Tải bản đầy đủ (.pdf) (20 trang)

GIÁO TRÌNH TÀI NGUYÊN NƯỚC LỤC ĐỊA part 4 ppsx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (901.21 KB, 20 trang )

Chương II: Tài nguyên nước mặt
h) Mưa
Mưa là hiện tượng không khí ẩm lạnh xuống dưới điểm sương và nhờ có các hạt bụi
trong không khí tạo điều kiện cho phần hơi nước quá bão hòa có hạt nhân ngưng kết lại
thành hạt mưa, trọng lượng hạt mưa đủ lớn để vượt qua sự ma sát khí quyển và tốc độ các
luồng không khí đi lên để rơi xuống thành mưa. Điểm sương là nhiệt độ để hơi nước
trong không khí đạt tới trạng thái bão hòa. Có nhiều nguyên nhân làm cho không khí lạnh
xuống dưới điểm sương như:
- Khi khối không khí ẩm và nóng đi qua mặt đệm lạnh.
- Do không khí bức xạ mà mất nhiệt.
- Do sự xáo trộn hai khối khí đã bão hòa hoặc gần bão hòa có nhiệt độ khác nhau.
Nhưng quan trọng nhất là khi khối không khí thăng lên cao, do áp suất xung quanh nó
giảm đi rất nhanh theo chiều cao làm cho thể tích khối không khí đó nở ra và sinh
công. Năng lượng sinh ra công đó lấy ngay trong bản thân khối không khí làm cho
nhiệt độ nó giảm đi, đó là trường hợp lạnh đi vì động lực.
Căn cứ vào nguyên nhân làm không khí thăng lên cao, ta có thể phân loại mưa:
-
Mưa do đối lưu: về mùa hè mặt đệm bị đốt nóng, lớp không khí ẩm sát mặt đệm cũng
nóng theo và bốc lên cao làm thành một luồng khí đối lưu với lớp không khí trên cao.
Luồng đối lưu mạnh có thể gây ra gió lớn, mây nhiều và mưa to, đồng thời kèm theo
hiện tượng sấm sét. Nước ta ở vùng nhiệt đới nên có mưa đối lưu vào mùa hè, cường
độ mưa lớn, lượng mưa nhiều nhưng phạm vi không rộng và thời gian không kéo dài.
- Mưa do địa hình: khối không khí ẩm trên đường di chuyển gặp núi cao sẽ bốc lên
sườn núi sinh ra hiện tượng lạnh đi vì động lực, hơi nước đọng lại thành mưa rơi
xuống. Mưa địa hình thường có lượng mưa lớn, mưa tập trung ở sườn núi đón gió,
còn sườn núi phía bên kia rất ít khi có mưa. Mưa theo mùa ở hai phía của dãy Trường
Sơn, ở biên giới Việt Lào là điển hình của loại mưa này.
- Mưa do hội tụ (mưa front): là loại mưa có kèm theo hiện tượng gió xoáy. Loại này có
mưa lớn, phạm vi rộng, thời gian đủ dài dễ sinh ra lụt lội.
Mưa là nguồn cung cấp nước ngọt chính trên thế giới và là đối tượng nghiên cứu cơ bản
nhất liên quan đến các vấn đề khai thác tài nguyên và phòng chống thiên tai như lũ lụt,


hạn hán Lượng mưa trong một thời đoạn nào đó là chiều dày lớp nước mưa đo được tại
một trạm đo mưa trong thời đoạn đó, đơn vị đo mưa là mm.
Mưa là yếu tố quan trọng nhất vì nó ảnh hưởng đến tất cả các nhân tố thủy văn khác. Ở
những nơi không có tài liệu dòng chảy, khi tính toán thiết kế các công trình thường căn
cứ vào tài liệu mưa để tính ra dòng chảy.
Ở Việt Nam lượng mưa rất dồi dào trung bình khoảng 2000mm/năm, nhưng phân bố
không đều trong năm. Chẳng hạn ở ÐBSCL, trên 96% lượng mưa năm tập trung từ tháng
5 đến 11, các tháng còn lại mưa ít, có tháng hầu như không mưa như tháng 2 và tháng 3.
Giáo trình TÀI NGUYÊN NƯỚC LỤC ĐỊA
61
Chương II: Tài nguyên nước mặt
II.3.2. Yếu tố mặt đệm
Các đặc tính về vị trí, thổ nhưỡng, địa chất, lớp phủ thực vật, hồ ao đầm lầy trong lưu vực
đều ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành dòng chảy, ta gọi chung là yếu tố mặt đệm.
Điều kiện mặt đệm chi phối mạnh mẽ các quy luật về sự hình thành dòng chảy cũng như
diễn biến hoạt động của sông ngòi.
Cường độ và thời gian mưa tạo sự hình thành dòng chảy mặt và dòng chảy ngầm trên lưu
vực. Độ dốc càng lớn, khả năng chảy trên bề mặt càng lớn dẫn đến điều kiện tập trung
dòng chảy lũ càng lớn, tốc độ nước sẽ tỷ lệ với độ bào mòn mặt đất. Ngược lại nếu trên
bề mặt dòng chảy có nhiều chướng ngại vật, cây cỏ, bãi bồi sẽ gia tăng độ nhám dòng
chảy. Các vùng trũng tạo khả năng điều tiết của sông ngòi tăng lên kéo dài thời gian lũ.
Sự thay đổi các lớp đất nơi có dòng chảy đi qua cũng ảnh hưởng đến độ thấm rút của lớp
nước, làm thay đổi lưu lượng nước. Các lưu vực có nhiều rừng rậm sẽ thuận lợi trong
việc điều tiết dòng chảy nhờ khả năng giữ một lượng nước lớn trong các tầng rễ, làm gia
tăng độ ẩm khu vực, đồng thời kích thích sự hội tụ mây gây ra mưa trong vùng.
a) Vị trí địa lý và địa hình của khu vực
Vị trí địa lý của khu vực là vị trí trung tâm và xung quanh ranh giới của lưu vực, thường
dùng kinh độ và vĩ độ để biểu thị. Khi nói về vị trí của lưu vực cần biết rõ xung quanh
lưu vực có những ngọn núi nào, giáp với con sông nào, đồng thời đề cập đến nguồn sông
cách biển bao xa để có thể thấy được mối quan hệ về vị trí của nó với các lưu vực khác,

đồng thời xem xét hơi nước từ ngoài biển vận chuyển vào lưu vực đó như thế nào. Các
nhân tố khí hậu thay đổi theo vĩ độ tương đối rõ rệt, vùng nhiệt đới ẩm ướt mưa nhiều
nhưng vùng sa mạc lại khô cằn Vì vậy vị trí địa lý của một lưu vực phản ánh điều kiện
khí hậu của lưu vực đó.
Do nguyên nhân hình thành khí hậu tương đối đồng nhất trên một lưu vực rộng lớn, và
thổ nhưỡng có tính chất lưu vực rõ rệt nên tình hình thủy văn trên các lưu vực trong cùng
một khu vực có tính tương tự nhất định. Nếu hai lưu vực gần nhau thì điều kiện địa lý tự
nhiên và thủy văn của chúng tương tự nhau cho phép ta dùng phương pháp “lưu vực
tương tự” để giải quyết vấn đề dòng chảy cho những lưu vực thiếu tài liệu thực đo. Địa
thế, địa hình của lưu vực không những ảnh hưởng đến bốc hơi mà còn ảnh hưởng trực
tiếp đến sự tập trung dòng chảy. Nếu địa hình cao và dốc thì dòng chảy sẽ tập trung
nhanh. Ngược lại, địa hình bằng phẳng làm cho vận tốc dòng chảy giảm xuống, sự bồi
lắng tăng lên, hình dạng lòng sông uốn lượn và phân nhánh trước khi đổ ra biển. Ðây
chính là những yếu tố cơ bản hình thành nên vùng châu thổ sông Mê-kông.
b) Đặc tính thổ nhưỡng và địa chất của lưu vực
Đặc tính thổ nhưỡng và địa chất bao gồm tính chất của nham thạch và cấu tạo địa chất
của lưu vực, nó quyết định lượng nước ngấm xuống đất và lượng nước trữ trong lưu vực
là hai nhân tố có ảnh hưởng rõ rệt đến dòng chảy. Ngoài ra do đặc tính về cấu tạo địa chất
có thể dẫn đến đường phân nước mặt và nước ngầm của lưu vực không trùng nhau khiến
cho việc phân tích thủy văn trở nên phức tạp.
Tính chất vật lý thổ nhưỡng có ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình thủy văn (đất cát dễ
ngấm hơn đất sét). Nếu điều kiện mưa như nhau, dòng chảy mặt hình thành trên đất sét sẽ
Giáo trình TÀI NGUYÊN NƯỚC LỤC ĐỊA
62
Chương II: Tài nguyên nước mặt
lớn hơn. Tính chất thổ nhưỡng khác nhau, tình hình xâm thực khác nhau thì hàm lượng
cát trong sông sẽ khác nhau. Tính chất của thổ nhưỡng còn có ảnh hưởng rõ rệt đến lượng
bốc hơi mặt đất. Đất có kết cấu chặt, màu đất thẫm thì lượng bốc hơi mặt đất sẽ lớn. Đất
có kết cấu rời rạc, hạt thô thì lượng bốc hơi sẽ nhỏ.
c) Lớp phủ thực vật

