Tải bản đầy đủ (.pdf) (15 trang)

GIÁO TRÌNH TÀI NGUYÊN NƯỚC LỤC ĐỊA part 10 ppsx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (876.31 KB, 15 trang )

Chương VI: Quản lý tổng hợp nguồn nước
VI.3. MỘT SỐ CÔNG CỤ HỖ TRỢ CHO IWRM
VI.3.1. Quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng
8
a) Định nghĩa
Quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng là một khái niệm rộng và đa nghĩa
theo tính
ứng dụng của nó trong thực tiễn, đề cập sự tham gia của các cộng đồng có lợi
ích liên quan
trong quản lý tài nguyên đất và nước, rừng và động vật hoang dã và nguồn
lợi thủy sản. Khái niệm về sự tham gia của cộng đồng trong sử
dụng nước lần đầu tiên
được giới thiệu chính thức tại Hội nghị Thế giới về Nước 1977 (Argentina) cho chương
trình quốc tế Thập kỷ về cung cấp nước sạch và vệ sinh trong những
năm 1980. Sau đó, ý
tưởng về quản lý nước bởi cộng đồng và phi tập trung hóa trong cấp
nước tiếp tục được
thử nghiệm, củng cố và lan rộng trong thập kỷ 1990, đặc biệt là ở các
nước đang phát
triển sau các sự kiện Hội nghị tư vấn toàn cầu về nước sạch tổ chức ở New
Delhi (1990)
và Tuyên bố Dublin về nước và phát triển bền vững (1992) và Hội nghị thượng
đỉnh về
Trái đất ở Rio de Janiero (1992). Gần đây, một trong sáu tuyên bố chính thức của Hội

nghị quốc tế về nước ngọt ở CHLB Đức (2001) đã xác nhận tầm quan trọng của quản lý
dựa
vào cộng đồng rằng: “Phi tập trung hóa là cốt lõi. Địa phương là nơi để chính sách
quốc gia
đáp ứng nhu cầu của cộng đồng”.
Nguyên tắc cốt lõi của quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng, dù tồn tại dưới hình


thức
nào, vẫn là sự tham gia của cộng đồng trong việc lập kế hoạch, vận hành, duy trì các
hệ thống
cấp nước mà cộng đồng được hưởng lợi. Theo Madeleen (1998), quản lý tài
nguyên nước dựa vào cộng đồng có ba khía cạnh chính gồm:
- Trách nhiệm: cộng đồng tham gia làm chủ (có quyền sở hữu) và có nghĩa vụ tham dự
vào hệ
thống cấp nước để đảm bảo việc vận hành và duy trì thành công.
- Quyền lực: với tư cách vừa là người sử dụng vừa là người quản lý tài nguyên nước,
cộng
đồng có quyền hợp pháp để ra những quyết định liên quan đến kiểm soát, vận
hành và duy trì
tài nguyên nước và hệ thống cấp nước đi kèm.
- Kiểm soát: cộng đồng có khả năng thực hiện và xác định được kết quả từ các quyết
định của
mình có liên quan đến hệ thống. Khía cạnh này đề cập đến năng lực của cộng
đồng ở
khả năng đóng góp về kỹ thuật, nhân công và tài chính, sự hỗ trợ về thể chế
của
cộng đồng trong quá trình lập kế hoạch, thực hiện và duy trì tính bền vững của hệ
thống cung
cấp nước.
Quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng là một quá trình quản lý hiệu quả có sự tham
gia của cộng
đồng với vai trò là trung tâm của hệ thống quản lý nước. Sự tham gia của
cộng đồng
rất đa dạng và phụ thuộc vào bối cảnh địa phương, quy mô của cộng đồng,
luật pháp nhà
nước, thể chế và năng lực địa phương, và công nghệ được sử dụng. Mô
hình này có thể xác

lập dưới dạng các hội người tiêu dùng và các nhóm hành động cộng
đồng ở khu vực thành thị
cho đến các nhóm sử dụng nước và hợp tác xã thủy lợi ở vùng
nông thôn (Bandaragoda,
2005).

8
Tham khảo chi tiết: Nguyễn Việt Dũng, Nguyễn Danh Tĩnh (2006)
Giáo trình TÀI NGUYÊN NƯỚC LỤC ĐỊA
181
Chương VI: Quản lý tổng hợp nguồn nước
Quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng không hàm ý cộng đồng phải có trách nhiệm
đối
với tất cả các khía cạnh trong hệ thống nước mà họ đang sử dụng. Họ có thể tham gia
vào một, một vài hoặc tất cả công việc quản lý, vận hành, kỹ thuật và tài chính của một
hệ
thống cấp nước. Theo Bruns (1997), mức độ tham gia của cộng đồng rất đa dạng, từ
việc
đơn thuần chia sẻ thông tin về kế hoạch nước, cho đến thảo luận để đưa ra các ý
tưởng; hoặc
từ việc tham gia như hình thức “nhân công giá rẻ” hoặc “chia sẻ chi phí”,
hoặc tham gia để
xây dựng quyết định dựa trên sự đồng thuận đến chuyển giao trách
nhiệm và quyền để kiểm
soát hệ thống tại địa phương.
b) Quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng ở Việt nam: góc nhìn từ chính
sách và thể chế
Sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tài nguyên nước ở Việt Nam đã có lịch sử từ lâu,

đặc biệt là ở vùng đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng Nam Bộ - nơi hàng năm lũ lụt từ sông

