Tải bản đầy đủ (.pdf) (9 trang)

Ai đến Bắc Mỹ đầu tiên? docx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.51 MB, 9 trang )

Hạm đội vua nhà Minh , cuộc xây dựng kinh đô Bắc kinh và
chiến thắng của Lê Lợi
Từ trước tới nay, theo sử tây phương, chúng ta
vẫn được cho biết Christopher Columbus là
người khám phá ra Châu Mỹ, đặt chân lên đảo
Bahamas ngày 12 tháng năm 1492. Đương
nhiên, ai cũng biết người Da Đỏ đã đến trước lục
địa này cả hơn chục ngàn năm nay , có lẽ qua
ngả eo biển Bering và Alaska Từ Châu Âu,
hiện có những bằng chứng lịch sử cho thấy
người Viking xuất phát từ Bắc Âu từng qua phía
Bắc Châu Mỹ trước cả thời Christopher Columbus.

Gần đây xuất hiện một số tài liệu cho thấy có thể người Trung
Hoa cũng đã có mặt trên Châu Mỹ trước Columbus. Thuyết
này được tình bày trong cuốn sách tựa đề "1421 THE YEAR
CHINA DISCOVERED AMERICA (Transworld Publishers,
2002) của một học giả người Anh tên Gavin Menzies. Ông
sinh ra và lớn lên ở Trung hoa, từng phục vụ trong Hải Quân
Hoàng Gia của Anh Quốc . Ông không phải là
một sử gia chuyên nghiệp, nhưng công trình sử
học này rất có giá trị, ngoài kiến thức chuyên
môn về hàng hải của mình ,để khảo cứu cho cuốn
sách của mình, ông đã từng đi đến 120 nước, 900
thư viện và bảo tàng viện và hầu hết mọi hải cảng
của thời Trung cổ.
Menzies để tâm nghiên cứu vấn đề này khoảng đầu thập niên 1990 khi ông tìm thấy trên
một bản đồ của Ý trên đó có ghi tên hai đảo khá lớn có thể là Puerto Rico và Guadeloupe
nằm trong biển Caribbean, mà bản đồ này lại được vẽ từ năm 1424, đến 24-25 năm trước
khi Columbus ra đời.
Những khảo cứu sau đó giúp cho tác giả kết


luận là bản đồ đó dựa trên những khám phá rút
tỉa từ những cuộc thám hiểm của những hạm
đội Trung Hoa dưới quyền điều khiển của Zheng
He (鄭 和 Trịnh Hòa), một hoạn quan theo đạo
Hồi (muslim) thời nhà Minh, hồi đầu thế kỷ thứ
15. Theo Siu-Leung Lee, người đã từng dịch trực
tiếp từ sử nhà Minh, tư lịnh hạm đội Zheng He
(1371-1435) chỉ huy đóng được 1622 chiếc tàu
và đi ít nhất là bảy chuyến trong khoảng thời
gian từ 1405 đến 1430, đến tận Somalia và có
thể đến luôn châu Âu (Pháp, Hòa lan và Portugal
hiện nay). Mỗi chuyến đi gồm 27.800 người và
dùng trên 300 chiếc tàu, 62 chiếc là tàu lớn,dài
475 bộ, rộng 193 bộ , mỗi chiếc chuyên chở trên
1000 người, 6 lần lớn hơn chiếc tàu Santa Maria
của Columbus (75x25 feet)


Sử
nhà
Min
h ghi là lộ trình đi qua các xứ
như Java, Sumatra,
Vietnam,Xiêm (Thái lan),
Campuchia, Philippines,
Bangladesh, Ấn độ,
Yemen, Arabia, Somalia,
Mogadishu.
Những con hươu cao cổ
và những con sư tử

đem về Trung Hoa là
bằng chứng hiển nhiên là ông ta đến tận Châu Phi.(Người Trung Hoa
hồi đó tưởng con hươu cao cổ là con kỳ lân, lại càng tăng thanh thế
của vua ). Lịch sử chính thức nhà Minh cũng nhắc đến "Franca" là nước
Pháp và Portugal hiện nay. Nếu thật sự Zheng He có đến nước Pháp
thời đó, thì chỉ bằng cách duy nhất là đi vòng đường biển xuống mũi






