Tải bản đầy đủ (.pdf) (14 trang)

Phân tích kỹ thuật đầu tư chứng khoán part 4 pptx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (699.49 KB, 14 trang )



43


Vùng trống (gap) – Vùng trống là những vùng mà không có giao dịch nào xảy ra. Dãy giá thấp sau cùng
thì cao hơn dãy giá cao đối với 1 dịch chuyển của 1 vùng trống hướng lên. Dãy giá cao sau cùng thấp
hơn dãy giá thấp trước đó để tạo ra sự dịch chuyển của 1 vùng trống hướng xuống. Ví dụ như nếu thị
trường gần đến mức 100 trong 1 phiên và sau đó mở rộng đến 105 ở phiên tiếp theo thì sẽ có 1 vùng
trống hiển nhiên trên đồ th
ị.

Với các giao dịch điện tử 24/24 thì vùng trống ít có khả năng xuất hiện khi thị trường dễ di chuyển từ
mức giá đến mức giá khác. Tuy nhiên đối với những thị trường chỉ có các phiên trong ngày mà gồm
những hàng hóa mang tính vật chất nhất ( ví dụ như chứng khoán) thì các vùng trống có thể lộ ra bởi
những tin tức hoặc hướng phát triển có giá trị trong 1 đêm mà tạo ra 1 sự thay đổi
đột ngột về giá. Các
vùng giá trống là biểu hiện tiêu biểu của sự thay đổi mạnh của thị trường và sau đó sẽ tạo ra các mức
giá sàn và giá trần quan trọng trên đồ thị.





44
Vùng trống không thể được mô tả như 1 dấu hiệu nghịch đảo hay tiếp diễn mà những vùng trống khác
nhau có nghĩa khác nhau – đôi khi chúng có những ảnh hưởng không nhỏ chút nào. Có 3 dạng vùng
trống chính sau đây:
• Vùng trống chạy trốn (breakaway gap)
. Vùng trống này xuất hiện ở đầu của 1 sự thay đổi
về giá khi giá không theo hướng cũ mà đột nhiên đi ngược chiều hoặc vượt ra khỏi đồ thị đã


hình thành như tạo ra 1 hướng đi hay 1 dạng tạm giác. Điểm “breakaway” có thể do những
điều kiện mới mà người giao dịch đã biết hoặc việc mua hay bán bị kiềm lại xảy ra trong 1
hướng đi mạnh.
• Vùng trống đo lường được (measuring gap). Khi thị trường dịch chuyển lên hay xuống,
nó có thể đột nhiên thay đổi tạo ra 1 vùng trống cao hơn hoặc thấp hơn với 1 mức phát triển
mới. Một số nhà phân tích xem vùng trống dạng này như 1 điểm nửa chừng để đi đến 1
đích giá cuối cùng. Rõ ràng là không thể biết chắc điều này đến khi chấm dứt sự dịch
chuyển vì vậy những vùng trống như dạng này chỉ
là 1 mẹo nhỏ được sử dụng trong phân
tích. Tuy nhiên, bạn có thể liên kết các vùng trống với các vùng giá trần và giá sàn xác định
như là sự tăng lên hay giảm xuống để mục tiêu giá tiềm năng.
• Vùng trống suy yếu (exhaustion gap)
. Vùng trống này xuất hiện ở cuối của 1 sự dịch
chuyển mở rộng và phản ánh sự bùng phát cuối cùng của việc mua ở thị trường hướng lên
hoặc là bán ra ở thị trường hướng xuống. Một khi việc mua hoặc bán này xảy ra thì sẽ
không có thêm người mua hoặc bán nào mới để duy trì xu hướng – thế lực để vận hành xu
hướng đã suy yếu. Kết quả là sự thay đổi trong xu hướng có th
ể tạo ra những chuyển động
đột ngột ngược với định hướng như là sự tranh giành muộn của người mua hoặc người
bán để tránh vị thế kém của họ. Đây là 1 dạng tình huống mà đôi khi tạo ra 1 vùng đỉnh hay
1 vùng đáy trên đồ thị. Các hoạt động của giá trong 1 ngày hoặc nhiều ngày có thể bị cô lập
bởi các vùng trống suy yếu và sau đó 1 vùng trống ly khai sẽ đột nhiên quay ngược lại.
Chiếc cốc có tay cầm
Các hình mẫu thuộc phương pháp thống kê. Các hình mẫu được đúc kết và phát hiện dựa vào các quan
sát, các kinh nghiệm, các phép thống kê. Cũng như các phương pháp thuộc nhóm thống kê khác, mỗi
hình mẫu cần phải được giải thích (hay hợp lý hóa) bằng các hành vi tâm lý của các nhà đầu tư trên thị
trường. Bài viết này sẽ giới thiệu một hình mẫu: chiếc cốc có tay cầm.
1. Nhận diện
Chiếc cốc có tay cầm có 2 phần: đáy và tay cầm. Phần đáy bên trái được hình thành khi thị trường đi đến
cuối thời kỳ suy thoái, phần đáy bên phải được hình thành khi thị trường bắt đầu tăng trưởng. Phần tay