Hồng và sông
Mê-Kông thường gây ra nhiều thiệt hại cho người, tài sản, mùa màng và đất
đai. Nhờ sự tham gia
của cộng đồng, hàng ngàn đê, đập, hồ chứa nước nhân tạo, kênh
mương và giếng làng đã
được xây dựng tại nhiều địa phương. Tuy nhiên, bản chất của sự
tham gia của cộng đồng trong quản lý
nước có sự khác biệt tương ứng với điều kiện kinh tế
xã hội, môi trường thể chế chính trị và tổ
chức xã hội của đất nước ở từng giai đoạn.
Kể từ khi Việt Nam bắt đầu quá trình chuyển đổi kinh tế năm
1986, Chính phủ đã liên tục
đề cao sự tham gia và đóng góp của cộng đồng và các ngành
trong mọi lĩnh vực phát triển
của đất nước, kể cả khai thác, sử dụng, xử lý, cung cấp và bảo vệ
nguồn nước. Điều này
được biết đến dưới khái niệm “xã hội hóa” như là một phương châm
hành động với khẩu
hiệu “Nhà nước và nhân dân cùng làm”. Tuy nhiên, vấn đề chuyển giao
đầy đủ trách
nhiệm quản lý nước cho cộng đồng thì hầu như chưa được xem xét đến.
Luật Tài nguyên Nước của Việt Nam lần đầu tiên được ban hành vào năm 1998. Về vấn
đề sở
hữu, Luật này quy định tài nguyên nước là tài sản của tất cả mọi người và được
Nhà nước
thống nhất quản lý (Điều 1). Điều này có nghĩa nước là tài sản chung. Luật
cũng quy định mọi
tổ chức hoặc cá nhân đều có quyền khai thác và sử dụng tài nguyên
nước cho đời sống và
sản xuất, đồng thời họ cũng phải có trách nhiệm bảo vệ tài nguyên

nước. Tuy nhiên, trong luật
này không có từ nào nhắc đến “sự tham gia của cộng đồng”
hoặc “quản lý bởi cộng đồng” đối
với tài nguyên nước.
Một bước tiến khi quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng được chính thức đề xuất
trong
Chiến lược Quốc gia về Tài nguyên Nước đến năm 2020 đã được phê duyệt theo
Quyết định
81/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 14/4/2006. Chiến lược này
nhìn nhận sự tham gia của cộng đồng là một biện pháp chính đảm bảo việc
quản lý và sử
dụng tài nguyên nước bền vững. Chiến lược này nhấn mạnh: (1) huy động sự
tham gia
của nhân dân nhằm bảo vệ tài nguyên nước, đặc biệt là ở các thành phố lớn, vùng
đông
dân cư và các vùng đang bị ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng; (2) xây dựng các cơ chế

phù hợp huy động khả năng của cộng đồng trở thành những người hỗ trợ chính cho việc
giám
sát bảo vệ nguồn nước và ngăn chặn các hành vi tiêu cực làm cho nguồn nước bị ô
nhiễm và
suy thoái; (3) tăng cường sự tham gia của các tổ chức và cá nhân trong quá
trình lập kế hoạch,
kiểm tra và giám sát việc thực hiện các kế hoạch lưu vực sông và dự
án về tài nguyên nước.
Giáo trình TÀI NGUYÊN NƯỚC LỤC ĐỊA
182
Chương VI: Quản lý tổng hợp nguồn nước
Ngày nay đã có nhiều loại hình thể chế cộng đồng về quản lý và cung cấp nước ở Việt
Nam. Với xu hướng “xã hội dân sự” đang phát triển trong nước, sẽ có nhiều tổ

chức cộng
đồng hơn ra đời trong tương lai, và chắc chắn xu hướng này sẽ thúc đẩy mạnh mẽ
các
cộng đồng tham gia vào các hoạt động quản trị xã hội và quản lý tài nguyên. Đặc biệt ở
hai lĩnh vực hiện nay cộng đồng đã tham gia - quản lý công trình thủy lợi phục vụ nước
cho sản xuất nông nghiệp, và cấp nước sinh hoạt nông thôn.
VI.3.2. Quản lý nước theo lưu vực sông
9
a) Khái niệm
Quản lý lưu vực sông là một vấn đề đã được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới trong
nửa cuối của thế kỷ 20 và phát triển rất mạnh trong vài thập kỷ gần đây nhằm đối phó với
những thách thức về sự khan hiếm nước, sự gia tăng tình trạng ô nhiễm và suy thoái các
nguồn tài nguyên và môi trường của các lưu vực sông. Hiện nay trên thế giới đã có hàng
trăm các tổ chức quản lý lưu vực sông được thành lập để quản lý tổng hợp và thống nhất
tài nguyên nước, đất và các tài nguyên liên quan khác trên lưu vực sông, tối đa hóa lợi ích
kinh tế và phúc lợi xã hội một cách công bằng nhưng không làm tổn hại đến tính bền
vững của hệ thống môi trường trọng yếu của lưu vực, duy trì các điều kiện môi trường
sống lâu bền cho con người.
Trên thế giới, kể từ sau Hội nghị Dublin (1992) và Hội nghị thượng đỉnh về Môi trường
và phát triển của thế giới họp tại Rio de Janiero (1992), phần lớn các nước trên thế giới
đều trong tiến trình thực hiện quản lý tổng hợp tài nguyên nước với việc lấy lưu vực sông
làm đơn vị quản lý nước càng được chú trọng và được coi là điều kiện cần thiết để nâng
cao hiệu quả sử dụng nước, điều phối và giải quyết tốt các mâu thuẫn trong khai thác và
sử dụng tài nguyên nước giữa các vùng, các khu vực thượng hạ lưu của lưu vực sông.
Nước là một tài nguyên thiết yếu và quan trọng nhất của lưu vực sông. Việc sử dụng
nước có mối liên quan mật thiết với sử dụng đất và ảnh hưởng đến hệ sinh thái lưu vực
nên quản lý nước theo lưu vực sông sẽ giúp cho sử dụng và bảo vệ tốt hơn tài nguyên đất
và môi trường lưu vực, quản lý và giảm nhẹ các tác động tiêu cực của các hoạt động phát
triển kinh tế xã hội của con người đến tài nguyên và môi trường sống.
Quản lý nước theo địa giới hành chính là phương thức truyền thống vẫn phổ biến trên thế