Đô đốc Zheng He
鄭 和
phía cực nam của châu Phi (Mũi Hảo Vọng/Cape of Good Hope) vì hồi
đó chưa có kinh đào Suez để đi tắt vào Địa Trung Hải.
Theo Menzies, cuộc thám hiểm lớn nhất và quan
trọng nhất mà cũng là chuyến đi cuối cùng khởi
hành vào năm 1421 và trở về nước vào mùa hè
và mùa thu năm 1423. Những khảo cứu của
Menzies khiến ông ta tin tưởng rằng những chiếc
tàu của hạm đội Trung Hoa đã đến tận châu Mỹ
và Châu Úc (Australia) và lập nên những cộng
đồng di dân ở Nam Mỹ cũng như đem đến đấy
những giống thảo mộc cũng như những bịnh (sán
đủa, sán móc) đặc biệt của vùng Đông Nam Á
Châu. Ông Menzies tin rằng một số DNA (phân
tử di truyền) của người Tàu được tìm thấy trong
máu những thổ dân châu Mỹ, một số di tích lịch
sử như ngôi tháp hình tròn ở Newport (Rhodes Island), những cái neo bằng đá hình tròn

ngoài bờ biển California là dấu vết của những cuộc thám hiểm của người Trung hoa trong
các chuyến đi vĩ đại này.
Ông còn đi đến kết luận là người Trung
hoa đã đến thám hiểm luôn Antarctica
(vùng đất ở nam cực).Tuy nhiên, giới
khoa học chuyên về khảo cỗ vẫn còn
nghi hoặc về những kết luận của ông,
một số khoa học gia hoàn toàn bác bỏ
các kết luận của ông cho rằng các hạm
đội của Zheng He đã khám phá ra châu
Mỹ trước cả Columbus.
Chuyến đi đầu tiên khởi hành năm
1405 và Zheng He chết trên tàu mình
trong chuyến đi thứ thứ bảy (theo báo
Time vào năm 1433). Đến lúc những
chiếc tàu cuối cùng trở về nước, chánh
sách của triều đình nhà Minh đảo
ngược lại, những quan niệm bảo thủ của Khổng giáo được thịnh hành,
những người hoạn quan bị các nho sĩ khinh
thường và óc phiêu lưu, cởi mở, hướng về
phương tây của họ không còn được khả năng thi
thố nữa. Xã hội Trung hoa trở nên khép kín,
thương mãi trên những con kinh nội địa được

Tàu của Trung hoa thời trung cổ

Để đi xuyên qua Ấn độ dương,
Zheng He phải dùng la bàn từ tính
đã được phát minh tại Trung quốc
trong thời nhà Song

phát triển thay vì thương mãi trên những đại dương xa xôi. Chính
quyền Trung hoa không còn muốn tiếp xúc với thế giới bên ngoài nữa,
những bản đồ cũng như tài liệu vết tích của những cuộc thám hiểm
trước đây cố tình bị ra lịnh huỷ. Những bằng chứng trực tiếp về sự hiện
diện của những nhà thám hiểm và ngoại giao Trung hoa đầu tiên trên
châu Mỹ hầu như thất lạc hoàn toàn.