cầm được hình thành bởi giai đoạn điều chỉnh đầu tiên của chu kỳ tăng trưởng. Phần đáy cốc càng tròn
càng tốt, nhưng đặc điểm quan trọng nhất là phần tay cầm. Phần đi xuống và đáy của tay cầm có số lượng
giao dịch thấp và phần đi lên của tay cầm có khối lượng giao dịch và sức tăng giá càng mạnh càng tốt. Khi
phần đi lên của tay cầm vượt qua miệng cốc, đó là lúc mua vào.
2. Nguyên nhân và ý nghĩa
Nếu đối chiếu với sóng Elliot thì chiếc cốc có tay cầm tương ứng với sóng 1 sóng 2 và sóng 3. Phần đáy
của chiếc cốc được hình thành khi thị trường đang ở giai đoạn chuyển mình giữa suy thoái, dập dềnh và
tăng trưởng, lúc này thị trường vẫn còn tràn ngập sự hoang mang của các nhà đầu tư, sự tăng trưởng là
chưa chắc chắn, mua vào lúc này là sự mạo hiểm.
Khi giá tăng đến một ngưỡng nào đó, do còn thiều lòng tin vào thị trường, nhiều nhà đầu tư thấy được giá
dù không nhiều so với giá mua vào lúc đáy hoặc so với giá mua vào khi còn cao sẽ tìm cách bán ra kiếm
lời ngắn hạn hoặc cắt lỗ. Hành động này tạo nên phần bên trái và phần đáy tay cầm của chiếc cốc, tương
đương với sóng 2 Elliot, giai đoạn điều chình đầu tiên của sự tăng trưởng.


45
Khi giá cả tiếp tục tăng, kỳ vọng về thị trường được nâng lên giúp đẩy giá cổ phiếu tăng mạnh mẽ với
khối lượng giao dịch lớn. Khi phần đi lên của tay cầm vượt qua miệng cốc với khối lượng giao dịch lớn và
sức tăng giá mạnh, tín hiệu này củng cố vững chắc về sự tăng trưởng của thị trường. Đây là thời điểm tốt
để mua vào vì sự mạo hiểm đã được giảm bớt và giá cả cũng thấp vừa phải, hứa hẹn sẽ cho lợi nhuận lớn.
Sau khi hoàn chỉnh phần tay cầm, khi giá lên đến đỉnh sẽ hoàn chỉnh sóng 3 Elliot.
3. Sử dụng
Xét ví dụ về Công ty cổ phần Pin Ắcquy Miền Nam


Nhấn để xem kích thước thật
Nguồn đồ thị
• Tại thời điểm số 1, lúc này đã hình thành nên dạng cốc có tay cầm. Phần đáy của tay cầm có số
lượng giao dịch rất nhỏ, trạng thái dằng co. Phần cuối của tay cầm xuyên phá qua ngưỡng miệng
cốc tại thời điểu số 1 với khối lượng giao dịch tăng vọt, thời điểm số 1 chính là thời điểm mua vào.

• Tại thời điểm số 2, hình mẫu chiếc cốc tay cẩm được hình thành với phần đáy rộng hơn chiếc cốc
ở thời điểm 1 và phần tay cầm rất hẹp, phần đáy của tay cầm có số lượng giao dịch lớn và phần
miệng cốc bị xuyên phá tại thời điểm số 2 với khối lượng giao dịch lớn củng cổ vữ
ng chắc cho sự
tăng trưởng PAC.
• Tuy nhiên chú ý rằng chiếc cốc có tay cầm áp dụng đúng nhất cho giai đoạn đầu của chu kỳ tăng
trưởng tương ứng với thời điểm số 1. Tại thời điểm số, mô hình chiếc cốc không còn được hoàn
hoàn nữa, phần đáy bị biến dạng nhiều do trải trên một thời kỳ rộng, độ chính xác của hình mẫu tại
thời điểm số 2 không cao như thời điểm 1. Tuy nhiên hình mẫu tại thời điểm số 2 dù sao cũng có
tính chất củng cố vững chắc cho chu kỳ tăng trưởng.
Xét ví dụ khác về Công ty Cổ phần DT & TM DIC