giới nhiều thế kỷ gần đây và vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Ở nước ta cũng vậy, điều 58
của Luật Tài nguyên nước đã giao nhiệm vụ quản lý nước thuộc trách nhiệm của bộ máy
hành chính các cấp từ trung ương đến địa phương. Tuy nhiên, để phát triển bền vững thì
nước cũng cần thiết phải được quản lý theo lưu vực sông. Nhận thức rõ vai trò và tầm
quan trọng của vấn đề này, điều 64 của Luật Tài nguyên nước đã thể chế hóa về quản lý
lưu vực sông bằng việc quy định nội dung quản lý quy hoạch lưu vực sông và việc thành
lập cơ quan quản lý quy hoạch lưu vực sông đối với các lưu vực sông lớn ở nước ta.
Việc thực hiện quản lý nước theo lưu vực sông là một xu thế và định hướng mà nước ta
sẽ phải thực hiện trong các giai đoạn tới. Tuy nhiên đây là vấn đề rất mới và trong bối
cảnh của nước ta thì việc thực hiện trong thực tế không phải dễ dàng, sẽ có nhiều vấn đề
đặt ra cần phải nghiên cứu để từng bước giải quyết. Phương hướng chung là phải tiếp cận

9
Tham khảo chi tiết với Nguyễn Văn Thắng
Giáo trình TÀI NGUYÊN NƯỚC LỤC ĐỊA
183
Chương VI: Quản lý tổng hợp nguồn nước
kinh nghiệm của các nước trên thế giới và nghiên cứu vận dụng với điều kiện tự nhiên,
kinh tế xã hội của các lưu vực sông ở nước ta, thông qua trao đổi rộng rãi để tìm ra một
mô hình hợp lý.
Việc thực hiện quản lý nước theo lưu vực sông luôn gắn chặt với việc thành lập trên lưu
vực một tổ chức có vai trò chủ yếu là điều hành tất cả các hoạt động có liên quan đến sử
dụng nước và các yếu tố liên quan đến nước, bảo vệ môi trường lưu vực sông, gọi chung
là Tổ chức lưu vực sông (TCLVS). Việc thành lập TCLVS không có gì khó khăn vì đã
được thể chế hóa trong Luật Tài nguyên nước. Tuy nhiên, xác định rõ các chức năng,
nhiệm vụ cũng như hình thức của TCLVS, xây dựng các cơ chế cho tổ chức này có thể
hoạt động được một cách hiệu quả mới là vấn đề quan trọng, tránh tình trạng TCLVS
thành lập chỉ mang tính hình thức mà không triển khai được hoạt động và không phát huy
vai trò của mình trong thực tế.
b) Một số kinh nghiệm của thế giới về quản lý lưu vực sông

Hiện nay việc đổi mới thể chế trong QLLVS ở các nước thường tập trung vào hai việc:
(1) thành lập các tổ chức quản lý ở cấp lưu vực, và (2) đổi mới các hoạt động liên quan
đến quản lý nước ở lưu vực sông như xây dựng cơ chế phối hợp, đổi mới pháp chế, thiết
kế lại các công cụ kinh tế trong chính sách nước (như giá nước, thuế, trợ cấp), thiết kế lại
các tổ chức kinh tế (các tổ chức dịch vụ công, các tổ chức cung cấp dịch vụ, thị trường
nước, chuyển giao quản lý tưới cho các tổ chức dùng nước).
Trên thế giới đã có hàng trăm các TCLVS được thành lập. Các tổ chức này có cơ cấu tổ
chức và chức năng không hoàn toàn giống nhau tùy thuộc vào mỗi nước và điều kiện các
lưu vực sông. Sự khác nhau thường tập trung vào các điểm chính: hình thức tổ chức,
chức năng, mức độ tham gia trong quản lý nước của TCLVS, phương thức hoạt động, cơ
chế tài chính.
- Về hình thức của TCLVS: Các hình thức của TCLVS trên thế giới có thể quy
thành ba loại phổ biến như sau: cơ quan thủy vụ lưu vực sông; ủy hội lưu vực sông,
hội đồng lưu vực sông.
o Cơ quan thủy vụ lưu vực sông: là hình thức TCLVS có đầy đủ quyền hạn và phạm
vi quản lý lớn nhất. Ví dụ Cơ quan thủy vụ thung lũng Tennessce (Mỹ), Cơ quan
thủy vụ Núi tuyết (Úc) Đây là những tổ chức liên ngành lớn, tiếp nhận hầu hết
các chức năng của các cơ quan hiện hữu, trong đó bao gồm tất cả chức năng điều
hành và quản lý nước. Hình thức này có thể áp dụng đối với các lưu vực có nhiệm
vụ phát triển lớn.
o Ủy hội lưu vực sông: là mô hình thấp hơn cơ quan thủy vụ lưu vực sông về quyền
hạn cũng như sức mạnh của tổ chức và ảnh hưởng của nó trong quản lý lưu vực
sông. Một Ủy hội lưu vực sông thường bao gồm một hội đồng quản lý đại diện
cho tất cả các bên quan tâm và có một văn phòng kỹ thuật chuyên sâu hỗ trợ. Ủy
hội lưu vực sông liên quan chủ yếu đến xây dựng chính sách, lập quy hoạch phát
triển lưu vực, xây dựng thủ tục và kiểm soát sử dụng nước. Ủy hội có thể điều
chỉnh các vấn đề sử dụng nước liên quan đến nhiều tỉnh, thông qua các chính sách
liên quan đến nước của lưu vực sông, xây dựng các cơ sở dữ liệu, thông tin và mô
Giáo trình TÀI NGUYÊN NƯỚC LỤC ĐỊA
184