c1.
Phân bố lại lượng nước mưa
Nếu không có lớp thực vật, nước mưa rơi xuống hoặc tạo thành dòng chảy mặt hoặc thấm
xuống đất. Như vậy sự tác động của cường độ mưa lên sự phân bổ này là quan trọng
nhất. Cường độ mưa lớn sẽ tạo dòng chảy mặt ngay, đôi khi đất chưa kịp bão hòa nước.
Làm tăng độ ngấm đất, rễ cây làm cho đất xốp rời rạc, lượng nước ngấm tăng lên, dòng
chảy ngầm lớn và phân phối dòng chảy trong năm điều hòa hơn.
c2.
Ðiều hòa dòng chảy
Mật độ cây cối và chiều cao của chúng đóng vai trò điều chỉnh cường độ mưa trước khi
xuống tới mặt đất. Thêm nữa, nhờ thực vật, tầng thảm mục và mùn sẽ ngày một dày lên
tạo điều kiện giữ nước tốt hơn. Kết quả là dòng chảy mặt sẽ được điều hoà và ổn định
hơn rất nhiều, đặc biệt, sẽ tránh được lũ quét và lũ bùn đá.
c3.
Thay đổi đặc tính lý, hóa của nước
Xói lở, sạc lở, bào mòn, rửa trôi… được hạn chế rất nhiều bởi lớp thực vật. Khi không có lớp
thảm thực vật các quá trình trên diễn ra rất mạnh. Do đó đặc tính lý, hóa của nước sông một
phần chịu ảnh hưởng của những quá trình này. Chúng ta có thể nhận thấy bằng mắt sự thay
đổi về mức độ phù sa, độ đục… trong sông, đặc biệt thời điểm trước khi đỉnh lũ tràn về.
d) Hồ ao và đầm lầy
Hồ ao và đầm lầy có tác dụng điều tiết dòng chảy sông ngòi. Trong mùa hè một phần
nước lũ được chứa lại trong hồ, đến lúc nước rút mới chảy đi. Khả năng điều tiết của hồ
lớn hay nhỏ do dung tích của hồ và vị trí của nó trong một lưu vực quyết định. Trong lưu
vực hiếm nước, do lượng bốc hơi mặt nước lớn hơn lượng bốc hơi mặt đất nên hồ ao làm
giảm một phần dòng chảy.
e) Hoạt động của con người
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, con người đã tiến hành công cuộc cải tạo thiên
nhiên quy mô ngày càng lớn với các công trình thủy lợi, chống xói mòn, trồng cây gây
rừng Những tác động có ý thức và vô ý thức này đã làm thay đổi bộ mặt tự nhiên của
các lưu vực, làm thay đổi lượng dòng chảy và sự phân phối dòng chảy. Những thay đổi

này có thể là từ từ qua nhiều năm hoặc đột ngột trong một thời gian ngắn. Ngoài ra việc
cải tạo thiên nhiên của con người cũng thể hiện ở việc cải tạo khí hậu và cải tạo mặt đệm.
Con người ngày càng can thiệp vào thiên nhiên qua các hoạt động khai thác nguồn nước
cho sinh hoạt, cho tưới tiêu, phát điện, phòng lũ, khai thác thủy sản, giao thông vận tải,
Giáo trình TÀI NGUYÊN NƯỚC LỤC ĐỊA
63
Chương II: Tài nguyên nước mặt
du lịch Việc xây dựng các hồ chứa nước dọc theo các triền dốc của nhiều hệ thống sông
làm thay đổi chế độ điều tiết nước tự nhiên. Ngoài ra việc xây dựng nhiều công trình
không theo một kế hoạch tổng thể, nạn chặt phá rừng, khai thác nước quá mức, gây ô
nhiễm cũng làm phá vỡ hệ cân bằng sinh thái gây nên những hậu quả xấu cho thiên
nhiên và môi trường không lường hết được.
Hoạt động của con người trong các lĩnh vực kinh tế đã làm thay đổi cân bằng nước. Ngay
trong nông nghiệp đã sử dụng trên 63% tài nguyên nước. Việc chuyển đổi cơ cấu cây
trồng cũng ảnh hưởng trực tiếp đến cân bằng nước trong khu vực.
Nạn chặt phá rừng bừa bãi, nhất là rừng đầu nguồn, nạn đốt rừng lấy đất canh tác… đã để
lại hậu quả nghiêm trọng như lũ quét, lũ bùn đá… và lũ trở nên khác thường.
Càng ngày chúng ta càng thấy môi trường nước bị ô nhiễm nặng hơn. Việc lạm dụng quá
mức các loại phân bón và các hóa chất bảo vệ mùa màng đã để lại dư lượng ngày một
tăng trong các nguồn nước. Hậu quả tạo ra các hiện tượng phì dưỡng, nhiễm độc, nghèo
nàn hóa… trong quần thể sinh vật.

II.4. TÀI NGUYÊN NƯỚC MẶT TẠI VIỆT NAM
2
II.4.1. Việt Nam có nguồn nước mặt phong phú
Tài nguyên nước mặt ở Việt Nam rất đa dạng và phong phú bao gồm nhiều thủy vực tự
nhiên và nhân tạo như sông, suối, hồ tự nhiên, hồ nhân tạo (hồ chứa), giếng khơi, hồ đập,
ao, đầm phá. Trung bình hàng năm lãnh thổ Việt Nam nhận được 1.944mm nước mưa,
trong đó bốc hơi trở lại không trung 1.000mm, còn lại 941mm hình thành một trữ lượng
nước mặt vào khoảng 310 tỷ m

3
. Tính bình quân, mỗi người dân Việt có thể hứng được
một lượng nước bằng 3.870 m
3
mỗi năm, hoặc 10.600 lít nước mỗi ngày. Trong khi đó tại
các nước công nghiệp phát triển nhất, tổng nhu cầu về nước trong một ngày bình quân
theo đầu người, bao gồm cả 340 lít nước sinh hoạt, 2.540 lít nước cung cấp cho nông
nghiệp và 4.520 lít công nghiệp cũng chỉ vào khoảng 7.400 lít/người.ngày. Ở nước ta, tại
các đô thị lớn, lượng nước sinh hoạt cấp cho mỗi người hàng ngày hiện nay chỉ mới vào
khoảng 100 ÷ 150 lít. Mục tiêu của Chính phủ Việt Nam là cung cấp cho nhân dân nông
thôn khoảng 70 lít/người*ngày vào năm 2010 và 140 lít/người*ngày vào năm 2020. Ở
một số vùng đặc biệt khan hiếm nước vào mùa khô, như vùng Lục Khu thuộc tỉnh Cao
Bằng, mục tiêu phấn đấu hiện nay là cung cấp 15 lít nước/người*ngày. Chỉ riêng nguồn
nước ngọt từ mưa tiềm năng đã vượt khá xa yêu cầu về cấp nước.
Ngoài nguồn nước mặt từ mưa, nước ta còn có nguồn nước rất lớn do các con sông xuyên
biên giới đem từ lãnh thổ các nước ngoài vào như sông Hồng, sông Mã, sông Cả, sông
Mê-Kông. Lượng nước này ước tính bằng 520 tỷ m
3
, gấp 1,7 lần lượng nước ngọt hình
thành trong nước. Một số sông xuyên biên giới như sông Kỳ Cùng ở Lạng Sơn, Bằng
Giang ở Cao Bằng chuyển một lượng nước từ Việt Nam qua lãnh thổ Trung Quốc. Tuy
nhiên lượng này không đáng kể so với tổng lượng nước hình thành trên lãnh thổ Việt
Nam. Các phụ lưu của sông Mê-Kông như Nậm Rốm, Sê-Kông, Sê-Băng-Hiêng, Sê-San,

2
Tham khảo chi tiết: Lê Quý An và CSV (2004).
Giáo trình TÀI NGUYÊN NƯỚC LỤC ĐỊA
64
Chương II: Tài nguyên nước mặt
Srê-Pok chuyển một lượng nước khá lớn từ lãnh thổ Việt Nam vào các nước láng giềng

như Lào, Campuchia, nhưng rồi từ lượng nước đó lại chảy trở lại vào ĐBSCL.
Bảng 2.1. So sánh tài nguyên nước ngọt tái tạo được của một số quốc gia
Quốc gia Lượng nước (m
3
/người*ngày)
Việt Nam * 11.189
Lào 68.318
Campuchia 30.561
Trung Quốc 2.185
Hàn Quốc 1.471
Các nước nghèo nước 50 ÷ 500
Toàn thế giới 6.538
[Nguồn: Số liệu của Viện Tài nguyên Thế giới WRI (2002 ÷ 2004), trích từ Lê Quý An và
CSV (2004)]
* Theo số liệu và cách tính của nước ta có lượng nước mặt là 10.375m
3
/người*ngày,
chênh lệch với số liệu công bố này khoảng 7%.
Tổng hợp hai nguồn nước mặt - nguồn hình thành trên lãnh thổ quốc gia và nguồn từ
nước ngoài chảy vào - một cách khái quát, Việt Nam có tổng lượng nước mặt trung bình
năm bằng khoảng 830 tỷ m
3
. Trong đó phần hình thành trong nước là 310 tỷ, chiếm 37%;
phần từ nước ngoài vào là 520 tỷ, chiếm 63%.
Tài nguyên nước nói trên tồn tại dưới những dạng thức khác nhau như sông, hồ, kênh,
rạch, đầm phá, vừa lưu giữ, vận chuyển, chuyển hóa nước, vừa tạo nên tài nguyên đa
dạng sinh học và nguồn cảnh sắc thiên nhiên vô cùng phong phú và đa dạng.
Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường (2005), Việt Nam có khoảng 2,372 con sông lớn nhỏ
có chiều dài từ 10km trở lên, trong đó có 109 sông chính và 26 phân lưu của các sông
lớn. Trong số này, có 9 con sông (sông Hồng, sông Thái Bình, sông Bằng Giang - Kỳ