46

Nhấn để xem kích thước thật

Nguồn đồ thị
• Thời điểm số 1 tạo thành hình chiếc cốc có tay cầm. Phần đáy tay cầm có khối lượng nhỏ, phần
cuối của tay cầm tại thời điểm số 1 xuyên phá ngưỡng giá của miệng cốc với khối lượng tăng vọt
hứa hẹn một chu kỳ tăng trưởng cho DIC. Thời điểm số 1 chính là điểm mua vào.
Xét ví dụ khác về Công ty Cổ Phần Giống Cây Trồng Trung Ương NSC


Nhấn để xem kích thước thật
Nguồn đồ thị
• Sau khi phần đáy cốc được hình thành, tại thời điểm số 1 tuy giá đã vượt quan miệng cốc nhưng
khối lượng giao dịch không mạnh vượt trội, lúc này sự tăng trưởng là chưa đáng tin cậy, vẫn trong



47
giai đoạn điều chỉnh giằng co. Phải đến thời điểm số 3, giá NSC xuyên phá ở điểm cao hơn miệng
cốc với số lượng vượt trội khẳng định một giai đoạn tăng trưởng vững chắc; điểm số 3 chính là
điểm mua vào.
Đến đây sẽ có nhiều người tỏ ý tiếc vì không mua được giá tại đáy để tối đa hóa lợi nhuận mà phải mua
giá cao hơn tại các thời điểm mua vào trong các ví dụ trên. Tuy nhiên vào thời điểm mà giá chạm đáy,
chẳng ai có thể khẳng định được đó là đáy và khả năng rủi ro rất cao. Nếu bạn áp dụng mô hình chiếc cốc
có tay cầm bạn đã chấp nhận không mua được đáy, tức là chấp nhận không đạt tối đa lợi nhuận nhưng
giảm thiểu rủi ro vì xu thế tăng trưởng là chắc chắn. Hãy nhớ: thuận theo thị trường thì sống; chống lại thị
trường thì chết; tham thì thâm.
Bàn thêm: Nhiều người hỏi tôi làm thế nào để biết thị trường đã chạm đáy - tôi sẽ chỉ cho bạn đáy khi thị
trường đã có đáy. Không có căn cứ nào để xác định đáy thị trường khi nó chưa xảy ra, mặc dù nhiều
người bằng sự nhạy cảm của mình có thể xác định được đáy, dường như vấn đề này thuộc về năng khiếu
và không có phương pháp luận rõ ràng và không phải ai cũng có năng khiếu đó. Vì vậy nếu bạn không
được cảm giác thiên phú này, hãy chấp nhận bỏ qua một phần lợi nhuận để đổi lấy sự an toàn.
Quay lại với ba ví dụ ở trên, tôi chỉ mua vào DIC, NSC và PAC khi hình mẫu chiếc cốc được hoàn thiện,
chấp nhận mất phần lợi nhuận do không mua được giá tại đáy. Lúc này giá của DIC là 42.0; NSC là 58.0,
và PAC là 46.0. Trong ba tuần sau đó giá đỉnh của DIC là 61.0 (tăng 45%); giá đỉnh của NSC là 73.5
(tăng 27%) và giá đỉnh của PAC là 60.0 (tăng 30%); cho đến thời điểm viết bài, cả ba cổ phiếu trên vẫn
có chiều hướng tiếp tục tăng. Những tỷ lệ lợi nhuận này dù chưa phải tối đa nhưng vẫn là những con số
hấp dẫn và chắc chắn.
Nằm ngang
1. Nhận diện
Hình mẫu được hình thành sau đợt suy thoái và hình thành xu thế dập dềnh và biên độ dao động giá nằm
dưới 7 đến 8%. Khối lượng giao dịch trong thời kỳ này nhỏ giọt tạo nên các phiên chợ chiều. Hình mẫu
này cần được hình thành trong thời gian càng dài thì đảm bảo tính chính xác cao, ít nhất là 4 tuần.
2. Nguyên nhân và ý nghĩa
Lúc này đã vào cuối đợt suy thoái, người cần bán tháo đã kịp bán tháo hết, người không kịp bán sẽ tiếp tục
nắm giữ cổ phiếu với giấc mộng hồi phục giá cả ít nhất là ngang với lúc mua. Trong giai đoạn này, phần

lớn các nhà đầu tư hời hợt với thị trường và diễn biến tâm lý trên thị trường lúc này rất đa dạng:
• Một số người sẽ tin rằng đây là một giá cả tốt và tìm cách thu gom.
• Một số người cảm thấy sợ hãi sau đợt suy thoái nên không dám tham gia thị trường.
• Một số người đang nắm giữ cổ phiếu sẽ cảm thấy chán ngán và mất kiên nhẫn hoặc cần tiền để giải
quyết các công việc khác nên chấp nhận bán lỗ.
• Một số người cảm thấy dùng dằng vì sợ hãi mua vào thì giá giảm, không mua thì mất cơ hội sở
hữu cổ phiếu với giá thấp.
• Một số người thực hiện chiến dịch “nhảy sạp”, mua bán với sự chênh lệch 2 đến 3%.
• Tất cả các yếu tố dùng dằng đó tạo nên một thị trường ảm đạm và dập dềnh lên xuống kéo dài.
3. Cách sử dụng