Chương VI: Quản lý tổng hợp nguồn nước
hình phù hợp về các vấn đề quản lý trên quy mô toàn lưu vực. Một số Ủy hội lưu
vực sông nắm cả chức năng vận hành (có thể cả đầu tư ) đối với những công trình
lớn, còn hầu hết việc vận hành và quản lý hàng ngày các công trình và hệ thống
cung cấp dịch vụ nước là công việc của các tỉnh nằm trong lưu vực. Một Ủy hội
như vậy có thể giám sát việc thực hiện các chiến lược, vận hành và quản lý các
công trình thủy lợi, thủy điện chủ chốt. Ví dụ về loại tổ chức này như Ủy hội sông
Murray- Darling (Úc), Ủy hội sông Mê-Kông
o Hội đồng lưu vực sông: là mô hình yếu hoặc có ít quyền lực nhất hiện nay. Hội
đồng lưu vực sông hoạt động chỉ như là một diễn đàn mà tại đó chính quyền liên
bang, các tiểu bang, cũng như đại diện các hộ dùng nước chia sẻ trách nhiệm phân
phối nước, thúc đẩy toàn diện quản lý nước tại cấp lưu vực. Các Hội đồng lưu vực
sông thường hoạt động theo nguyên tắc đồng thuận. Hình thức này có vai trò giới
hạn trong quy hoạch dài hạn, điều phối các vấn đề chính sách và chiến lược cấp
cao, không có vai trò vận hành hoặc quản lý hàng ngày. Ví dụ về hình thức này
như Hội đồng lưu vực sông Lerma - Chapala được thành lập năm 1993 (Mexico).
- Về chức năng và nhiệm vụ: Quản lý nước theo lưu vực sông có sự khác biệt so
với quản lý nước theo địa giới hành chính của các tỉnh ở chỗ phạm vi xem xét và giải
quyết của quản lý nước ở đây là trên toàn bộ lưu vực sông, trong đó chức năng của
quản lý nước có thể bao gồm hai loại: đề ra các tiêu chuẩn, kiểm tra, điều hành các tổ
chức chịu trách nhiệm quản lý vận hành các công trình khai thác sử dụng nước; quản
lý và điều hành về tài nguyên nước trên toàn bộ lưu vực sông.
Việc xác định các chức năng và nhiệm vụ của TCLVS phải tương xứng với yêu cầu
quản lý của lưu vực sông trong thực tế, trong đó chú trọng những yêu cầu cốt yếu.
Với một lưu vực sông cụ thể tùy theo tình hình thực tế và yêu cầu quản lý trong từng
thời kỳ mà có thể lựa chọn một số chức năng chính và tối cần thiết để thực hiện trước.
Các chức năng khác có thể đưa vào trong tiến trình thực hiện các giai đoạn sau.
Có thể thấy rằng gần như tất cả các TCLVS đều có chức năng lập quy hoạch quản lý
lưu vực và bổ sung điều chỉnh quy hoạch này trong quá trình thực hiện. Ngoài quy
hoạch, TCLVS có thể tham gia vào quản lý nước cũng như vận hành hệ thống công

trình khai thác sử dụng tài nguyên nước nhưng với các mức độ khác nhau tùy theo
hình thức của TCLVS.
Trong thực tế, các TCLVS đều tập trung vào việc xây dựng và phát triển các chiến
lược, chính sách, phân chia và điều phối sử dụng nước trong phạm vi lưu vực; có ít
các TCLVS tham gia trực tiếp vào quản lý vận hành các công trình cụ thể mà việc này
thường dành cho hệ thống quản lý nước theo địa giới hành chính đảm nhiệm. Từ chức
năng có thể xác định cụ thể các nhiệm vụ của TCLVS trong quy hoạch và quản lý
nguồn nước của lưu vực sông.
- Về quyền hạn của TCLVS: quyền hạn của TCLVS phải được thể chế hóa trong
các văn bản của nhà nước và phải tương xứng với nhiệm vụ trong quản lý nước của
TCLVS được nhà nước giao cho. Trong thực tế có TCLVS tập trung rất nhiều quyền
lực và đảm nhiệm phần lớn các nội dung của quản lý nước kể cả điều tra quan trắc
các số liệu khí tượng thủy văn, số liệu chất lượng nước, đầu tư xây dựng và quản lý
Giáo trình TÀI NGUYÊN NƯỚC LỤC ĐỊA
185
Chương VI: Quản lý tổng hợp nguồn nước
vận hành các công trình sử dụng nước vừa và lớn (chẳng hạn các Tổ chức quản lý
lưu vực các sông lớn của Trung quốc như sông Trường Giang, Hoàng Hà…). Ngược
lại cũng có TCLVS có rất ít quyền hạn trong quản lý nước mà chỉ đóng vai trò như là
một tổ chức tư vấn đóng góp các ý kiến về quản lý lưu vực sông cho các cấp chính
quyền, không tham gia bất kỳ các hoạt động quản lý nước cụ thể nào.
- Cơ chế tài chính: hoạt động của TCLVS cần có nguồn kinh phí ổn định lâu dài.
Nguồn tài chính này có thể dựa trên sự trợ giúp của nhà nước, các tổ chức quốc tế
hoặc đóng góp tài chính của các tỉnh, các hộ dùng nước được hưởng lợi trên lưu vực
sông. Trong thực tế phần lớn các tổ chức lưu vực sông trên thế giới được trích một
phần nguồn thu từ thuế tài nguyên nước và phí ô nhiễm nước cho các hoạt động quản
lý của mình.
- Thành phần tham gia: TCLVS còn là một diễn đàn để tất cả các bên liên quan
trao đổi, thảo luận, giải quyết các tranh chấp và tìm tiếng nói chung trong quản lý sử
dụng và bảo vệ tài nguyên nước. Vì thế, TCLVS cần có sự tham gia của tất cả các