Cùng, sông Mã, sông Cả, sông Vu Gia - Thu Bồn, sông Ba, sông Đồng Nai và sông Cửu
Giáo trình TÀI NGUYÊN NƯỚC LỤC ĐỊA
65
Chương II: Tài nguyên nước mặt
Long) và 4 nhánh sông (sông Đà, sông Lô, sông Sê-San, sông Srê-Pok) đã tạo nên một
vùng lưu vực trên 10.000km
2
, chiếm khoảng 93% tổng diện tích của mạng lưới sông ở
Việt Nam. Theo lưu vực và yêu cầu quản lý nguồn nước, có thể phân chia các sông Việt
Nam thành ba nhóm:
- Nhóm thượng nguồn ở nước ngoài, hạ nguồn ở Việt Nam như sông Hồng, sông Mã,
sông Cả, sông Đồng Nai
- Nhóm thượng nguồn ở Việt Nam, hạ nguồn ở ngoài nước như sông Bằng Giang - Kỳ
Cùng
- Nhóm có một số sông nhánh thượng nguồn ở Việt Nam, trung nguồn ở nước ngoài và
hạ nguồn sông chính ở Việt Nam như sông Mê-Kông
Bên cạnh đó, Việt Nam có rất nhiều các loại hồ tự nhiên, hồ đập, đầm phá, vực nước có
kích thước khác nhau tùy thuộc vào mùa. Một số hồ lớn được biết đến như hồ Lăk (rộng
khoảng 10 km
2
ở Đắk Lắk), hồ Ba Bể (rộng 5km
2
ở Bắc Kạn), hồ Tây (rộng 4,5 km
2
ở Hà
Nội) và Biển Hồ (rộng 2,2km
2
ở Gia Lai). Các đầm phá lớn thường gặp ở cửa sông vùng
duyên hải miền Trung như Tam Giang, Cầu Hai và Thị Nại. Về hồ nhân tạo, có 750 hồ
lớn và trung bình và hàng nghìn hồ nhỏ. Trong đó có 7 hồ với dung tích trên 500 triệu

m
3
: Hòa Bình 5.680 triệu m
3
; Trị An 2.547 triệu m
3
; Thác Bà 2160 triệu m
3
; Thác Mơ
1.311 triệu m
3
; Dầu Tiếng 1.111 triệu m
3
; Yaly 779 triệu m
3
; Hàm Thuận - Đa Mi 535
triệu m
3
. Một số đập và hồ lớn hiện đang được xây dựng và chuẩn bị xây dựng trên sông
Đà, sông Gâm, sông Sê San, sông Đồng Nai.
Cùng với các yêu cầu về nước phục vụ cho nông nghiệp và công nghiệp, trong tương lai
các yêu cầu về nguồn năng lượng cũng rất lớn. Thủy năng là nguồn năng lượng chiếm tỷ
trọng lớn ở nước ta trong những năm tới. Nước ta hiện đã xây dựng được hơn 3.000 hồ
chứa lớn nhỏ, với tổng dung tích hữu ích các hồ khoảng 37 tỷ m
3
(chiếm 4,5% tổng lượng
nước mặt bình quân), trong đó 45% trên sông Hồng - Thái Bình; 22% trên sông Đồng
Nai. Đáng chú ý, trong tổng dung tích hữu ích các hồ thì các hồ thủy điện chiếm gần 81%
tương đương 30 tỷ m
3

[VOVNews, 2008]. Sáu hồ lớn nhất có sức chứa trên 1 tỷ m
3
đang
được sử dụng để khai thác thủy điện là hồ Hòa Bình, Thác Bà, Trị An, Dầu Tiếng, Thác
Mơ và Ya Ly. Theo số liệu thống kê, Việt Nam hiện có hơn 3.500 hồ chứa nhỏ và
khoảng 650 hồ chứa cỡ lớn và trung bình dùng để sản xuất thủy điện, kiểm soát lũ lụt,
giao thông đường thủy, thủy lợi và nuôi trồng thủy sản [FAO, 1999]. Như vậy trong
tương lai các nguồn nước ở nước ta sẽ được khai thác ở mức độ lớn. Sự can thiệp ngày
càng sâu vào trạng thái tự nhiên của nguồn nước sẽ làm thay đổi mạnh chế độ tự nhiên
của dòng chảy sông ngòi.
Mặc dù tài nguyên nước ở Việt Nam có trữ lượng dồi dào nhưng trên thực tế nguồn nước
có thể sử dụng ngay lại có hạn vì sự phân bố không đồng đều. Nhiều vùng bị thiếu nước
sạch để sinh hoạt do ô nhiễm, lũ lụt, sạt lở đất, hạn hán và các tác nhân khác. Chất lượng
nước bị suy giảm nghiêm trọng đã hủy hoại môi trường sống và đẩy con người đến gần
các rủi ro nguy hiểm. Theo ước tính, khoảng 37% nước bị mất đi do lãng phí, thậm chí có
nơi lên đến 50% [Jordan, 2003]. Một ví dụ cụ thể trên lưu vực sông Đồng Nai cho thấy
tình hình khan hiếm nước đã đến mức báo động khẩn cấp. Năm 2005 bình quân lượng
nước đầu người là 2.486 m
3
/năm dưới ngưỡng 4.000 m
3
/người nằm ở mức thiếu nước
theo tiêu chuẩn Hội Tài nguyên nước Quốc tế IWRA. Theo dự báo phát triển dân số của
Giáo trình TÀI NGUYÊN NƯỚC LỤC ĐỊA
66
Chương II: Tài nguyên nước mặt
vùng thì năm 2010 chỉ còn ở mức 2.098 m
3
/người*năm, năm 2020: 1.770 m
3

/người*năm,
năm 2040: 1.475 m
3
/người*năm là mức khan hiếm nước.
Nước ta đã xây dựng khoảng 75 hệ thống thủy lợi vừa và lớn với diện tích tưới tiêu của
mỗi hệ thống từ 10.000 ha đến 200.000 ha, như các hệ thống Bắc Hưng Hải, sông Nhuệ,
Thác Huống, Bắc Thái Bình, Đồng Cam, Ayun Hạ, Dầu Tiếng.
Ven biển có nhiều đầm, phá, bàu, trằm. Nổi tiếng là đầm phá Tam Giang - Cầu Hai (Thừa
Thiên - Huế) có diện tích mặt nước 216km
2
, đầm Thị Nại (Bình Định) 45km
2
, đập
Trường Giang (Quảng Ngãi) 36,9km
2
, Cù Mông (Phú Yên) 30,2km
2
, Nước Ngọt (Bình
Định) 26,5km
2
, Thủy Triều (Khánh Hòa) 25,5km
2
, Ô Loan (Phú Yên) 18km
2
, Lăng Cô
(Thừa Thiên - Huế) 16km
2
, Trà Ổ (Bình Định) 14,4km
2
, Đầm Nại (Ninh Thuận) 12km

2
.

II.4.2. Những khó khăn trong khai thác nguồn nước mặt
Khó khăn đầu tiên là có đến 63% tổng lượng dòng chảy nước mặt trên lãnh thổ Việt Nam
là đến từ các nước láng giềng: Trung Quốc, Thái Lan, Myama, Lào và Campuchia chảy
vào. Các nước này đều đang ở trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa,
phát triển nông nghiệp, dịch vụ một cách nhanh chóng. Quá trình phát triển này sẽ đặt ra
cho các nước nói trên yêu cầu tận dụng hợp lý tài nguyên nước sản sinh trên lãnh thổ của
họ. Chế độ thủy văn của các dòng sông xuyên biên giới chảy vào nước ta sẽ thay đổi.
Dòng chảy nước có thể được điều tiết theo những chiều hướng không phù hợp với yêu
cầu kinh tế và sinh thái của ta. Khối lượng nước cần cho sinh hoạt, canh tác, đẩy mặn,
giao thông thủy vào mùa khô có thể sẽ không còn như trước. Chất lượng nước của một số
dòng sông sau khi đã tiếp nhận xả thải từ nhiều đô thị, khu dân cư, khu nông nghiệp trên
các vùng thượng lưu sẽ không còn độ trong sạch như hiện nay.