Như vậy, nếu họ có khả năng vẽ những bản
đồ của toàn thế giới hồi đó, những nhà hàng
hải Trung hoa thời đó đã có khả năng đi
vòng quanh quả địa cầu (circumnavigated the
globe), định phương hướng trên biển qua vị
trí các ngôi sao (astro-navigation), khắc phục
được việc tính toán chính xác các kinh tuyến
và vĩ tuyến (longitudes and latitudes).
Chuyện thám hiểm thế giới của người Tàu
đầu thế kỷ thứ 15 có những điểm khá thú vị dính líu đến Việt nam
chúng ta. Người Việt nam chúng ta hầu như ai cũng phải học về
chuyện Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam sơn và mười năm kháng chiến chống
đô hộ của nhà Minh (1418-1427) sau khi Trương Phụ của nhà Minh
hoàn tất cuộc xâm chiếm nước ta năm 1414.
Ở Trung hoa, lúc này là triều đại của vua Minh Thành tổ , gọi là Zhu Di
( (朱 棣 Chu Đệ) trong Anh ngữ, hiệu là Yong Le ( 永 樂 Vĩnh Lạc,
chúng ta sẽ dùng tên Zhu Di cho tiện) (1403-1424). Trước đó, năm
1368, Minh Thái Tổ (Zhu Yuanzhang) diệt nhà Nguyên (Mông Cổ)năm
1368 , đóng đô ở Nanjing , lúc đó Zhu Di mới tám tuổi. Sau đó Zhu Di
tham gia tiêu diệt những tàn dư của nhà Nguyên ở Vân Nam và Côn

Minh. Một trong những biện pháp trừ hậu hoạ của nhà Minh thời đó là
giết hết những người nhà Nguyên thất trận và thiến tất cả những
người con trai phe nhà Nguyên chưa đến tuổi dậy thì. Theo Menzies,
những người con trai gốc Mông cổ bị thiến này, sau lớn lên nhờ tướng
mạo cao lớn , khôi ngô cũng như biệt tài sẽ trở thành một số hoạn
quan được tin cậy và đóng vai trò trọng yếu trong cung cấm nhà Minh.
Mặc dù Zhu Di có chiến công lớn, khi người anh trưởng mất vua cha vì
nghi kỵ Zhu Di không phải con thật của mình, không cho Zhu Di lên
ngôi mà lập người cháu của Zhu Di là Zhu Yunwen lên kế vị mình. Zhu
Yunwen quyết tâm trừ khử Zhu Di. Sau này , Zhu Di nhờ sự phò tá của
một số cận vệ thuộc thành phần bị hoạn trứơc đây (eunuch), đứng đầu
là Zheng He, tập trung lực lượng ở Bắc Kinh và sau đó đuổi Zhu
Yunwen ra khỏi Nam Kinh và lên ngôi hiệu là Yong Le (Vĩnh Lạc).
Zheng He sẽ là nhân vật then chốt trong câu chuyện thám hiểm châu
Mỹ sau này.
Năm 1404, bắt đầu cuộc dời đô nhà Minh từ Nam Kinh về Bắc kinh.
Theo sách của Menzies, đây là công trình phức tap nhất và vĩ đại nhất
của suốt triều đại nhà Minh. Hàng trăm ngàn lao động được đem lên
phía bắc để xây dựng thủ đô mớI, 335 sư đoàn bộ binh được tái phố trí
để canh gác những người này. Lúc lúa mì địa phương không đủ để nuôi
dưỡng lực lượng nhân công vĩ đại này, Zhu Di ra lệnh sửa sang con
kinh vĩ đại (the Grand Canal) dài 1800 km, được xây dựng từ năm 486
trước tây lịch và hiện nay vẫn là con kinh dài nhất thế giới. Có lẽ trong
6 triệu người tham gia xây con kinh này, 3 triệu người đã bỏ mạng.
Con kinh được trùng tu là một trục Nam Bắc tiếp tế thực phẩm bằng
hàng vạn tàu xà lan (barges) nuôi sống lực lượng lao đông xây thành
Bắc kinh.