thành phần liên quan đến quản lý nước và phải có đầy đủ quy chế cho thực hiện sự
tham gia này. Các thành phần tham gia trong một TCLVS thường bao gồm cơ quan
quản lý cấp Trung ương, đại diện của các tỉnh và địa phương, đại diện của các Bộ và
ngành dùng nước, đại diện của cộng đồng các người dùng nước. Tùy theo chức năng
và nhiệm vụ của mỗi TCLVS mà mức độ tham gia của các thành phần này có thể khác
nhau, tạo nên đặc điểm riêng về hoạt động của mỗi tổ chức lưu vực sông.
c)Áp dụng quản lý nước theo lưu vực sông ở Việt Nam
Về vấn đề quản lý các lưu vực sông ở nước ta, ngoài các lưu vực sông lớn như lưu vực
sông Hồng - Thái Bình, lưu vực sông Mê-Kông, nước ta còn một số các lưu vực sông
tương đối lớn chảy qua nhiều tỉnh như sông Đồng Nai, sông Mã, sông Cả, sông Sre-pok,
sông Thu Bồn, sông Trà Khúc, sông Ba, sông Cái Phan Rang Các lưu vực sông này
đang tồn tại nhiều vấn đề trong quy hoạch cũng như quản lý nguồn nước nên cũng rất cần
nghiên cứu các mô hình quản lý lưu vực thích hợp.
- Về yêu cầu đối với Tổ chức lưu vực sông ở nước ta: để TCLVS sau khi thành lập có
thể hoạt động được, các TCLVS cần có hình thức tổ chức phù hợp với điều kiện và
bối cảnh của lưu vực sông của nước ta. Nhiệm vụ của TCLVS không được trùng lặp
với nhiệm vụ của các tổ chức khác trên lưu vực sông, đặc biệt là nhiệm vụ quản lý
nước của hệ thống quản lý nước hiện hành của các tỉnh trên lưu vực. TCLVS cần có
cơ chế phù hợp để có thể phối hợp hoạt động với các cơ quan và tổ chức khác trong
quản lý sử dụng nước, nhất là với hệ thống quản lý theo địa giới hành chính hiện
hành. TCLVS phải là một diễn đàn mở rộng cho tất cả các thành phần liên quan đến
quản lý nước và môi trường tham gia trao đổi các ý kiến và thống nhất cách giải quyết
các mâu thuẫn trong quản lý nước, trong đó phải coi trọng sự tham gia của cộng đồng.
Điều này phải được thể hiện trong cơ cấu tổ chức và hoạt động của TCLVS.
- Về chức năng lập, trình duyệt và theo dõi thực hiện quy hoạch lưu vực sông: việc lập,
trình duyệt và theo dõi thực hiện quy hoạch lưu vực sông là một trong những chức
năng cần có của các TCLVS. TCLVS là tổ chức phù hợp nhất đảm nhiệm công tác
quy hoạch lưu vực sông để xác định các chính sách và chiến lược thực hiện quản lý
tổng hợp và thống nhất tài nguyên nước, đất và các tài nguyên môi trường liên quan
khác, quản lý và bảo vệ lưu vực sông. Điều này cũng phù hợp với Luật Tài nguyên

nước cũng như chức năng Nhà nước đã giao cho các Ban quản lý quy hoạch các lưu
Giáo trình TÀI NGUYÊN NƯỚC LỤC ĐỊA
186
Chương VI: Quản lý tổng hợp nguồn nước
vực sông đã thành lập ở nước ta như lưu vực sông Hồng - Thái Bình, sông Mê-Kông,
sông Đồng Nai.
- Về chức năng quản lý nước cũng như mức độ tham gia trong quản lý nước: các
TCLVS của nước ta có cần tham gia trong quản lý nước của lưu vực hay không và
nếu có thì nên ở mức độ nào là phù hợp? Có thể thấy rằng các lưu vực sông của nước
ta đang có nhiều tồn tại và bức xúc trong quy hoạch và cả trong quản lý nguồn nước
cần phải tháo gỡ. Đây là hậu quả của cách quản lý riêng rẽ theo địa giới hành chính từ
nhiều năm qua để lại đến ngày nay. Hiện tại nhà nước đã phân cấp cho hệ thống quản
lý nước theo địa giới hành chính chịu trách nhiệm quản lý nước tại các tỉnh và địa
phương, nhưng bao quát và giải quyết các vấn đề về quản lý nguồn nước trên toàn bộ
lưu vực sông cả về số lượng và chất lượng thì gần như chưa có cơ quan chịu trách
nhiệm (chẳng hạn vấn đề phân chia hợp lý nguồn nước giữa các ngành dùng nước,
giữa các khu vực, thượng lưu và hạ lưu, duy trì dòng chảy trên dòng chính và yêu cầu
nước cho hệ sinh thái ). Điều này sẽ gây trở ngại rất nhiều cho việc thực hiện các
nguyên tắc về quản lý tổng hợp tài nguyên nước và phát triển bền vững tài nguyên
nước trên lưu vực và chỉ có thể giải quyết được khi trao chức năng này cho tổ chức
lưu vực sông.
- Về cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của TCLVS: là một tổ chức có vị trí độc
lập, có cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, phù hợp với hoạt động điều phối, theo dõi giám sát và
tư vấn cho nhà nước và các tỉnh về các hoạt động sử dụng nước và xâm phạm đến tài
nguyên nước. Có sự tham gia đầy đủ của các thành phần liên quan thông qua các đại
diện có vị trí tương xứng trong Ban hay Hội đồng điều hành của TCLVS. Hoạt động
trên nguyên tắc đồng thuận cùng chia sẻ lợi ích và rủi ro của các tỉnh và các ngành
dùng nước trên lưu vực. TCLVS cần sử dụng quyền lực của các Tỉnh, Bộ và ngành
liên quan thông qua vai trò và vị trí của các thành viên đại diện của tỉnh, Bộ và ngành
tham gia trong Hội đồng đại diện của TCLVS để thực hiện các quyết định điều phối