Giáo trình TÀI NGUYÊN NƯỚC LỤC ĐỊA
67
Chương II: Tài nguyên nước mặt
Bảng 2.2. Phân bố trữ lượng nước hình thành một số sông chính ở nước ta
Tổng lượng nước (km³/năm)
Địa danh sông Diện tích (km²)
Trong nước Ngoài vào Toàn bộ
Bằng Giang - Kỳ Cùng 12.880 7,190 1,73 8,920
Sông Hồng - Thái Bình 168.700 93,000 44,00 137,000
Sông Mã - Chu 28.400 15,760 4,34 20,100
Sông Cả 27.200 19,460 4,74 24,200
Sông Gianh 4.680 8,140 8,140
Sông Quảng Trị 2.660 4,680 4,680
Sông Hương 2.830 5,640 5,640

Sông Thu Bồn 10.350 19,300 19,300
Sông Vệ 1.260 2,360 2,360
Sông Trà Khúc 3.189 6,190 6,190
Sông An Lão 1.466 1,640 1,640
Sông Côn 2.980 2,580 2,580
Sông Kỳ Lộ 1.920 1,450 1,450
Sông Ba 13.800 10,360 10,360
Sông Cái (Nha Trang) 1.900 1,900 1,900
Sông Cái (Phan Rang) 3.000 1,720 1,720
Sông Lũy 1.910 0,820 0,820
Sông Cái (Phan Thiết) 1.050 0,488 0,488
Sông Đồng Nai 44.100 29,200 1,40 30,600
Sông Mê-Kông * 795.000 20,600 500,00 520,600
[Nguồn: Trường Đại học Thủy lợi, 2008] * không tính ở Tây Nguyên
Giáo trình TÀI NGUYÊN NƯỚC LỤC ĐỊA
68
Chương II: Tài nguyên nước mặt
Lấy sông Mê-Kông làm ví dụ. Mê-Kông là một con sông xuyên biên giới quan trọng ở
châu Á có tiềm năng rất lớn về các dạng tài nguyên nước. Từ những năm cuối thập kỷ 50
của thế kỷ XX đã được các nước trong lưu vực và các tổ chức quốc tế hết sức quan tâm
đến việc quản lý hợp lý tài nguyên nước cùng các tài nguyên thiên nhiên liên quan khác
và các hoạt động phát triển trên lưu vực. Việc hợp tác quản lý dòng sông quan trọng này
được thực hiện trong khuôn khổ tổ chức hợp tác quốc tế của Ủy ban sông Mê-Kông MRC
trong quá khứ và hiện tại. Qua nhiều đổi thay của lịch sử, thành viên của MRC hiện nay
là Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam. Địa phận quản lý của Ủy ban chỉ là phần "hạ
lưu" sông Mê-Kông. Trung Quốc và Mianma không phải là thành viên chính thức của Ủy
ban và chỉ tham gia một cách không chính thức vào một số cuộc họp của Ủy ban. Theo
thỏa thuận đã có giữa bốn quốc gia thuộc phần hạ lưu lưu vực sông Mê-Kông, không
nước nào được xây dựng công trình trên dòng sông chính, việc xây dựng các công trình
quan trọng trên các sông nhánh lớn cũng cần thông báo và tham khảo ý kiến của nhau.

Cho tới nay, ở phần hạ lưu trên dòng sông chính không có công trình xây dựng nào nhưng
ở phần thượng lưu thuộc địa phận lãnh thổ Trung Quốc, một loạt công trình thủy điện, với
đập cao, hồ chứa lớn đã được hoàn thành, vận hành phát điện, điều tiết nước, hoặc đang
được xây dựng và chuẩn bị xây dựng. Năm 1986, Trung Quốc bắt đầu xây con đập thủy
điện lớn đầu tiên trong dự án 14 con đập bậc thềm Vân Nam, chắn ngang dòng chính sông
Lan Thương (tên Trung Quốc của con sông Mê-Kông), trong đó có đập Mạn Loan cao
126m, công suất 1.500MW, đã hoàn thành và phát điện năm 1996; đập Đại Chiếu Sơn cao
118m, công suất 1.340MW hoàn tất năm 2003. Thêm hai đập khác cũng đang được xây
dựng là đập Tiểu Loan cao 292m, công suất 4.200MW, dự trù hoàn tất năm 2010; đập
Cảnh Hồng cao 107m, công suất 1.500MW cũng đang được thi công. Bốn dự án đập lớn
khác ở Vân Nam cũng đang được triển khai, trong đó phải kể tới đập Ngọa Trác Độ công
suất 5.500MW với dung lượng hồ chứa đến 22.740 triệu m
3
nước. Đặc biệt là đập Tam
Hiệp - đập thủy điện lớn nhất thế giới được xem như Vạn lý Trường thành trên sông
Dương Tử - với chiều cao 181m, sức chứa 39 tỷ m
3
, công suất 18,2GW có thể cung cấp
84,7TWh điện/năm, đáp ứng khoảng 1/30 nhu cầu tiêu thụ điện của Trung Quốc.
Trên các sông nhánh Thái Lan, Lào và ở nước ta cũng đã và đang xây dựng nhiều công
trình phục vụ thủy điện và cấp nước cho nông nghiệp. Nếu trong tương lai các quốc gia ở
thượng nguồn sông Mê-Kông sử dụng một lưu lượng nước khoảng 1.200 ÷ 1.500 m
3
/s để
tưới ruộng trong mùa khô, hoặc nước của Biển Hồ sẽ được Campuchia khai thác nhiều
hơn cho nông, công nghiệp và sinh hoạt thì vùng ĐBSCL sẽ có nguy cơ thiếu nước, nạn
xâm nhập mặn sẽ đe dọa toàn vùng đặc biệt là vào mùa khô.
Khung 2.1 Đồng bằng sông Cửu Long: Nước mặn sẽ tiếp tục xâm nhập vào đất
liền sâu hơn
(24/3/2008) - Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam dự báo: từ nay đến tháng 5/2008,

nước mặn sẽ tiếp tục xâm nhập vào đất liền sâu hơn, có nơi mặn xâm nhập sâu tới
65km, gây khó khăn cho sản xuất và đời sống. Từ nay đến thời điểm trên, tại khu vực
Cửa Tiểu, thuộc sông Cửu Long, độ mặn 10‰ có thể xâm nhập cách cửa sông từ 30
đến 35 km, độ mặn 4‰ có thể xâm nhập sâu đến 40 đến 45 km. Dọc sông Hàm Luông,
độ mặn 10‰ có thể xâm nhập cách cửa sông khoảng 35 km; trước đó, trong tháng
2/2008, độ mặn 4‰ đã xâm nhập sâu đến 45 km. Dọc sông Cổ Chiên, độ mặn lớn hơn
Giáo trình TÀI NGUYÊN NƯỚC LỤC ĐỊA
69
Chương II: Tài nguyên nước mặt
10‰ sẽ xuất hiện và xâm nhập sâu cách cửa sông hơn 40 km; riêng độ mặn 4‰ có thể
xâm nhập sâu đến 65 km. Dọc sông Định An trong các tháng 3, 4 năm nay và độ mặn
đạt tới 10‰ có thể xâm nhập cách cửa sông đến 30km; riêng độ mặn 4‰ có thể xâm
nhập sâu đến 40 km. Dọc sông Trần Đề, độ mặn 10‰ trong tháng 3 và tháng 4/2008 có
thể xâm nhập cách cửa sông khoảng 35 km. Độ mặn 4‰ có thể xâm nhập sâu 45 km kể
từ cửa sông. Dọc sông Cái Lớn, độ mặn 10‰ trong tháng 4 có thể xâm nhập sâu
khoảng 35 km kể từ cửa sông; đây cũng là tháng có độ mặn cao nhất trong năm 2008.
Giáo sư, Tiến sĩ Lê Sâm, Viện Trưởng Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam cho biết:
Năm 2007, có lượng mưa trung bình lớn hơn năm 2006 nhưng xuất hiện sớm, nên lũ về
ĐBSCL ở mức thấp. Mực nước đầu nguồn trên sông Cửu Long vào những tháng cuối
năm 2007 giảm hơn so với cùng kỳ năm 2006. Đồng thời với xu thế ngày càng gia tăng
mực nước biển, nên mức độ xâm nhập mặn mùa khô năm 2008 sâu và lớn hơn trung
bình nhiều năm ở ĐBSCL. Hiện tại, nước mặn xâm nhập sâu vào đất liền đã gây khó
khăn cho một số địa phương.
Ông Sử Văn Minh, Trưởng Phòng Nông nghiệp - Thủy sản huyện Trần Văn Thời, tỉnh
Cà Mau cho biết: hiện nước mặn đang xâm nhập sâu, đe dọa nghiêm trọng 7.000 ha đất
nông nghiệp đang thực hiện mô hình lúa + cá đồng và hoa màu của huyện. Hầu hết các
tuyến kênh vùng ngọt hóa tại huyện này đã bị nhiễm mặn (từ 4 đến 9‰). Tại vùng ngọt
hóa huyện U Minh, trên các tuyến kênh 500, Mương Phèn nước mặn đã xâm nhập sâu
vào tận nội đồng.
Tại Bến Tre, hiện nước mặn trên tất cả các con sông lớn đã vào sâu trong nội địa trên

