BÉO PHÌ KHÔNG PHẢI CHỈ DO CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG
NHỮNG ĐIỂM MỐC
CHỈ SỐ KHỐI LƯỢNG CƠ THỂ (IMC) : Sự tăng thể trọng (surpoids) và
chứng béo phì (obésité) được định nghĩa bởi một chỉ số khối lượng cơ thể
(indice de masse corporelle). Chỉ số này được tính bằng cách chia thể trọng
của mình với kích thước nhân bình phương. Ngoại lệ những trường hợp dưới
16 tuổi và trên 70 tuổi (nơi những đối tượng này những chỉ dấu khác phải
được xét đến), một IMC trên 25 chỉ rõ một tăng thể trọng (surpoids). Trên
30, ta nói bệnh béo phì. Ngược lại, chỉ số khối lượng có thể cũng cho phép
phát hiện một sự thiếu cân.
DỊCH TỄ HỌC. Theo một báo cáo của OCDE và của OMS, được trình bày
tuần qua, và sẽ được thảo luận bởi các bộ trưởng Y tế của các nước hội viên
vào đầu tháng 10, cứ hai người thì có một bị tăng thể trọng hay béo phì trong
một nửa của các nước của OCDE (33 nước hội viên). Các tỷ lệ đã tăng gấp
đôi từ năm 1980. Những dữ kiện được thực hiện bởi OCDE ước tính rằng
trong 10 năm nữa cứ ba người thì có hơn hai người sẽ bị tăng thể trọng và
béo phì trong nhiều nước. Với những hậu quả về y tế và kinh tế.
NHỮNG NGUYÊN NHÂN. Mặc dầu các cách ăn uống và sự nhàn rổi đưa
đến một hoạt động vật lý ít hơn bị vạch mặt chỉ tên trong những nguyên
nhân chính của chứng béo phì, y học đã cho thấy rằng chúng không phải là
những yếu tố duy nhất. Những yếu tố sinh học, di truyền, tâm lý hay xã hội
cũng can thiệp vào. Các nhà nghiên cứu và thầy thuốc đang nghiên cứu
nhằm cải thiện kho trị liệu và ngoại khoa được đề nghị.
PHÁP. Mặc dầu các tỷ lệ béo phì ở Pháp thuộc loại thấp nhất trong số các
nước của OCDE, nhưng chúng đã gia tăng một cách đều đặn. Khoảng cứ 10
người thì có một bị béo phì và gần 40% dân số bị tăng thể trọng. Về các trẻ
em Pháp cũng có những tỷ lệ tương đối thấp và ổn định nhưng chúng có thể
gia tăng trong những năm đến.
Ngoài sự nhàn rỗi không hoạt động (sédentarisation), có nhiều yếu tố khác
can thiệp vào trong sự xuất hiện của gia tăng thể trọng (surpoid). Tần số
bệnh béo phì (obésité) và đặc biệt là bệnh béo phì nặng (120 kg hoặc hơn)
gia tăng trên toàn thế giới, đặc biệt là trong những nước mới phát khởi như
Brésil và Trung Quốc. Nước Pháp không được tha miễn. Một chế độ ăn
uống nhiều calo hơn và một hoạt động vật lý ít tiêu hao năng lượng hơn góp
phần làm gia tăng các dự trữ năng lượng trong cơ thể và do đó trong mô mỡ.
Nhưng nơi vài người, những vấn đề khác thêm vào sự bất quân bình giữa
cung cấp và tiêu hao năng lượng. Những tế bào mỡ của họ, có nhiệm vụ tích
trữ năng lượng, có số lượng gia tăng, do đó có một sự gia tăng các khả năng
tích trữ. Vậy nếu những người này lên cân quá nhiều, đó cũng là bởi vì thân
thể họ dành ưu tiên cho việc tích trữ các calo thực phẩm. Như thế, điều được
gọi là “sự thiếu ý chí” mà những người béo phì rất thường bị buộc tội là một
sự vạch mặt chỉ tên rất là không đúng. Mặt khác sự nghiên cứu rất tích cực
trong lãnh vực này
“Ngoài những sự bất quân bình về chế độ ăn uống và sự nhàn rỗi không hoạt
động, nhiều yếu tố can thiệp trong sự lên cân”, GS Arnaud Basdevant,
trưởng khoa dinh dưỡng của bệnh viện Pitié-Salpêtrière (Paris) đã giải thích
như vậy. Chúng ta đã biết vai trò của di truyền, nhưng sự nghiên cứu cũng
quan tâm đến vai trò của các vi khuẩn ruột bởi vì người ta tìm thấy vài trong
số những vi khuẩn này có một tỷ lệ bất thường nơi những người béo phì.