và quản lý.
Các phân tích trên cho thấy việc giao trách nhiệm chỉ đạo, điều phối và kiểm soát việc sử
dụng nước trong phạm vi toàn bộ lưu vực sông cho các TCLVS của nước ta như phần lớn
các TCLVS trên thế giới thường đảm nhận là rất cần thiết để khắc phục các tồn tại của
cách quản lý nước riêng rẽ theo địa giới hành chính hiện hành. Tuy nhiên, để không
chồng chéo thì các TCLVS ở nước ta không nên tham gia vào các hoạt động quản lý khai
thác và sử dụng nước của hệ thống quản lý nước theo địa giới hành chính hiện hành mà
TCLVS chỉ nên đóng vai trò theo dõi, kiểm soát và trợ giúp cho hoạt động quản lý nước
của các tỉnh và địa phương trên lưu vực sông hài hòa với nhau, vì quyền lợi riêng của các
tỉnh cũng như cả lợi ích chung của toàn bộ lưu vực sông. Mặt khác, chỉ có được giao cho
tham gia trực tiếp vào việc chỉ đạo, điều phối và kiểm soát việc sử dụng nước trên lưu
vực sông thì TCLVS mới có vai trò và ảnh hưởng rõ rệt tới phát triển của lưu vực sông và
hơn nữa có thể sử dụng một phần các nguồn thu về thuế, phí tài nguyên nước cho các
hoạt động thường xuyên của TCLVS.

Giáo trình TÀI NGUYÊN NƯỚC LỤC ĐỊA
187
Chương VI: Quản lý tổng hợp nguồn nước
Khung 6.1 Cứu nguy sông Sài Gòn - cần một giải pháp tổng hợp
Sông Sài Gòn với chiều dài gần 110km, chảy qua 3 tỉnh Tây Ninh, Bình Dương và TP.
Hồ Chí Minh, là nguồn cung cấp nước sinh hoạt quan trọng nhất cho hơn 10 triệu dân
trong lưu vực, đang bị nước thải từ các hoạt động công nghiệp, nuôi trồng thủy sản, và cả
sinh hoạt từ các khu dân cư đầu độc ở mức độ báo động khẩn cấp. Với viễn cảnh này thì
chẳng bao lâu nữa sông Sài Gòn có thể sẽ trở thành sông Thị Vải thứ hai như Giáo sư -
tiến sĩ Lâm Minh Triết đã nhận định: “nếu không cương quyết thực hiện (việc bảo vệ
nguồn nước) thì sông Sài Gòn cũng sẽ trở thành “dòng sông chết” trong tương lai gần”.
Nhiều cuộc hội thảo đã diễn ra, nhưng những gì các nhà khoa học nêu ra đến nay chỉ
dừng lại với việc và cảnh báo tình trạng ô nhiễm sông Sài Gòn và xác định các nguyên
nhân chứ chưa có liều thuốc cụ thể cho căn bệnh ô nhiễm này. Vậy liệu có giải pháp
tổng thể nào cho vấn đề này không?

Với một dòng sông như sông Sài Gòn - chảy qua địa phận nhiều tỉnh, để giải quyết vấn
đề ô nhiễm thì việc quản lý không thể thực hiện đơn giản phân khúc địa lý theo kiểu
hành chính được. Rõ ràng là “nước chảy bèo trôi”, một sự cố gây ô nhiễm ở Tây Ninh,
Bình Dương (thượng lưu) có thể dễ dàng lan tỏa tới TP. Hồ Chí Minh (hạ lưu). Chuyện
ô nhiễm kênh Ba Bò là một ví dụ sống động nhất. Việc chỉ lo xử lý nước sông ở tại TP.
Hồ Chí Minh sẽ chỉ là giải quyết phần ngọn, không bao giờ giải quyết dứt điểm được
vấn đề. Do đó, cần thực hiện ngay việc quản lý tổng hợp sông Sài Gòn theo lưu vực.
Việc quản lý tổng hợp sông theo lưu vực là một vấn đề đã được thực hiện ở nhiều nước
trên thế giới trong nửa cuối của thế kỷ 20 và phát triển rất mạnh trong vài thập kỷ gần
đây. Hiện nay trên thế giới đã có hàng trăm các tổ chức quản lý lưu vực sông được
thành lập để quản lý tổng hợp lưu vực sông IRBM, đó là một quá trình bao gồm quản
lý kết hợp gìn giữ và phát triển thống nhất tài nguyên nước và các tài nguyên liên quan
khác trong lưu vực nhằm tối ưu hóa các lợi ích về kinh tế, xã hội có được từ nguồn
nước; giúp nhận diện, ngăn ngừa, xử lý các tác nhân gây ô nhiễm nguồn nước, bảo đảm
tính bền vững của hệ thống môi trường của toàn lưu vực.
Vấn đề quản lý tổng hợp lưu vực sông ở đây phải bao gồm:
- Việc quản lý, bảo vệ, trồng mới rừng đầu nguồn sông Sài Gòn, góp phần bảo đảm
cho sông có nguồn nước sạch và ổn định;
- Việc quy hoạch xây dựng các công trình dọc theo dòng sông, đặc biệt là việc xây
dựng các cơ sở sản xuất có khả năng gây ô nhiễm;
- Việc sử dụng nguồn nước cho tất cả các mục đích: công nghiệp, nuôi trồng thủy
sản, chăn nuôi trồng trọt, nước cấp sinh hoạt, thủy điện… góp phần duy trì nguồn
nước được dồi dào, ổn định theo mùa;
- Việc sử dụng nguồn nước cấp và quan trọng hơn là nước thải ra trong lĩnh vực nuôi
trồng thủy sản, nông nghiệp (nước chảy tràn do mưa, nước xả ra từ ruộng có thể
chứa một lượng thuốc bảo vệ thực vật đáng kể); nước thải từ hoạt động mang tính
chất dịch vụ như y tế (bệnh viện), du lịch (khách sạn, nhà hàng), chợ… và cả nước
Giáo trình TÀI NGUYÊN NƯỚC LỤC ĐỊA
188
Chương VI: Quản lý tổng hợp nguồn nước