40km, có nơi 55km. Trên sông Cửa Đại (sông Tiền), nước mặn đã tràn đến các xã Giao
Hòa, Giao Long, An Hóa (huyện Châu Thành). Trên sông Cổ Chiên, nước mặn đã tràn
đến xã Thành Thới B (huyện Mỏ Cày), các xã Vĩnh Thành, Hưng Khánh Trung (huyện
Chợ Lách, 55km). Trên sông Hàm Luông, nước mặn đã xâm nhập đến Vàm Mỹ Hóa,
thuộc phường 7, thị xã Bến Tre. Đặc biệt, độ mặn trên các sông Cửa Đại, Hàm Luông,
Cổ Chiên đã tăng lên đáng lo ngại, từ 22,5 đến 27‰, nay đã tăng lên từ 25 đến 29‰.
Hiện, nhiều huyện ven biển đã thiếu nước ngọt cục bộ, người dân phải mua nước ngọt
để ăn uống với giá cao.
Tại xã Mỹ Đức, thị xã Hà Tiên (tỉnh Kiên Giang), các hồ, giếng nước ngọt đã cạn kiệt.
Tại xã đảo Nam Du và An Sơn, huyện Kiên Hải (tỉnh Kiên Giang), giếng khơi, giếng
đào trên đảo đã bị xâm ngập mặn, hoặc nước ngọt còn rất ít, đã làm cho hàng ngàn hộ
dân thiếu nước ngọt nghiêm trọng. Cả 2 xã đảo chỉ trông cậy vào nguồn nước ngọt duy
nhất, ít ỏi, tại khu vực Bãi Giếng (xã An Sơn), nhưng không đủ dùng. Có lúc, người
dân phải mua nước ngọt với giá 150.000 đồng/m
3
.
[Nguồn: Cổng thông tin điện tử, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (24/3/2008)]

Một khó khăn khác là tài nguyên nước trên lãnh thổ nước ta phân bố rất không đều theo
không gian và thời gian. Bình quân toàn lãnh thổ lượng mưa năm là 1.944mm. Tuy nhiên
lượng mưa này phân bố không đều theo không gian.
Giáo trình TÀI NGUYÊN NƯỚC LỤC ĐỊA
70
Chương II: Tài nguyên nước mặt
Bảng 2.3. Lượng mưa tại một số địa phương (mm)
Các tháng trong năm
Địa phương
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Lai Châu - 33 25 123 243 402 378 291 163 42 25 2
Sơn La - 36 37 87 152 223 262 305 58 39 12 1

Tuyên Quang 1 15 14 65 263 115 459 455 94 58 50 7
Hà Nội - 25 31 18 140 97 247 354 183 28 116 1
Bãi Cháy 2 10 48 43 49 198 464 666 80 50 86 1
Nam Định 2 34 28 24 220 124 186 327 102 60 1 6
Vinh 27 53 51 44 100 57 171 547 254 518 58 71
Huế 179 88 19 52 61 13 54 476 510 406 239 382
Đà Nẵng 98 34 2 9 69 2 127 346 394 619 279 254
Quy Nhơn 55 35 166 42 106 30 70 46 219 191 138 193
Pleiku - - 46 65 152 202 649 526 330 202 2 4
Đà Lạt 26 16 102 89 176 166 165 281 349 309 19 -
Nha Trang 9 38 168 4 24 5 7 68 158 179 61 98
Vũng Tàu - - 22 72 202 249 219 190 169 252 19 120
Cà Mau 69 - - 116 231 324 475 450 374 241 80 27
[Nguồn: Tổng Cục Thống kê (2006)]
Tại tất cả các vùng trong nước, hàng năm lượng nước trong khoảng 3 tháng mùa lũ chiếm
75 ÷ 85% tổng lượng nước trong năm. Cùng với đó là mùa khô kéo dài từ 5 đến 6 tháng.
Trong mùa này, lượng dòng chảy trên rất nhiều con sông chỉ vào khoảng 15 ÷ 20% tổng
lượng dòng chảy năm.
Lượng dòng chảy trong sông, tổng hợp cả dòng chảy hình thành trong và ngoài lãnh thổ, cũng
phân bố rất không đều. Suất dòng chảy năm bình quân của cả nước là 2,642 triệu
m
3
/km
2
*năm. Vùng Đông Bắc với diện tích 65.327 km
2
có lượng dòng chảy năm 15,4 tỷ
m
3
/năm, suất dòng chảy năm chỉ là 236.000 m

3
/km
2
. Vùng ĐBSCL với diện tích 39.706 km
2

Giáo trình TÀI NGUYÊN NƯỚC LỤC ĐỊA
71
Chương II: Tài nguyên nước mặt
có lượng dòng chảy năm 507,9 tỷ m
3
/năm, suất dòng chảy năm khoảng 12,79 m
3
/ km
2
, gấp 54
lần suất dòng chảy của vùng Đông Bắc. Khác biệt giữa các vùng khác cũng tương đối lớn.
Bảng 2.4. So sánh suất dòng chảy năm của các vùng
Vùng Diện tích
(km
2
)
Lượng dòng chảy
năm (triệu m
3
)
Suất dòng chảy
năm (triệu m
3
/km

2
)
Đồng bằng sông Hồng 14.799 137.000 9,257
Đông Bắc 65.327 15.400 0,236
Tây Bắc 35.637 52.200 1,465
Bắc Trung Bộ 51.504 45.500 0,883
Duyên hải Nam Trung Bộ 33.066 31.700 0,959
Tây Nguyên 54.475 43.700 0,802
Đông Nam Bộ 34.733 36.600 1,054
Đồng bằng sông Cửu Long 39.706 507.900 12,789
Tổng 329.247 870.000 24,565
[Nguồn: Lê Quý An và CSV (2004), có chỉnh sửa]
Khung 2.2 Lũ ở Đồng bằng sông Cửu Long
Hàng năm, ĐBSCL có khoảng 1,4 triệu ha bị ngập lụt vào năm lũ nhỏ và khoảng 1,9
triệu ha vào năm lũ lớn, thời gian ngập lụt từ 3 đến 6 tháng, muộn hơn so với thượng
lưu khoảng 1 tháng. Lũ ĐBSCL mỗi ngày lên trung bình 5 ÷ 7 cm/ngày, lúc cao nhất
có thể đạt 20 ÷ 30 cm/ngày. Thời gian truyền lũ từ Phnôm-Pênh đến Tân Châu khoảng
2 ÷ 3 ngày. Đỉnh lũ lớn nhất thường xảy ra vào cuối tháng 9, đầu tháng 10 và vào tháng
8 thường xảy ra 1 đỉnh phụ, đỉnh phụ thấp hơn đỉnh chính.
Giáo trình TÀI NGUYÊN NƯỚC LỤC ĐỊA
72
Chương II: Tài nguyên nước mặt
Tổng lưu lượng lũ trung bình toàn vùng ĐBSCL khoảng 38.000 m
3
/s. Những năm lũ
lớn có thể đạt 40.000 ÷ 45.000 m
3
/s. Tổng lượng lũ vào ĐBSCL khoảng 350 ÷ 400 tỷ
m
3

. Mức nước ở Tân Châu cao hơn Châu Đốc khoảng 40 ÷ 60 cm, vì vậy có sự chuyển
nước từ sông Tiền sang sông Hậu qua các kênh nối giữa hai con sông này như Tân
Châu - Châu Đốc, Vàm Nao trong đó Vàm Nao là lớn nhất. Tỷ lệ phân phối nước
giữa sông Tiền, sông Hậu tại Mỹ Thuận - Cần Thơ là tương đối cân bằng (51 và 49%).
Lũ ở ĐBSCL có thể chia làm 3 thời kỳ: Đầu mùa lũ (tháng 7 ÷ 8) nước lũ trên sông
chính lên nhanh chứa nhiều phù sa. Thời kỳ thứ 2 khi nước lũ đã lên cao, lũ vào theo 2
hướng từ sông chính vào và từ biên giới Việt Nam - Campuchia tràn xuống. Thời kỳ
thứ 3 là lũ rút, thường bắt đầu từ hạ tuần tháng 10, mức nước lũ ĐBSCL xuống dần cho
đến tháng 12 thì đại bộ phận diện tích hết ngập lụt.
Một vài trận lũ lớn do sông Mê-Kông gây ra:
- Lũ năm 1961: đây là một trong hai trận lũ lớn có đỉnh cao nhất trong khoảng 60
năm trở lại đây ở ĐBSCL, mực nước cao trên 4,50m.
- Lũ năm 1966: là năm có đỉnh cao nhất trong hơn 30 năm qua; đỉnh lũ năm 5,28m
tại Tân Châu và 4,84m tại Châu Đốc.
- Lũ năm 1978: là một trong những trận lũ lớn cả về lưu lượng, tổng lượng và đạt
đỉnh cao nhất 4,94m tại Tân Châu và 4,49m tại Châu Đốc, toàn vùng ĐBSCL có 87
người chết, 66.010 căn nhà hư hỏng, 245.500 hộ di dời, thiệt hại 2.469 tỷ đồng.
- Lũ năm 1991: đỉnh lũ năm đạt trên 4,50m tại Tân Châu, toàn vùng ĐBSCL có 158
người chết, 197.477 căn nhà hư hỏng, 15.600 hộ di dời, 88.837 ha lúa bị ngập, thiệt
hại 2.217 tỷ đồng.
- Lũ năm 1994: đỉnh lũ cao nhất trong năm tại Tân Châu là 4,67m và Châu Đốc là
4,26m, có 407 người chết, 505.906 căn nhà hư hỏng, 20.125 hộ di dời, 202.189 ha
lúa bị ngập, thiệt hại 2.284 tỷ đồng.
- Lũ năm 1996: đạt đỉnh lớn nhất 5,03m tại Tân Châu và 4,7m tại Châu Đốc, có 217
người chết, 78.859 căn nhà hư hỏng, 38.735 hộ di dời, 107.707 ha lúa và 76.396 ha
vườn cây ăn trái bị ngập, thiệt hại 2.182 tỷ đồng.
- Lũ năm 2000: lũ đến sớm hơn mọi năm và là trận lũ lịch sử. Mực nước cao nhất
trên sông Tiền tại Tân Châu là 5,06m (thấp hơn đỉnh lũ năm 1961 chỉ 5cm và cao
hơn đỉnh lũ năm 1996 đến 22cm), đỉnh lũ trên sông Hậu tại Châu Đốc đạt 4,90m
(cao hơn lũ lịch sử 1961 đến 13cm); tổng lượng lũ năm 2000 đạt 420 tỷ m