48
Để tránh nhầm lẫn với các phiên điều chỉnh trong thời kỳ giảm giá giống như một cái bẫy chết người, cần
chờ đợi hình mẫu kéo dài ít nhất là một tháng. Một đặc tính khác cần phải chú ý là khối lượng giao dịch
nhỏ giọt và biên động dao động giá dưới 7 đến 8%.
Để củng cố thêm sự an toàn khi mua bán trong thời kỳ này tốt nhất là lựa chọn các công ty có các chỉ số
cơ bản tốt để tiến hành tích trữ. Nếu không phải là nhà đầu tư dài hạn, có thể chỉ giải ngân một phần vốn
để hạn chế rủi ro trong trường hợp giá cả tiếp tục đi xuống.
Trong giai đoạn này vẽ 2 đường hỗ trợ và kháng cự mà giá dao động trong khoảng đó, khi giá vượt qua 2
đường hỗ trợ và kháng cự này là những tín hiệu cần chú ý: có thể đó là sự hình thành xu thế giá mới theo
chiều hướng tăng hoặc giảm. Nếu nhà đầu tư không áp dụng chiến lược nhảy sạp mà thực hiện tích trữ chờ
đợi xu thế giá lên thì khi giá cả đi xuống dưới đường hỗ trợ cần hết sức cảnh giác và thường xuyên theo
dõi sự biến động của thị trường để đề phòng thua lỗ lớn do sự chuyển đổi thành xu thế đi xuống.
Xét ví dụ về Công ty cổ phần đường Biên Hòa - BHS


Nhấn để xem kích thước thật

Giá của BHS nằm trong ngưỡng 40 – 44 kéo dài trong suốt 3 tháng 7, 8, 9. Trong suốt thời gian này khối

lượng giao dịch của BHS rất nhỏ, đường MACD gần như trùng lắp với đường trung bình của chính nó.
Vào đầu tháng 9 giá của BHS bắt đầu xuyên phá ngưỡng 44 với khối lượng giao dịch tăng vọt báo hiệu
bắt đầu một chu kỳ tăng trưởng mới của BHS.
Xét ví dụ về công ty cổ phần DIC
PHẦN II – PHÂN TÍCH ĐỒ THỊ
Cách chỉ báo (Indicators)
Đây có thể được coi là một phần quan trọng trong phân tích kỹ thuật. Bạn có thể tính tóan sự phụ thuộc của 2 chỉ
báo chính: đường đi và cường độ của xu hướng thì bạn hầu như chắc chắn làm chủ hướng đi của xu hướng thị


49
trường. Điều quan trọng khi sử dụng công cụ chỉ báo là phải hiểu rõ các chỉ báo đó xây dựng để phục vụ điều gì và
tác dụng của nó như thế nào? Và như vậy bạn có thể hiểu được và áp dụng các chỉ báo đó một cách hiệu quả.
1. Chỉ báo về giao động (Volatility Indicators)
• Average True Range
• Bollinger Bands
• Commodity Channel Index
• Moving Average (Variable)
• ODDS Probability Cones
• Relative Volatility Index
• Standard Deviation
• Standard Error Bands
• Volatility, Chalkin's
2. Chỉ báo về xung lượng (Momentum Indicators)
• Accumulation Swing Index
• Chande Momentum Oscillator
• Commodity Channel Index
• Dynamic Momentum Index
• Intraday Momentum Index
• Linear Regression Slope

• MACD
• Mass Index
• Momentum Indicator
• Price Oscillator
• Price Rate-Of-Change
• Random Walk Index
• Range Indicator
• Relative Momentum Index
• Relative Strength Index
• Stochastic Momentum Index
• Stochastic Oscillator
• Swing Index
• Trix
• Ultimate Oscillator
• Williams' %R
• Williams' Accumulation-Distribution
3. Chỉ báo theo chu kỳ (Cycle Indicators)
• Cycle Lines
• Detrended Price Oscillator
• Fibonacci
• Fourier Transform
• MESA Sine Wave Indicator
4. Chỉ báo cường độ thị trường (Market Strength Indicators)
• Accumulation-Distribution
• Chaikin Money Flow
• Chaikin A/D Oscillator