thải sinh hoạt từ các khu dân cư. Dần dần tiến đến xử lý cả nước thải sinh hoạt,
không cho phép thải trực tiếp vào sông. Thực hiện điều này sẽ giúp đảm bảo nước
được sử dụng hợp lý, bền vững, đồng thời hạn chế được nguồn gây ô nhiễm đối với
sông Sài Gòn.
- Và quan trọng nhất là: quản lý nước thải và xử lý nước thải từ các khu công nghiệp.
Cần có biện pháp buộc các khu công nghiệp phải xây dựng hệ thống xử lý nước thải
chung cho toàn khu; các nhà máy phải đấu nối dẫn nước thải về hệ thống xử lý; với
nhà máy có trạm xử lý riêng thì cần tăng cường kiểm tra chất lượng nước thải;
- Quản lý, giải quyết tranh chấp về tài nguyên nước trong lưu vực giữa các nhóm lợi
ích khác nhau (như nuôi trồng thủy sản với hoạt động sản xuất, trường hợp Vedan
và các hộ nuôi tôm, cá là một ví dụ).
Để thực hiện tốt việc quản lý tổng hợp sông Sài Gòn theo lưu vực cần có một bộ máy
hiệu quả. Cụ thể là cần có một Ủy ban Lưu vực sông Sài Gòn đủ mạnh bao gồm đại
diện các tỉnh, các ngành và cả đại diện người dân có lợi ích chung trên lưu vực và được
hoạt động độc lập trên cơ sở Luật Tài nguyên nước và Luật Môi trường. Đứng đầu Ủy
ban sẽ là một Chủ tịch UBND tỉnh, thành và hoạt động theo chế độ luân phiên. Ủy ban
sẽ làm nhiệm vụ xây dựng, quản lý quy hoạch lưu vực sông, điều phối tài nguyên nước,
môi trường trên toàn lưu vực trên cơ sở tối ưu hóa đảm bảo hợp lý lợi ích hợp lý giữa
các lĩnh vực và các vùng dùng nước, bảo vệ và kiểm soát môi trường nước, hệ sinh thái
rừng đầu nguồn, cập nhật bổ sung các phát sinh trong quá trình quản lý, cấp phép theo
phân cấp. Ủy ban sẽ hoạt động bằng nguồn kinh phí đóng góp theo tỷ lệ lợi ích của các
địa phương và các ngành sử dụng nước và chịu sự quản lý Nhà nước của ngành quản lý
nhà nước về tài nguyên nước.
Bên cạnh đó, cần lưu ý một số công cụ hữu ích có thể sử dụng để tăng hiệu quả của
việc quản lý chất lượng nước trong vấn đề quản lý tổng hợp lưu vực sông là:
- Mô hình hóa (modelling): là phương pháp sử dụng các công cụ toán học và tin học
áp dụng vào môi trường để xây dựng phần mềm mô tả diễn biến chất lượng môi
trường dưới tác động của một hay một số tác nhân có khả năng tác động đến môi
trường. Phương pháp này có ý nghĩa quan trọng trong việc mô tả, dự báo, kiểm soát
ô nhiễm mà phương pháp quan trắc hoặc đo đạc thông thường khó thực hiện được.

Phương pháp này cho phép thay thế một phần phương pháp quan trắc hoặc đo đạc
thường đòi hỏi thời gian và kinh phí lớn.
- Chỉ số chất lượng nước (WQI): có rất nhiều thông số về chất lượng nước (gồm các
thông số hóa học như COD, BOD
5
, DO, pH, tổng N, các kim loại nặng…; các
thông số vật lý như độ dẫn điện, chất rắn lơ lửng…; các thông số sinh học như
Colifom, Fecal streptococus, tổng số vi khuẩn hiếu khí…). Việc có quá nhiều thông
số chi phối, quyết định đến chất lượng nước như vậy dẫn đến việc với câu hỏi như
chất lượng nước tuần này (hoặc hôm nay) thế nào thì khó có thể đưa ra được một
câu trả lời ngắn gọn, súc tích (như: khá hay tốt chẳng hạn). Các nhà khoa học trong
mấy thập kỷ gần đây đã đưa ra được một phương pháp cho phép giải quyết vấn đề
đó: xây dựng và sử dụng WQI. Một số thông số đại diện quan trọng (theo đặc điểm
nguồn nước, mục đích sử dụng) được chọn ra để khảo sát và tổng hợp thành một chỉ
Giáo trình TÀI NGUYÊN NƯỚC LỤC ĐỊA
189
Chương VI: Quản lý tổng hợp nguồn nước
số duy nhất: chỉ số chất lượng nước. Phương pháp này cho phép trả lời được câu hỏi
tại một thời điểm nào đó chất lượng nước như thế nào, ví dụ WQI = 90 ÷ 100 điểm:
loại I - rất tốt (không ô nhiễm hoặc ô nhiễm rất nhẹ); WQI = 80 ÷ 90 loại II - tốt (ô
nhiễm nhẹ)…
Hy vọng rằng, nếu được áp dụng thì giải pháp quản lý tổng hợp sông Sài Gòn theo lưu
vực sẽ giúp kiểm soát và khắc phục dần tình trạng nguy kịch vì ô nhiễm của sông Sài
Gòn, và xa hơn nữa sẽ giúp cho toàn lưu vực sông có được một sự phát triển bền vững
trên cơ sở một dòng sông Sài Gòn xanh và sạch.
[Nguồn: Nguyễn Văn Trung (11/2008)]

VI.4. CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Các bài toán cơ bản về quy hoạch và quản lý nguồn nước?
2. Thế nào là công tác quản lý tổng hợp tài nguyên nước IWRM? Các thành phần cần

xem xét khi tiến hành IWRM?
3. Tìm hiểu thêm về công tác quản lý nước theo lưu vực sông.
Giáo trình TÀI NGUYÊN NƯỚC LỤC ĐỊA
190