Tem Zheng He


Tượng Zheng He

Một công trình vĩ đại khác
là sự thành lập một hạm
đội khổng lồ mà chúng ta
đã nhắc đến ở trên. Zhu Di
ra lịnh đóng 1681 chiếc
thuyền, trong đó có những
chiếc khổng lồ có chín cột
buồm (nine masted
treasure ship) chuyên chở
những lượng hàng hóa
khổng lồ . Ngoài ra còn có
trên 6000 tàu đủ loại khác
như tàu chiến bảo vệ , tàu
tuần tiễu, tàu chở nước,… Hạm đội của nhà vua có nhiệm vụ giăng
buồm đi thám hiểm các đại dương trên thế giới và vẽ bản đồ các nơi
đó, làm cho các vua chúa ngoại quốc phải nể sợ và bắt buộc toàn thế
giới phải chấp nhận hệ thống triều cống của Trung quốc (bringing the
entire world into China "tribute system"). Ngày 2 tháng 2 năm 1421,
hạm đội vĩ đại này đem về Bắc kinh những vua chúa cũng như sứ thần
từ các nước Á châu, Á rập , châu Phi và Ấn độ dương về chầu vua nhà
Minh trong ngày khai trương cung cấm của thành Bắc kinh. Sau khi
được đón tiếp long trọng và chứng kiến tận mắt sự xa hoa, vĩ đại của
thủ đô Trung quốc, các phái đoàn ngoại giao được hạm đội khổng lồ
đưa về quê quán ngày 3 tháng 3 năm 1421. Đứng đầu là Đô đốc
Zheng He, người hoạn quan trung thành của vua nhà Minh đã ngang
nhiên trở nên nhà hàng hải tài ba. Phái đoàn mấy chục ngàn người này
còn có đủ cả thông dịch viên cho hàng chục thứ tiếng, bác sĩ, các bác
học thuộc đủ các tôn giáo Hồi giáo, Ấn độ giáo, Phật giáo, các nhà

toán học , thiên văn học, luyện kim học (metallurgists), kỹ sư, kiến
trúc sư. Ngoài ra , còn có cả các nàng hầu non (concubine) tuyển mộ
từ các nhà điếm đi theo phục vụ các vi quốc khách trên đường hồi
hương, và họ có thể giữ luôn các nàng hầu nếu muốn.
Sau khi đem các nhà
ngoại giao về nguyên
quán , những phương
tiện trên tàu được
biến thành những
phòng khảo cứu cho
các nhà khoa
họctrong công cuộc
thám hiểm thế giới.
Như vậy, trong những
thập kỷ đầu của thế
kỷ thứ 15, nhà Minh ở
Trung hoa huy động
một lực lượng nhân
công và nguyên liệu
khổng lồ để xây dựng
kinh đô Bắc kinh,
phát triển con kinh
đào trục lộ nam bắc
(Grand Canal), trùng
tu hàng trăm dặm
của Vạn lý trường thành và xây dựng đại hạm đội (armada) gây uy thế
cho Trung hoa trên trường ngoại giao quốc tế, một hiện tượng làm
chúng ta nghĩ đến tình hình của Trung hoa hiện nay đang xây dựng ào
ạt và tiêu thụ một phần rất lớn của nguyên liệu xi măng, sắt thép, gỗ,
xăng dầu thế giới, có tham vọng trở thành một siêu cường quốc trong

công cuộc xây dựng hạ tầng kinh tế, cũng như gây thanh thế bằng
cách tổ chức thế vận hội Bắc kinh sắp tới đây.
Tác dụng của các nỗ lực khai thác tài nguyên và nhân lực hồi đó ảnh
hưởng tới chính sách ở Việt nam như thế nào? Theo Trần Trọng Kim
trong Việt nam Sử lược (VNSL) thì, sau khi Trương Phụ hoàn tất công
cuộc chiếm Việt nam năm 1414 và trở về Tàu, "Hoàng Phúc ở lại khai
thác tối đa các nguồn tài nguyên, cố tình xóa bỏ văn hoá và văn
chương bản xứ và sửa sang các việc trong nước để khiến người An
Nam đồng hóa với người Tàu (trang 211) ("Phàm những chỗ nào có
mỏ vàng mỏ bạc thì đặt quan ra để đốc dân quân đi khai mỏ. Những
chỗ rừng núi thì bắt dân đi tìm ngà voi, sừng tê, ở chỗ gần bể, thì bắt
dân phải đi mò ngọc trai. Còn những thổ sản như hồ tiêu, hương liệu