3
. Lũ năm
2000 vừa có đỉnh lũ cao vừa kéo dài trên 2 tháng; toàn vùng ĐBSCL có 548 người
chết, 901.983 căn nhà hư hỏng, 115.093 hộ di dời, 211.141 ha lúa bị ngập, thiệt hại
4.405 tỷ đồng.
[Nguồn: Thanh Tặng (10/2008)]
Giáo trình TÀI NGUYÊN NƯỚC LỤC ĐỊA
73
Chương II: Tài nguyên nước mặt
Trong khi nhiều vùng đất phải đối mặt với những cơn lũ dữ, nhiều khu vực khác lại đang
ngày ngày “Cầu trời mưa xuống. Lấy nước tôi uống. Lấy ruộng tôi cày…”. Hạn hán là
một hệ quả khác trong việc khai thác và sử dụng tài nguyên nước. Hạn hán cũng là thiên
tai gây tác hại lớn trên diện rộng cho sản xuất nông, công nghiệp và sinh hoạt của nhân
dân. Vào mùa khô tất cả các vùng sinh thái từ đồng bằng, trung du đến miền núi đều có
thể bị hạn nặng. Thậm chí tại các đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Huế và
một số thành phố duyên hải miền Trung vào mùa khô cũng có nạn thiếu gay gắt nước ăn
uống sinh hoạt cho nhân dân, cũng như nước cho sản xuất công nghiệp.
Khung 2.3 Hạn hán ở Tây Nguyên ngày càng khốc liệt
Nửa đầu tháng 4, một vài nơi ở Tây Nguyên đã có mưa, nhưng không làm giảm cơn
khát của người dân và hàng chục nghìn ha lúa, cà phê nơi đây. Toàn khu vực hiện có
25.000 hộ dân với hơn 123.000 người bị thiếu nước sinh hoạt. Đặc biệt, 319.000 người
đang lâm vào cảnh thiếu ăn do giáp hạt và hạn hán.
Nhận định của Trung tâm khí tượng thủy văn Tây Nguyên thời gian tới ngày nắng nóng
và khô, nhiệt độ có ngày lên tới 36 độ C. Lượng mưa thấp hơn trung bình nhiều năm,
phổ biến ở mức 25 ÷ 30 mm. Tình trạng khô hạn vẫn tiếp tục xảy ra.
Các tỉnh Nam Trung Bộ vẫn tiếp tục nắng nóng, ít mưa, tổng lượng mưa tháng có khả
năng ở mức thấp hơn trung bình nhiều năm. Lượng dòng chảy trên các sông suối giảm
dần, có thể thiếu hụt so với trung bình nhiều năm 15 ÷ 25%.
Hiện mực nước trên các ao hồ, sông suối ở Tây Nguyên tiếp tục giảm dần. Dòng chảy
trên các sông suối đều nhỏ hơn trung bình cùng kỳ 20 ÷ 30%, có nơi 40 ÷ 50%. Một số

hồ nước đã thấp hơn mực nước chết như Ia Rung (Gia Lai), Krông Búc Hạ, Ea Súp Hạ,
Núi Lửa (Đăk Lăk), Đăk Sa Nen, Đăk Brông, Hồ Chè, Ia Bang Thượng (Kon Tum).
Theo Bộ NN&PTNT, Đăk Lăk bị thiệt hại nhiều nhất. 250.000 hộ dân ở đây đang lâm
vào cảnh đói và rất cần sự hỗ trợ. 62.000 hộ khác đang ngóng trời cầu mưa vì hơn 2
tháng nay họ phải đi vài cây số mới lấy được một hai bình nước. Về nông nghiệp,
5.790 ha lúa đông xuân, 40.440 ha cà phê, 1.420 ha rau màu tập trung ở các huyện
Krông Pak, Krông Buk, Krông Năng, Ea Kar đang bị cạn kiệt nguồn nước tưới tiêu.
Tỉnh đã chi khoảng 40 tỷ đồng, trong đó nhân dân đầu tư 35 tỷ đồng cho công tác
chống hạn, tuy nhiên vẫn đành chấp nhận để nhiều diện tích lúa và cà phê bị mất trắng.
Tỉnh Gia Lai dù đã trích ngân sách 800 triệu đồng cho công tác chống hạn, nhưng hiện
vẫn có 37.000 người thiếu lương thực, hơn 4.000 hộ dân với 21.420 nhân khẩu tập
trung ở các huyện phía đông Trường Sơn bị khan hiếm nguồn nước sinh hoạt. 998 ha
lúa đông xuân, 1.170 ha cà phê, 740 ha ngô cũng đang bị nứt nẻ, héo rũ.
Tại Kon Tum hiện có 32.500 người thiếu ăn, 2.800 hộ dân với 11.520 người tập trung ở
huyện Ngọc Hồi, Kon Rẫy, Đăk Tô, Sa Thầy, thị xã Kon Tum bị thiếu nước sinh hoạt.
360 ha lúa đông xuân, 59 ha cà phê, 50 ha mía cũng trong cảnh khát nước. Kon Tum đã
trích 100 triệu đồng từ ngân sách của tỉnh để mua 5 máy bơm và nhiên liệu phục vụ cho
việc bơm nước tưới tiêu.
Giáo trình TÀI NGUYÊN NƯỚC LỤC ĐỊA
74
Chương II: Tài nguyên nước mặt
[Nguồn: Như Trang (19/4/2003)]
Một khó khăn khác là chất lượng nguồn nước đang ngày càng giảm sút, trong khi đó nhu
cầu về nguồn nước sử dụng ngày càng tăng. Với sự phát triển nhanh của công nghiệp
hóa, đô thị hóa, gia tăng dân số ở nông thôn cũng như thành thị, chất lượng nguồn nước
mặt đã có những biểu hiện suy thoái khá nghiêm trọng.
Ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và nhiều đô thị lớn và vừa hiện nay vẫn tồn tại tình
trạng nước thải sinh hoạt, lẫn lộn với nước thải công nghiệp không qua xử lý tập trung
mà trực tiếp thải ra các sông, hồ, kênh, mương lộ thiên. Nước thải từ phần lớn các bệnh
viện và cơ sở y tế cũng còn được xả thải vào hệ thống nước thải công cộng. Độ ô nhiễm