50
• Demand Index

• Ease of Movement
• Herrick Payoff Index
• Klingler Oscillator
• Money Flow Index
• Moving Average (Volume Adjusted)
• Negative Volume Index
• On Balance Volume
• Open Interest
• Positive Volume Index
• Price Volume Trend
• Trade Volume Index
• Volume
• Volume Oscillator
• Volume Rate-Of-Change
5. Chỉ báo mức hỗ trợ và kháng cự (Support and Resistance Indicators)
• Andrew's Pitchfork
• Envelope
• Fibonacci Arcs, Fans, Retracements
• Gann Lines, Fans, Grids
• Ichimoku Kinko Hyo
• Projection Bands
• Projection Oscillator
• Quadrant Lines
• Speed Resistance Lines
• Tirone Levels
• Trendlines
6. Chỉ báo về xu hướng (Trend Indicators)
• Aroon
• Commodity Selection Index
• DEMA

• Directional Movement
• Forecast Oscillator
• Linear Regression Indicator
• Linear Regression Slope
• Linear Regression Trendline
• MACD
• Moving Averages (all methods)
• Parabolic SAR
• Performance
• Polarized Fractal Efficiency
• Price Oscillator
• Qstick Indicator
• r-squared
• Raff Regression Channel
• Standard Deviation Channel
• Standard Error
• Standard Error Bands
• Standard Error Channel
• TEMA


51
• Time Series Forecast
• Vertical Horizontal Filter
1 - Tổng quan
Newton một nhà vật lý, toán học thiên tài cũng là mdột nhà đầu tư chứng khoán. Kết quả kinh doanh của
ông: phá sản với câu nói nổi tiếng của mình “Tôi có thể cân được khối lượng của linh hồn nhưng không thể
đo được sự điên rồ của con người”. Câu chuyện trên là một ví dụ về phân tích kỹ thuật bằng phép cân linh
hồn của Newton. Vậy bản chất phân tích kỹ thuật là gì và tại sao một thiên tài về cân đo đong đếm như
Newton vẫn có thể thất bại trên thị trường?

Bài viết này sẽ giới thiệu tổng quan về phân tích kỹ thuật: khái niệm, các yếu tố liên quan và cách thức sử
dụng chung.
1. Phân tích kỹ thuật là gì
Phân tích kỹ thuật sử dụng các mô hình toán học (đồ thị, biến đổi miền, xác suất thống kê, …) dựa trên dữ
liệu thu thập về thị trường trong quá khứ và hiện tại để chỉ ra trạng thái của thị trường tại thời điểm xác
định, thông thường là nhận định xu hướng thị trường đang lên, xuống hay “dập dềnh” hoặc nhận định tương
quan lực lượng giữa sự tăng và sự giảm giá. Phân tích kỹ thuật không để ý đến các chỉ số tài chính, tình hình
phát triển hay các thông tin về thị trường về doanh nghiệp mà chỉ chú trọng vào tập các dữ liệu về giá cả,
khối lượng, … của cổ phiếu thu thập được tại các phiên giao dịch trong quá khứ.
Chính vì chỉ dựa vào tập dữ liệu đã tồn tại trên thị trường – tức là các thông tin trong quá khứ - phân tích kỹ
thuật không phải là công cụ để dự đoán tương lai giá cả của cổ phiếu. Những kết luận thu được từ các biện
pháp phân tích kỹ thuật chỉ thị trạng thái của thị trường đã xảy ra trong quá khứ; thời điểm rút ra kết luận về
trạng thái của thị trường luôn luôn đi sau so với sự kiện đã xảy ra. Khoảng thời gian chênh lệch đó gọi là độ
trễ.
Xét ví dụ về một phương pháp phân tích kỹ thuật sử dụng trung bình động.
Giá CK trong 5 phiên đến ngày 18/05/2007 của Công ty cổ phần nhựa Đồng Nai – Mã CK DNP
Ngày Giá Thay đổi %thay đổi Khối lượng
18/05 76.000 2.000 2,70% 56.350
17/05 74.000 2.000 2,78% 36.190
16/05 72.000 -3.500 -4,64% 43.350
15/05 75.500 3.500 4,86% 30.550
14/05 72.000 3.000 4,35% 52.750
(Nguồn SSI)
Vậy giá trị trung bình động trong 5 phiên của DNP vào ngày 18/05/2007 là
(76.000 + 74.000 + 72.000 + 75.500 + 72.000) / 5 = 73.900 đ
Tập hợp các giá trung bình động của DNP trong các ngày khác nhau sẽ được đường trung bình động giá
trong 5 phiên của DNP