Thế mà vài khuẩn chí ruột (flore bactérienne intestinale) làm dễ sự hấp thụ
các chất dinh dưỡng và sản xuất các chất có thể làm gia tăng sự tích trữ năng
lượng trong những tế bào mỡ. Mặt khác, vài loại thuốc, các chất gây ô
nhiễm, các virus cũng có thể làm gia tăng số các tế bào mỡ. Ngoài ra, giờ
đây người ta biết rằng stress có thể kích thích, trong thí nghiệm nơi động vật,
sự tạo thành các tế bào mỡ. Sự nghiên cứu còn quan tâm đến những biến đổi
của chính cấu trúc của mô mỡ : thật vậy, viêm và xơ hóa của mô này có thể
giải thích một sự đề kháng nào đó đối với sự mất cân. Sau cùng, tất cả chúng
ta có, với số lượng vô cùng nhỏ, mô mỡ được gọi là “nâu”, ngược lại với mô
mỡ “trắng” (mô mỡ dùng để tích trữ năng lượng), góp phần vào sự tiêu hao
năng lượng của chúng ta : thế mà loại mô mỡ này rõ rệt ít hoạt động hơn nơi
vài người béo phì. Như thế ta có thể tích tụ nhiều kilo vì nhiều lý do, thay
đổi tùy theo người. Vì lẽ có nhiều dạng béo phì, nên việc điều trị phải đáp
ứng với mỗi tình huống cá nhân. Các lời khuyên về các thói quen ăn uống và
hoạt động vật lý là những điều không thay đổi, nhưng điều trị có thể đặc biệt
hướng về những khía cạnh tâm lý, hành vi hay sinh học.
TÍN HIỆU NO NÊ
Tuy nhiên còn phải dành thời giờ để điều tra tốt về những thói quen của mỗi
người. Thí dụ, một số người béo phì không ăn khá đủ vào các bữa ăn, vì sợ
béo phì thêm. Hậu quả, sự đói thúc họ gặm bất cứ cái gì một lúc sau đó. Vậy
quy tắc là dạy lại cho họ ăn một cách đúng đắn và đủ lúc vào bàn. Để được
như vậy, sự hỗ trợ của một thầy thuốc chuyên khoa ăn uống, tính đến các
khẩu vị của mỗi người và dạy lại nấu ăn “lành mạnh” là điều qúy giá. Quy
tắc thứ hai cần phải theo là ăn thong thả bởi vì trung tâm đói ghi số lượng
các lần nuốt mỗi bữa ăn : thế mà khi ta ăn nhanh tốc độ, trung tâm này
không khởi động tín hiệu no nê (signal de satiété), vì vậy ta có cảm tưởng là
luôn luôn đói … Trái lại, những khả năng về thuốc men lại hạn chế hơn
(thuốc duy nhất được đề nghị là orlistat, để hạn chế sự hấp thụ mỡ).
“Tuy nhiên, có một sự nghiên cứu rất tích cực, nhất là về các chất có khả
năng tác động lên cảm giác no nê, lên các yếu tố làm biến đổi khuẩn chí ruột
và lên mô mỡ nâu, để làm gia tăng sự tiêu hao năng lượng. Vậy, lần này, các
thuốc mới đặc hiệu chống bệnh béo phì sẽ xuất hiện trên thị trường từ nay
đến 5-10 năm nữa ”, GS Basdevant đã xác nhận như vậy.