của phần lớn các nguồn tiếp nhận nước thải đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép.
Ô nhiễm nước ở nông thôn và các khu vực sản xuất nông nghiệp cũng rất nghiêm trọng.
Ở đây chưa có cơ sở hạ tầng tốt cho thoát nước thải, phần lớn chất thải của con người và
gia súc không được xử lý, bị rửa trôi theo dòng mặt hoặc thấm xuống đất làm cho nguồn
nước mặt cũng như nước ngầm bị ô nhiễm về mặt hữu cơ và vi sinh. Môi trường nước
nông thôn còn bị ô nhiễm do sử dụng không hợp lý và đúng quy cách các hóa chất nông
nghiệp, trong đó có không ít hóa chất độc hại.
Đặc biệt mức độ ô nhiễm nước ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp
tập trung đã đến mức báo động. Hàng trăm khu công nghiệp, khu chế xuất đang được đầu
tư tại khắp các tỉnh thành trong cả nước đang dần dần “bóp chết” không chỉ tài nguyên
nước mà còn ảnh hưởng đến cả môi trường sống của chúng ta.
Khung 2.4 Quanh việc Vedan gây ô nhiễm sông Thị Vải
Dù đã có thông tin từ phía người dân về việc Công ty Vedan Việt Nam xả thải ra sông
Thị Vải và dù đã từng có “tiền án” hơn 2 năm về trước, nhưng cơ quan chức năng là
Cục Cảnh sát môi trường cùng đoàn kiểm tra liên ngành Bộ Tài nguyên và Môi trường
đã phải mật phục ròng rã 3 tháng trời, mới bắt được quả tang Vedan xả nước thải chưa
qua xử lý xuống sông Thị Vải.
Hệ thống “tinh vi”
Việc Công ty Vedan xả nước thải chưa qua xử lý theo quy định và có chứa rất nhiều
chất độc hại ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống bên ngoài, nhất là dòng
sông Thị Vải, vốn dĩ không còn xa lạ gì với công luận và dư luận người dân quanh khu
vực này, từ hàng chục năm về trước.
Từ những năm 90 của thế kỷ trước, cụ thể là những năm 1994 ÷ 1995, Công ty Vedan
đã lắp đặt một “hệ thống xử lý” có chủ ý: hệ thống bơm nhiều tầng nấc có các van đóng
- mở linh hoạt và dẫn ra một đường ống “bí mật” được cắm sâu trong lòng đất trực chỉ
ra sông Thị Vải. Chỉ cần một cái lắc tay nhẹ nhàng, toàn bộ nước thải, lẽ ra đi vào hệ
thống vận hành, sẽ đổ thẳng xuống dòng sông vô tội, mà bằng mắt thường khó mà phát
hiện được. Theo dư luận người dân quanh khu vực, hầu như hệ thống này chỉ làm việc
vào quá nửa khuya, lúc mọi người đã yên giấc. Vào thời điểm đó, Công ty Vedan đã
buộc phải bồi thường hàng chục tỷ đồng cho người dân, khi bị tố cáo là làm ô nhiễm

Giáo trình TÀI NGUYÊN NƯỚC LỤC ĐỊA
75
Chương II: Tài nguyên nước mặt
sông Thị Vải làm chết cá tôm của các hộ dân, ngư dân địa phương.
Cách nay hơn 2 năm, giữa năm 2006, Công ty Vedan lại dính vào scandal, khi Thanh
tra Cục Bảo vệ môi trường - Bộ Tài nguyên và Môi trường, trong lần kiểm tra hàng loạt
các doanh nghiệp đóng trên địa bàn được cho là đã xả thải xuống sông Thị Vải, đã lại
phát hiện Vedan, dù có xây dựng 3 hệ thống xử lý và xả thải “hiện đại”, nhưng tất cả là
nhằm đối phó, đúng hơn là ngụy trang với cơ quan chức năng Trung ương và địa
phương. Theo nhận định của đoàn thanh tra, hệ thống này không đảm bảo các tiêu
chuẩn kỹ thuật cần thiết cho việc xử lý kỹ thuật, nếu không nói là làm cho có.
Dòng sông chết
Không chỉ sông Thị Vải mà toàn tuyến lưu vực sông Đồng Nai, từ lâu đã được báo
động là ô nhiễm do nước thải các nhà máy sản xuất của 56 khu công nghiệp và khu chế
xuất đang hoạt động.
Theo kết quả điều tra và khảo sát của Cục Bảo vệ môi trường, nước sông Đồng Nai,
đoạn từ nhà máy nước Thiện Tân đến Long Đại, đã bắt đầu ô nhiễm chất hữu cơ và
chất rắn lơ lửng, đáng chú ý đã phát hiện hàm lượng chì vượt tiêu chuẩn TCVN 5942-
1995. Tại đây, chất rắn lơ lửng thường vượt tiêu chuẩn 3 ÷ 9 lần, giá trị COD vượt 1,8
÷ 2,8 lần, giá trị DO thấp dưới giới hạn cho phép. Trong khi đó, chất lượng nước sông
của khu vực hạ lưu, giá trị DO giảm xuống rất thấp, SS vượt từ 2 ÷ 2,5 lần TCVN
5942-1995 (loại B). Vùng này cũng đã bị nhiễm mặn nghiêm trọng, nước sông khu vực
này không thể sử dụng cho sinh hoạt và tưới tiêu.
Một kết quả khảo sát của Sở Tài nguyên và Môi trường TP. HCM gần đây, cũng cho
những con số tương tự về mức độ ô nhiễm của hệ thống sông Sài Gòn (thuộc lưu vực
Đồng Nai). Cũng theo kết quả khảo sát này, các sông khác trong toàn lưu vực, chất lượng
nước cũng đang bị suy giảm trầm trọng. Nhưng ô nhiễm nhất trong toàn bộ lưu vực đó là
sông Thị Vải, trong đó có một đoạn sông dài trên 10 km gọi là “dòng sông chết”. Đây là
đoạn sông từ sau khu vực hợp lưu Suối Cả - sông Thị Vải khoảng 2 km đến khu công
nghiệp Mỹ Xuân. Tại đây, nước bị ô nhiễm hữu cơ trầm trọng, có màu nâu đen và bốc

mùi hôi thối cả ngày lẫn đêm, cả khi thủy triều. Theo kết quả khảo sát của Bộ Tài nguyên
và Môi trường, giá trị DO ở đây thường xuyên dưới 0,5 mg/L, có nơi chỉ 0,04 mg/L. Với
giá trị DO gần như bằng 0 như vậy, các loài sinh vật hầu như không còn khả năng sinh
sống, các nhà khoa học đã gọi đoạn sông này là “đặc sệt sự chết!”.
Theo tính toán sơ bộ của các nhà chuyên môn, với tổng lượng nước thải hàng ngày vào
khoảng hơn 4.000 m
3
của một công ty sản xuất tầm cỡ như Vedan, nếu “không thèm”
xử lý một ngày, có thể bỏ túi hàng trăm triệu đồng.
[Nguồn: Xuân Nghi (17/9/2008)]
Ở nước ta với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa, phát triển nông nghiệp
và nâng cao đời sống nhân dân ở nông thôn thì yêu cầu về nước đang tăng lên với tốc độ
chóng mặt. Theo tài liệu nghiên cứu về tài nguyên nước của Việt Nam do Viện Quy
hoạch thủy lợi hợp tác với Ngân hàng thế giới, Ngân hàng Phát triển châu Á thực hiện
năm 1996 thì năm 1990 lượng tài nguyên nước được sử dụng ở nước ta mới chỉ có 50 tỷ
Giáo trình TÀI NGUYÊN NƯỚC LỤC ĐỊA
76
Chương II: Tài nguyên nước mặt
m
3
/năm (chiếm 6% tổng tài nguyên nước), trong đó 92% được dùng cho nông nghiệp,
5% cho công nghiệp và 4% cho cấp nước đô thị. Tài liệu này dự báo rằng lượng nước sử
dụng sẽ tăng lên tới khoảng 65 tỷ m
3
/năm vào năm 2000; 72 tỷ m
3
/năm vào năm 2010
(tức tăng khoảng 11%); 80 tỷ m
3
/năm vào năm 2020 và 87 m

3
/năm vào năm 2030. Tỷ lệ
nước dùng cho nông nghiệp giảm xuống còn 75%, cho công nghiệp tăng lên 16% và cho
sinh hoạt là 9%.
Những tài liệu nghiên cứu gần đây đã đưa ra những yêu cầu cao hơn nhiều về gia tăng sử
dụng nước ở nước ta. So sánh với năm 2000 tổng lượng nước sử dụng trong năm 2010 sẽ
tăng 14%; năm 2020, 25% và năm 2030, 38%. Riêng cho nông nghiệp, đến năm 2010,
với diện tích tưới là 12 triệu ha, lượng nước cần dùng đã là 88,8 tỷ m
3
/năm. Tỷ lệ dân số
được sử dụng nước sạch hiện nay là 60%, dự kiến sẽ đạt 80% năm 2005 và 95% năm
2010. Nhu cầu nước cho sinh hoạt đương nhiên phải tăng theo. Với đà gia tăng được dự
báo trên đây đến năm 2030 lượng nước sử dụng sẽ có thể lên tới gần 90 tỷ m
3
/năm, tức
bằng khoảng 11% tổng tài nguyên nước, hoặc 29% tài nguyên nước hình thành trên lãnh
thổ quốc gia. Đây là những áp lực rất lớn lên nguồn tài nguyên nước mặc dù phong phú
về số lượng nhưng cũng tiềm ẩn rất nhiều khó khăn để khai thác và sử dụng.
Vì vậy, nhìn một cách lâu dài không thể khẳng định là nước ta sẽ luôn luôn có tài nguyên
nước phong phú với tổng lượng là 830 tỷ m
3
/năm, hay 10.375 m
3
/người*năm. Phần chắc
chắn là phải dựa chủ yếu vào lượng nước hình thành trên lãnh thổ là 310 tỷ m
3
/năm.
Lượng nước có thể có trên đầu người sẽ phải tính theo dân số ổn định xung quanh 100
triệu người (Lê Quý An và CSV, 2004).


II.5. CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Thế nào là lưu vực sông, các đặc trưng của lưu vực sông và các đặc trưng của dòng
sông?
2. Các quá trình hình thành dòng chảy sông ngòi và các yếu tố ảnh hưởng đến dòng chảy?
3. Hãy trình bày các nguy cơ có thể gây ảnh hưởng đến tài nguyên nước mặt tại Việt
Nam cả về số lượng lẫn chất lượng.