52



Nhấn để xem kích thước thật

Nguồn ảnh đồ thị www.vietstock.com.vn
Bằng mắt thường quan sát đường trung bình động có thể nhận định rằng xu thế của DNP đến thời điểm ngày
18/05/2007 là tăng giá, liệu sau ngày 18/05/2007 giá CP của DNP có tiếp tục tăng không?
Trở lại với câu chuyện về Newton, với khả năng toán học của mình, việc am hiểu và áp dụng các biện pháp
toán học trong phân tích kỹ thuật đối với ông không phải là điều khó khăn. Nhưng phân tích thị trường
không phải là khoa học chính xác, không thể dùng toán học để dự đoán một mong đợi 100%; do đó sự thất
bại của Newton là một điều hợp lý bởi ông không thể dự đoán được tương lai chỉ bằng phép cân khối lượng
của linh hồn.
2. Các thuộc tính và tính chất
Một phép phân tích kỹ thuật thông thường có các thuộc tính và tính chất sau.
- Số phiên tính toán: số phiên lấy dữ liệu tính toán cho một giá trị của phân tích. Trong ví dụ về trung bình
động của DNP ở phần đầu, số phiên lấy dữ liệu là 5 phiên. Nhà đầu tư càng ngắn hạn bao nhiêu thì càng
chọn số phiên tính toán càng nhỏ bấy nhiêu.
- Độ trễ: Khoảng thời gian từ lúc trạng thái thị trường đã xảy ra cho đến khi phép phân tích chỉ ra được trạng
thái đó. Trong cùng 1 phương pháp phân tích, số phiên tính toán càng lớn thì độ trễ càng lớn. Nhà đầu tư
càng ngắn hạn bao nhiêu thì càng mong muốn độ trễ nhỏ bấy nhiêu.
- Độ nhạy: Sự kịp thời trong phản ánh các biến động của thị trường của thị trường Tính chất này ngược lại
với độ trễ.
- Độ chính xác: Tính ít sai xót trong phản ánh các biến động của thị trường. Tuy nhiên độ chính xác và độ
nhạy lại đối nghịch v
ới nhau.
3. Vai trò của phân tích kỹ thuật
Phân tích kỹ thuật đóng vai trò là công cụ trợ giúp nhà đầu tư với ba chức năng chính: báo động, xác thực và
dự đoán.



53
Với vai trò là công cụ báo động, phân tích kỹ thuật cảnh báo sự xuyên phá các ngưỡng an toàn (resistance
và support: chúng ta sẽ tìm hiểu về hai khái niệm này trong các bài viết khác) và thiết lập nên các ngưỡng an
toàn mới hay nói cách khác là thiết lập mức giá mới thực sự thay vì dao động quanh một mức giá cũ. Đối
với nhà đầu tư việc nhận biết các dấu hiệu về sự thay đổi mức giá càng sớm càng tốt giúp cho họ sớm có
hành động mua vào hoặc bán ra kịp thời.
Với vai trò là công cụ xác nhận, mỗi phương pháp phân tích kỹ thuật được sử dụng kết hợp với các phương
pháp kỹ thuật khác hoặc các phương pháp phi kỹ thuật để xác nhận về xu thế của giá. Việc kết hợp và bổ trợ
lẫn nhau giữa các phương pháp kỹ thuật khác nhau giúp nhà đầu tư có được kết luận chính xác và tối ưu
hơn.
Với vai trò là công cụ dự đoán, nhà đầu tư sử dụng các kết luận của phân tích kỹ thuật để dự đoán giá cả của
tương lai với kỳ vọng về khả năng đoán tốt hơn. Tuy nhiên như trên đã nói, bản chất của phân tích kỹ thuật
không phải là dự báo tương lai mà là chỉ thị trạng thái thị trường trong quá khứ với một độ trễ; do đó nếu sử
dụng như
một công cụ dự đoán nhà đầu tư cần phải tính đến một xác suất an toàn và chấp nhận rủi ro khi dự
đoán là không phù hợp. Không ai có thể nói trước tương lai chỉ bằng thông tin trong quá khứ. Tuy nhiên
nhờ có phân tích kỹ thuật, khả năng đoán sai do đoán mò hoặc a dua đám đông được hạn chế rất nhiều.
Mỗi phương pháp kỹ thuật được áp dụng sẽ thể hiện các vai trò trên với các ưu nh
ược điểm khác nhau. Chi
tiết về các vai trò sẽ được nêu trong các bài viết trình bày cụ thể về từng phương pháp.
4. Biến động giá, Resistance và Support
Giá một CP biến động liên tục trên thị trường theo thời gian trải qua nhiều giai đoạn khác nhau. Trên quan
điểm phân tích kỹ thuật, sự biến động giá trong một giai đoạn nhất định được chia làm 2 loại: “dập dềnh”
(trading market) và có xu thế (trending market). Biến động có xu thế được chia ra làm hai loại là biến động
tăng và biến động giảm (trending up và trending down). Các loại biến động này đều có thể nhận ra bằng mắt
thường hoặc thực hiện thống kê.

