biến Collection, có thể chứa nhiều hơn một giá trị.
Một ví dụ về một Collection là REQUEST_HEADERS, trong đó chứa tất cả các trường
trong thông điệp header mà Client gởi tới Server, chẳng hạn như User-agent hoặc
Referer.
Để truy cập vào một trường trong collection, chúng ta ghi tên collection, tiếp theo là dấu
hai chấm và sau đó là tên của trường hoặc tuỳ chọn mà chúng ta muốn truy cập. Ví dụ:
Code:
SecRule REQUEST_HEADERS:Referer "bad-referer.com"
Trong trường hợp kiểm tra toàn bộ dữ liệu trên tất cả các collection. Ví dụ, nếu chúng ta
muốn kiểm tra sự hiện diện của chuỗi script có thể sử dụng rules sau đây:
Code:
SecRule ARGS "script"
Nếu muốn kiểm tra thêm các chuỗi truy vấn được gửi là username=john&login=yes ,
chúng ta có thể mở rộng rule bằng cách.
Code:
SecRule ARGS:john|ARGS:login "script"
Các collection có sẵn trong ModSecutity 2.5
- ARGS
- ENV
- FILES
- FILES_NAMES
- FILES_SIZES
- FILES_TMPNAMES
- GEO
- IP
- REQUEST_COOKIES
- REQUEST_COOKIES_NAMES
- REQUEST_HEADERS
- REQUEST_HEADERS_NAMES
- RESPONSE_HEADERS
- RESPONSE_HEADERS_NAMES
- SESSION
- TX
- USER
2.4.1.2. Chuyển đổi giữa các Collection
TX Collection còn được gọi là các Transaction collection. Chúng ta có thể sử dụng nó để
tạo ra các biến phục vụ riêng cho mình.
Code:
SecRule REQUEST_URI “passwd” “pass,setvar:tx.hackscore=+5”
SecRule TX:HACKSCORE “@gt 10” deny
Trong hai rule đầu tiên sử dụng action setvar để thiết lập các biến collection. Thực hiện
tạo biến hackscore và tăng giá trị lên 5 nếu rule được thực thi (matching rule). Đến khi
biến hackscore có giá trị bằng 10 thì thực thi rule thứ hai sẽ được thực thi với action là
deny.
(Có thể loại bỏ biến bằng cách sử dụng setvar cú pháp setvar:!tx.hackscore)
2.4.1.3. Lưu trữ các Request
Có ba loại collection trong ModSecurity được sử dụng để lưu trữ liên tục( persistent
storage). Như phần trước đã trình bày, setvar giúp tạo ra một biến và gán giá trị cho nó.
Tuy nhiên, biến sẽ hết hạn và không còn nữa khi các request hiện tại đã được xử lý.
Trong một số trường hợp chúng ta muốn lưu trữ giá trị biến và truy cập nó cho các
request sau này, có thể sử dụng kiểu lưu trữ này.
Có ba collection có thể được sử dụng cho mục đích này:
- IP
- SESSION
- USER
Collection IP được sử dụng để lưu trữ thông tin về IP của người sử dụng. Nó có thể
được sử dụng để lưu trữ IP ở các trường hợp như: Số lần truy cập không thành công vào
tài nguyên trên server, hoặc số lượng các request của người dùng…
Trước khi sử dụng một trong các collection, chúng ta cần khởi tạo nó. Điều này được
thực hiện bằng cách sử dụng các action initcol:
Code:
SecAction initcol:ip=%{REMOTE_ADDR},nolog,pass
Để thực hiện được rule trên, phải chắc chắn đã khai báo đường dẫn đến thư mục lưu trữ
cho ModSecurity
Code:
SecDataDir /var/log/httpd/modsec_data
2.4.1.4. Kiểm tra nhiều biến
ModSecurity có thể kiểm tra nhiều biến cùng một lúc, mục đích để kết hợp so sánh
(matching) một chuỗi.
Ví dụ:
Code:
SecRule ARGS|REQUEST_HEADERS "park" deny
Dấu (|) được sử dụng để tách các tên biến. Nó cũng có nhiều chức năng logic giống như
“or” trong lập trình.
2.4.1.5. Sử dụng dấu “ khi viết rule
Chúng ta xem xét các rule sau
Code:
SecRule REQUEST_URI "secret" "deny"
SecRule REQUEST_URI secret deny
SecRule REQUEST_URI "secret place" deny
Hai rule đầu đều đúng và có tác dụng như nhau. Dấu (“) được sử dụng để chứa các cụm
từ cách nhau bởi có dấu space. Các đơn từ thì có thể dùng hoặc không dùng.
Sử dụng (“) còn để nhóm các thông điệp ghi log.
Code:
SecRule REQUEST_URI "secret place" "deny,log,msg:'Someone tried to access the
secret place!'"
Nếu chúng ta muốn đặt dấu (‘) trong thông điệp cần ghi log. Thực hiện chèn dấu (\)
trước dấu (‘).
Code:
SecRule REQUEST_URI "secret place" "deny,log,msg:'Someone\'s trying to hack us!'"
2.4.1.6. Tạo rule kết chuỗi – chain
Để kết hợp nhiều rule hoạt động liên tiếp với nhau, ta sử dụng chain.
Ví dụ: Người quản trị web server muốn chặn một số người download nhiều file gây ảnh
hưởng đến web server, nhưng một số khách hàng khác cũng download mà không gây
ảnh hưởng đến webserver bởi họ chỉ download vài file là xong và ta không chặn những
người này. Và người quản trị server quyết định chặn những người có user-agent có chứa
“Red Bullet” và IP của người này nằm trong dãy IP của một ISP xác định. Với từ chain
trong action. Sử dụng nó, chúng ta có thể tạo ra một chain rule mà nếu phù hợp tất cả
các rule trong chain thì action của chain sẽ được thực hiện.
Ví dụ đây là rule cấm người dùng với user-agent có từ “Red Bullet”
Code:
SecRule REQUEST_HEADERS:User-agent “Red Bullet” deny
Rule thứ hai là chỉ những client nằm trong dãy IP 192.168.1.0-192.168.1.255:
Code:
SecRule REMOTE_ADDR “^192\.168\.1\.”
Để thoả mãn điều kiện đặt ra như trên, ta sử dụng rule chain để kết hợp hai rule trên:
Code:
SecRule REQUEST_HEADERS:User-agent “Red Bullet” “chain,deny” SecRule
REMOTE_ADDR “^192\.168\.1\.”
Có thể thêm nhiều rule vào chain rule. Nếu chúng ta muốn thêm điều kiện là các rule chỉ
hoạt động trước 6:00 giờ tối, ta sẽ thêm một rule thứ ba
Code:
SecRule REQUEST_HEADERS:User-agent “Red Bullet” “chain,deny”
SecRule REMOTE_ADDR “^192\.168\.1\.” “chain”
SecRule TIME_HOUR “@lt 18”
Từ @lt viết tắt của “less-than” là nhỏ hơn. Thuộc cú pháp so sánh số (matching
number), sẽ được trình bày chi tiết ở phần 2.4.3.
2.4.1.7. Rule IDs
Chúng ta có thể quản lý các rule bằng cách đặt ID cho mỗi rule.
Code:
SecRule ARGS "login" "deny,id:1000"
Một số cú pháp thông thường
- SecRuleRemoveById:Gỡ bỏ rule có ID là
- SecRuleUpdateActionById: Cập nhật rule có ID là