Giáo trình TÀI NGUYÊN NƯỚC LỤC ĐỊA
77
Chương III: Tài nguyên nước ngầm
CHƯƠNG III: TÀI NGUYÊN NƯỚC NGẦM

III.1. SỰ XUẤT HIỆN NƯỚC NGẦM
III.1.1. Một số khái nệm về nước ngầm
Nước ngầm là một bộ phận của chu trình thủy văn. Nước xâm nhập vào các hệ đất đá từ
mặt đất hoặc từ các bộ phận nước mặt. Sau đó nó vận động một cách chậm chạp cho đến
khi trở lại bề mặt do trọng lực của dòng chảy tự nhiên, do thực vật và các hoạt động của
con người Với khả năng trữ nước trong kho chứa ngầm kết hợp với lưu lượng chảy ra
khá nhỏ đã duy trì sự cung cấp nước cho nguồn nước mặt suốt một thời gian dài. Một số
nguồn cung cấp cho nước ngầm:
- Mưa.
- Dòng chảy mặt.
- Hồ, ao, kho chứa nước.
- Cấp nước nhân tạo: khi tưới vượt khả năng giữ ẩm của đất ẩm lâu hoặc bơm trả nước
lại cho các giếng.
Nước sau khi vận chuyển qua vùng đất không bão hòa dưới tác dụng của trọng lực và lực
khuếch tán sẽ tới vùng bão hòa. Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào những tình huống
thủy lực xung quanh.

Nước ngầm chảy ra khỏi lòng đất khi nó gặp các dòng dẫn hồ, biển. Nước ngầm ở gần bề
mặt có thể trực tiếp trở về khí quyển dưới dạng bốc hơi nước.
Nước ngầm nằm trong lòng đất có nhiều ưu điểm hơn nước mặt do chất lượng nước cao
hơn, khả năng bảo vệ trước sự ô nhiễm và bốc hơi tốt hơn, trữ lượng lại tương đối ổn
định, không bị thay đổi nhiều theo mùa và vốn đầu tư khai thác nước dưới đất cũng
không cao so với vốn đầu tư sử dụng nước mặt. Ngoài ra cũng cần phải thấy rằng, do
công nghiệp phát triển, một số dòng nước trên mặt trở thành kênh thải nước từ nhà máy,
do đó bị ô nhiễm nặng nề, việc xử lý rất phức tạp và tốn kém.
Vì vậy, nước ngầm chính là một khoáng sản có ích, một thành phần quan trọng của tài
nguyên nước, là một yếu tố của môi trường tự nhiên cần được khai thác sử dụng hợp lý
về mặt kinh tế, bảo đảm không bị nhiễm bẩn và cạn kiệt và phải giữ được điều kiện sinh
thái ở một mức độ nhất định. Khác với các loại khoáng sản khác, khai thác đến đâu là hết
đến đó như than, quặng , nước dưới đất khi khai thác có thể phục hồi trữ lượng. Đây là
đặc điểm riêng và cơ bản nhất của trữ lượng nước dưới đất. Trữ lượng nước dưới đất
được tính bằng m
3
/ngày. Trữ lượng khai thác nước dưới đất được đảm bảo bởi trữ lượng
tĩnh tự nhiên, trữ lượng động tự nhiên, trữ lượng bổ sung, trữ lượng tĩnh nhân tạo và trữ
lượng động nhân tạo.
Giáo trình TÀI NGUYÊN NƯỚC LỤC ĐỊA
78
Chương III: Tài nguyên nước ngầm
- Trữ lượng tĩnh tự nhiên: là lượng nước trọng lực trong các lỗ hổng, khe nứt và hang
hốc của đất đá chứa nước, kể cả lượng nước trọng lực của đất đá chứa nước trong đới
dao động mực nước. Trong các vỉa có áp trữ lượng tĩnh tự nhiên là thể tích nước có
thể lấy ra từ các vỉa chứa nước khi hạ thấp mực nước áp lực do tính đàn hồi của nước
và đất đá gây ra.
- Trữ lượng động tự nhiên: là lượng nước cung cấp của tầng chứa nước trong điều kiện
bị phá hủy do quá trình khai thác, thường được tính bằng tổng các yếu tố cân bằng tự
nhiên của tầng thấm nước mưa, thấm từ sông, thấm xuyên từ các tầng chứa nước lân

cận (gọi chung là tầng chứa nước). Trữ lượng này được xác định bằng lưu lượng của
dòng chảy dưới đất hoặc bằng trữ lượng thoát của các yếu tố cân bằng nước (như
lượng bốc hơi, lượng thoát của mạch nước, lượng thấm xuyên của các tầng lân cận,
lượng thấm ra sông ).
- Trữ lượng bổ sung: là lượng nước chảy vào tầng chứa nước do hoạt động khai thác.
- Trữ lượng tĩnh nhân tạo: là thể tích nước dưới đất trong tầng chứa nước có được do sự
xây dựng các công trình để cung cấp bổ sung cho đất đá chưa bão hòa nước.
- Trữ lượng động nhân tạo: là lượng nước từ kênh đào, hồ chứa, diện tích tưới thấm
vào tầng chứa nước do tiến hành các biện pháp kỹ thuật để gia tăng nguồn cung cấp
cho nước dưới đất.
Vì vậy, trữ lượng khai thác nước dưới đất được xem là hàm của các biến số nói trên cùng
với thời gian khai thác và hệ số sử dụng các loại trữ lượng tương ứng.
Các mỏ nước dưới đất được phân thành 3 nhóm:
- Nhóm I: nhóm mỏ nước có điều kiện địa chất thủy văn đơn giản. Đó là mỏ có tầng
chứa nước ổn định, chiều dày không thay đổi, đất đá đồng nhất, các nguồn chính hình
thành trữ lượng khai thác nước dưới đất có thể nghiên cứu chính xác trong quá trình
thăm dò hoặc dự toán có cơ sở.
- Nhóm II: nhóm mỏ nước có điều kiện địa chất thủy văn phức tạp. Thuộc nhóm này là
các mỏ nước có tầng chứa nước tương đối ổn định, chiều dày biến đổi, không đồng
nhất về tính thấm; một phần nguồn hình thành trữ lượng khai thác có thể được nghiên
cứu chính xác trong quá trình thăm dò, còn lại chỉ có thể dự đoán; chất lượng nước có
thể bị thay đổi và được tính toán gần đúng.
- Nhóm III: nhóm mỏ có điều kiện địa chất thủy văn rất phức tạp, các tầng chứa nước
rất không đồng nhất và bị các đứt gãy phá hủy chia cắt, các nguồn hình thành trữ
lượng khai thác chỉ có thể xác định gần đúng, chất lượng nước có thể bị thay đổi và
chỉ xác định được một cách sơ bộ.
Tùy theo mức độ thăm dò và điều kiện khai thác, trữ lượng nước dưới đất được phân
thành hai loại là trữ lượng trong bảng cân đối (là trữ lượng được thăm dò và đánh giá có
thể đưa vào khai thác hợp lý về mặt kinh tế và kỹ thuật vào điểm hiện tại) và trữ lượng
ngoài bảng cân đối (là trữ lượng được thăm dò, đánh giá như trên, vào điểm hiện tại khai

thác chưa hợp lý).
Giáo trình TÀI NGUYÊN NƯỚC LỤC ĐỊA
79
Chương III: Tài nguyên nước ngầm
III.1.2. Phân loại hệ tầng ngậm nước
Dựa trên tính ngậm nước và chuyển nước để chia các hệ tầng ngậm nước:
- Hệ ngậm nước: hệ địa chất trong đó có thể chứa nước trong các lổ rỗng và chuyển
động như cát, cuội, sỏi, đá cát
- Hệ ngậm nước yếu: hệ địa chất có tính chứa nước và dẫn nước kém như đất thịt, đất
sét pha cát.
- Hệ ngậm nước nhưng không chuyển nước: hệ địa chất có khả năng chứa nước mà
không có khả năng dẫn nước như đất sét.
- Hệ không ngậm nước và không dẫn nước: hệ địa chất không có khả năng chứa nước
và dẫn nước như đá hoa cương.
Trong bốn loại trên hệ ngậm nước có ý nghĩa nhất đối với nước ngầm, nó đóng vai trò
như một kho chứa nước ngầm và điều tiết dẫn cho nước mặt. hệ không ngậm nước đóng
vai trò như vách bồn chứa.
Hầu hết các tầng ngậm nước là một vùng rộng kéo dài và có thể xem là một kho chứa
nước dưới đất. Nước vào kho chứa này từ sự bổ sung ngầm của tự nhiên (mưa, dòng chảy
ngầm) hay nhân tạo (giếng bơm). Nó chảy ra ngoài bề mặt mặt đất dưới tác động của
trọng lực hoặc bơm hút. Thông thường tổng lượng hàng năm của nước ngầm biến đổi rất
ít. Tầng ngậm nước có thể được phân loại thành tầng ngậm nước có áp, tầng ngậm nước
không áp và tầng ngậm nước bán áp.
Giáo trình TÀI NGUYÊN NƯỚC LỤC ĐỊA
80

×