Biến động “dập dềnh” là giai đoạn giá CP thực sự tăng và không thực sự giảm. Trong giai đoạn này, giá của
CP liên tục dao động lúc lên lúc xuống nhưng xoay quanh một mức giá cố định. Trong một vài phiên ngắn
hạn giá cả có thể đi lên hoặc đi xuống nhưng nhìn chung trong cả thời kỳ giá không lên và cũng không

xuống.

Biến động có xu thế là giai đoạn giá CP đi lên hoặc đi xuống rõ ràng. Mặc dù có sự tăng và giảm giá xen kẽ
trong ngắn hạn một vài phiên nhưng nhìn chung trong cả giai đoạn giá theo xu hướng đi lên hoặc đi xuống.
Nếu giá đi lên ta gọi là giai đoạn biến động tăng, nếu giá đi xuống ta gọi là biến động giảm


54

Nhấn để xem kích thước thật

Nguồn ảnh đồ thị www.vietstock.com.vn
Hình trên là ví dụ về các giai đoạn biến động giá các nhau. Các dải nằm giữa hai đường màu xanh và màu
đỏ là là các biến động dập dềnh không có xu hướng tăng hay giảm. Mỗi giai đoạn biến động dập dềnh đều
có hai giá trị ngưỡng là Resistance và Support (Tạm dịch là kháng cự và hỗ trợ). Hai giá trị ngưỡng này là
phạm vi dao động giá của biến động dập dềnh. Theo đó sự xuyên phá hai ngưỡng này đồng nghĩa với việc
thị trường không còn ở giai đoạn biến động dập dềnh nữa mà đã chuyển sang biến động có xu thế. Nếu giá
vượt lên trên ngưỡng Resistance thì thị trường đã chuyển sang xu thế biến động tăng, phe bò tót thắng thế.
Nếu giá trị vượt xuống dưới ngưỡng Support thì thị trường đã chuyển sang xu thế biến động giảm, phe gấu
đã thắng.
5. Biến động giá và nhiệm vụ của phân tích
Trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, giá của CP trải qua nhiều loại biến động. Đối với mỗi giai đoạn biến
động dập dềnh hoặc có xu thế, các câu sau hỏi được đặt ra đối với phân tích kỹ thuật:
• Nếu CP đang ở giai đoạn biến động dập dềnh thì giai đoạn tiếp theo là biến động tăng hay biến động
giảm?
• Nếu CP đang ở giai đoạn biến động có xu thế thì thời điểm hiện tại đã là lúc kết thúc chưa hay biến
động có xu thế này vẫn còn tiếp tục và kéo dài trong bao lâu?
• Nếu CP đang ở giai đoạn biến động có xu thế thì sau khi kết thúc biến động này thì giai đoạn tiếp
theo liệu có phải là giai đoạn biến động theo xu thế ngược lại không hay sẽ biến động dập dềnh?
Nếu giải đáp được các câu hỏi trên nhà đầu tư sẽ nhanh chóng có được quyết định mua vào hoặc bán ra

đúng đắn, đặc biệt đối với các chuyên gia lướt sóng kiếm lợi nhuận bằng giá chênh lệch khi bán và khi mua:
• Nếu CP đang ở giai đoạn biến động dập dềnh mà giai đoạn tiếp theo là biến động tăng thì nên mua
vào. Khi giá đã lên cao hơn có thể bán ra để kiếm lời. Ngược lại nếu giai đoạn tiếp theo là biến động
giảm thì nên bán ra để tránh lỗ.
• Nếu xu thế hiện tại là xu thế tăng và đang ở giai đoạn đầu của xu thế này thì nên mua vào thuận theo
xu thế để bán ra khi giá đã lên cao hơn. Ngược lại nếu xu thế hiện tại là xu thế giảm và đang ở giai
đoạn đầu của xu thế này thì nên bán ra thuận theo xu thế để giảm lỗ. Khi giá đã xuống thấp hơn có
thể mua vào lại để bán ra khi thị trường phục hồi.