Cung cấm Băc kinh

cũng bắt cống nộp"). Sau khi thắng quân Minh, trong Bình Ngô Đại
Cáo, Nguyễn Trãi đã nêu :
"Bại nhân nghĩa, nát cả càn khôn, nặng khoa liễm, vét không sơn
trạch. Nào lên rừng đào mỏ, nào xuống biển mò châu, nào hố bẩy
hươu đen, nào lưới dò chim sả. Tàn hại cả côn trùng thảo mộc; nheo
nhóc thay quan quả điên liên. Kẻ há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ
bấy no nê chưa chán "
Theo Gavin Menzies, sự khai thác rừng gỗ lim ở
Việt nam (the felling of the vast hardwood forests
in Vietnam, trang 79) đã gây ra những cuộc nổi
loạn ở Việt nam, trước của Hồ Quí Ly và sau đó

của Lê Lợi. Menzies cho rằng ngườii Trung hoa
thất bại và mất Việt nam là vì những phung phí
khoảng đầu thế kỷ thứ 15 đã làm Trung hoa yếu
đi một cách trầm trọng và những thất bại sau đó
đã làm nhụt ý chí của Zhu Di. [Zhu (朱) Di (棣)]
Ông lý luận rằng đáng lẽ nếu vua Trung hoa Zhu
Di còn đang ở trong thời cực thịnh của mình thì
đã giải quyết được các cuộc nổi dậy một cách hữu
hiệu và tàn nhẫn (ruthless efficiency). Mặc dù Lê
Lợi chỉ thực sự dành độc lập từ năm 1428, trên
thực tế từ tháng 7 năm 1421 (là năm Zhu Di khánh thành thủ đô Bắc
Kinh), nhà Minh đã từ bỏ quyền cai trị Việt nam.( “Zhu Di had
effectively abandoned Vietnam by July 1421”, trang 80).Tháng 5 năm
1421, sét đánh và gây hỏa hoạn thiêu hủy ngai vàng và cung điện mới
xây của Bắc kinh. Người thiếp yêu nhất của vua chết vì ưu phiền.
174000 người chết vì bịnh dịch ở Phúc kiến, nhân dân ta than oán.
Chính vua Zhu Di cũng bị tai biến não (strokes) nhiều lần cùng những
phương thuốc chứa thạch tín (arsenic) và thủy ngân làm nhà vua suy
nhược. Những việc xui xẻo này làm Zhu Di đi đến quyềt định chấm dứt
các cuộc du hành tốn kém ra nước ngoài và không gởi những hạm đội
kho tàng (treasure fleet) đi thám hiểm các đại dương nữa. Năm 1424,
con của Zhu Di lên ngôi, ngưng hẳn các hoạt động hàng hải tốn kém ,
đóng cửa các nhà máy đóng tàu , áp dụng chính sách kinh tế tiết kiệm
để phục hồi nền kinh tế đã bị kiệt quệ do những chi tiêu phóng túng
dưới thời cha mình , nhưng cũng chấm dứt một thời vàng son của hàng
hải Trung quốc.

Hoàng đế Zhu Di
朱 棣
Cuối cùng, cũng nên nhắc đến một thái giám tài hoa khác thời nhà

Minh có liên quan đến Việt nam và Bắc Kinh. Theo tiến sĩ sử học
Quỳnh Cư (), thì năm 1437 vua Minh ra lịnh
cho bộ công xây dựng lại thành Bắc kinh vì quá nhỏ hẹp. Một người
Việt nam tên Nguyễn An , quê Hà đông có biệt tài kiến trúc từng xây
dựng cung vua Trần và được Trương Phụ chọn dâng cho vua Minh.
Nguyễn An được phong chức thái giám và làm tổng đốc công (tổng
công trình sư) xây dựng lại thành Bắc kinh. Sách Kinh Thành Ký Thắng
của Dương Sĩ Kỳ nói về chuyện xây dựng thành Bắc Kinh có kể về tài
hoa và công trình của Nguyễn An. Ngoài ra Nguyễn An còn đóng góp
trong những công trình trị thủy, chống lụt của sông Hoàng Hà.

×