55
Việc áp dụng một phép phân tích kỹ thuật cần phải giải đáp được một vài trong số các câu hỏi trên, cũng có
khi phải phối hợp các phép phân tích kỹ thuật và phi kỹ thuật khác để trả lời được nhiều hơn một câu hỏi và
tăng độ chính xác cho mỗi câu trả lời.
6. Phân loại các biện pháp phân tích kỹ thuật
a. Phân tích tương quan (Leading Indicators)
Các phương pháp phân tích tương quan chỉ ra tương quan lực lượng giữa sự tăng giá và sự giảm giá, tương
quan lực lượng giữa phe mua và phe bán trong một thời kỳ xác định. Sự tương quan đó ánh xạ thành một
giá trị đại diện xác định. Nếu sự tăng giá là lớn hơn sự giảm giá thì giá trị này lớn, nếu sự tăng giá là nhỏ
hơn sự giảm giá thì giá trị này nhỏ. Sự tăng giá càng áp đảo bao nhiêu thì giá trị này càng lớn bấy nhiêu, sự
giảm giá càng áp đảo bao nhiêu thì giá trị này càng nhỏ bao nhiêu. Tên tiếng anh của nhóm phương pháp
này là Leading Indicators – leading có nghĩa là dẫn dắt hàm ý chỉ ra sự tăng giá hay sự giảm giá đang giữ
thế chủ đạo trên thị trường, dẫn dắt diễn biến của thị trường.
Ví dụ điển hình của nhóm phương pháp này là phương pháp RSI. Để tính RSI trên dữ liệu giá cổ phiếu DNP
trong 5 phiên như ví dụ ở phần đầu:
Trung bình sự thay đổi giá các phiên tăng trong 5 phiên
AG = (2.000 + 2.000 + 3.500 + 3.000) / 5 = 2.100
Trung bình sự thay đổi giá các phiên giảm trong 5 phiên
AL = (3.500) / 5 = 700
Hệ số tương quan phản ánh giữa sức tăng và sức giảm giá là tỷ số AG/AL, quy chuẩn về thang 100 sẽ tính

được RSI là:
RSI = 100 – 100/ (1 + AG/AL) = 75
Căn cứ vào tiêu chuẩn của RSI khi giá trị lớn hơn 70, có thể kết luận sự tăng giá đang dẫn dắt thị trường với
sức mạnh nghiêng về sự tă
ng giá.
Xét ví dụ về một phương pháp phân tích tương quan là đồ thị RSI của Công ty Cổ phần Nhựa Đồng Nai -
DNP



56

Nhấn để xem kích thước thật
Nguồn ảnh đồ thị www.vietstock.com.vn
(1) Sớm phản ánh sức tăng giá mạnh của thị trường, tại nơi mà RSI vượt qua 70 sức mua vào rất lớn, giá cả
tăng vọt. Trạng thái này gọi là oversold.
(2) RSI vượt qua giá trị 50 phản ánh sức mua đang thắng thế trên thị trường, giá cả đang tăng lên nhưng
chưa mạnh.
Phân tích tương quan là căn cứ để nhà đầu tư nhận biết các tín hiệu mua và bán. Sử dụng phân tích tương
quan khi thị trường đang ở trạng thái biến động dập dềnh là một ý kiến tốt.Đối với thị trường biến động có
xu thế, các tín hiệu mua và bán của phân tích tương quan sẽ chính xác hơn nếu tuân theo xu thế chung của
thị trường: mua khi giá đang lên và bán khi giá đang xuống. Chi tiến hơn về sử dụng phân tích tương quan
sẽ được nêu trong các phần sau.
b. Phân tích xu thế (Lagging Indicators)
Các phương pháp thuộc nhóm này chỉ ra xu thế chung của thị trường trong m
ột thời kỳ xác định. Xu thế đó
có thể là tăng giá, có thể là giảm giá hoặc trạng thái “dập dềnh”. Theo cách đó nếu chỉ dựa vào 1 giá trị tính
toán được của phương pháp này thì không đủ để nhận định xu thế của thị trường mà phải dựa vào một dãy
các giá trị của các thời kỳ khác nhau để vẽ nên đường xu thế của thị trường (Xem lại ví dụ ở phần đầu v


công ty cổ phần nhựa Đồng Nai).

Các phương pháp phân tích xu thế có tính chất trễ nghĩa là khi phát hiện ra dấu hiệu thị trường đang theo xu
thế tăng hay giảm giá thì thực chất xu thế này đã xảy ra – vì vậy tên tiếng Anh của phương pháp này là
Lagging Indicators với lagging có nghĩa là trễ.

Phân tích xu thế không trực tiếp phát sinh các tín hiệu mua và bán cho các nhà đầu tư nhưng phân tích xu
thế xác nhận và bổ sung tính chất đúng đắn trong các quyết định mua và bán của nhà đầ
u tư. Tuy nhiên Khi

×