TÀI LIỆU THAM KHẢO

A. Rechenburg, F. Dangendorf, Ngan N. V. C, et. al. (2005). Microbiological Contami-
nation of Decentralized Water Management Systems and its Impact on Public
Health. Research report for first phase in SANSED project (Vietnam - German).
A. Rieser, C. Eckstaedt, Ngan N. V. C. (2005). Field water balance for test sites in the
Mekong Delta, Vietnam. Research report for first phase in SANSED project
(Vietnam - German).
Bandaragoda D. J. (2005). Stakeholder participation in developing institutions for inte-
grated water resources management: Lessons from Asia. Working Paper 96.
Colombo, Sri Lanka.
Biswas A. K. (1998). Water Resources Environmental Planning, Management, and
Development. Tata McGraw-Hill Publishing Company, New Delhi.
Bộ Tài nguyên và Môi trường (2005). Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020.
Bruns B. (1997). Agricultural Water Control in Vietnam: Challenges and Opportunities.
A paper for the National Seminar on Participatory Irrigation Management.
Burkart M. R. và Kolpin D. W. (1993). Hydrologic and land-use factors associated with
herbicides and nitrate in near-surface aquifers. Journal of Environmental Quality.
Chow V. T., David R. Maidment và Larry W. Mays (1988). Applied Hydrology. McGraw
Hill [Bản dịch tiếng Việt của Đỗ Hữu Thành, Đỗ Văn Toản (1994). Thủy văn ứng
dụng. Nhà xuấ
t bản Giáo dục].
Chương trình Đánh giá Nước Thế giới.

Công ty Long Thịnh (2008). Trang web

Truy cập
ngày 23 tháng 01 năm 2009.
Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ (2008). Vòng tuần hoàn nước là gì?
s.
gov/edu/watercyclevietnamese.html. Truy cập ngày 23 tháng 01 năm 2009.
Đỗ Hồng Quân (2008). Nâng cao hiệu quả sử dụng nước phục vụ sản xuất nông nghiệp.
/>vu-san-xuat-nong-nghiep. Truy cập ngày 23 tháng 01 năm 2009.
FAO (1999). FAO’s Information System on Water and Agriculture - Vietnam.
http://www
.fao.org/nr/water/aquastat/countries/viet_nam/index.stm. Truy cập ngày 23 tháng
01 năm 2009.
Fred Pearce (2006).
When the Rivers Run Dry: Water - The Defining Crisis of the
Twenty-First Century. Beacon Press.
Giáo trình TÀI NGUYÊN NƯỚC LỤC ĐỊA
191

Freshley M. D. và Thorne P. D. (1992). Groundwater Contribution to Dose from Past Hanford
Operations. Report from Hanford Environmental Dose Reconstruction Project.
Gerard Kiely (1997). Environmental Engineering. McGraw-Hill.
Gleick P. H. (1996). Water Resources - In Encyclopedia of Climate and Weather. Oxford
University Press, New York, vol. 2, pp. 817-823.
Gleick P. H. (1997). Water 2050: Moving toward a sustainable vision for the earth's
fresh water. Working Paper Prepared for the Comprehensive Freshwater
Assessment for the United Nations General Assembly and the Stockholm
Environment Institute, Stockholm, Sweden.
Hà Văn Khối (2005). Giáo trình Quy hoạch và Quản lý nguồn nước. Nhà xuất bản Nông
nghiệp Hà Nội.
Herschy R. W. và Fairbridge R. W. (1998). Encyclopedia of Hydrology and Water
Resources. Kluwer Academic Publishers, Dordrecht.

Jain S. K. và Singh V. P. (2003). Water Resources System - Planning and Management.
Elsevier Science. The Netherlands.
John J. Pigram (2006). Australia’s Water Resources - From Use to Management. CSIRO
Publishing.
Jordan, Ryan (2003). Care for Water - The Strategical Natural Resource of the 21st Century.
The United Nations Development Programme in Vietnam.
www.undp.
org.vn/undp/unews/features/03feat/feat05v.htm. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2006.
Lê Anh Tuấn (1996). Thủy văn công trình. Bài giảng Đại Học Cần Thơ.
Lê Anh Tuấn (2002). Cẩm nang cấp nước nông thôn. Đại Học Cần Thơ.
Lê Hoàng Việt (1999). Cơ sở Khoa học Môi trường. Bài giảng Đại Học Cần Thơ.
Lê Hoàng Việt (2006). Nguyên lý các quy trình xử lý nước thải. Giáo trình Đại Học Cần Thơ.
Lê Như Giang (2008). Ô nhiễm trong sản xuất nông nghiệp gia tăng. Báo Lao động số
226 ra ngày 01/10/2008.
Lê Như Lai (23/10/2008). Về tài nguyên nước dưới đất tỉnh Vĩnh Phúc.
http://tnmtvinh
phuc.gov.vn/index.php?nre_vp=News&go=save&sid=829. Truy cập ngày 23
tháng 01 năm 2009.
Lê Quý An và CSV (2004). Việt Nam - Môi trường và cuộc sống. Hội bảo vệ thiên nhiên
và môi trường Việt Nam - Nhà xuất bản Chính trị quốc gia.
Lê Sâm (2003). Xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Nhà xuất bản Nông
nghiệp.
Giáo trình TÀI NGUYÊN NƯỚC LỤC ĐỊA
192

Lê Trình, Phùng Chí Sỹ, Nguyễn Quốc Bình, Phạm Văn Vĩnh (1992). Các phương pháp
giám sát và xử lý ô nhiễm môi trường. Ban Khoa học & Kỹ thuật tỉnh Cần Thơ.
Lê Trình (1997). Quan trắc và kiểm soát ô nhiễm môi trường nước. NXB Khoa học & Kỹ
thuật.
Liên đoàn Địa chất Thủy văn - Địa chất Công trình miền Bắc. Thông báo động thái nước

dưới đất năm 2007.
Madeleen W. S. (1998). Community management models for small scale water supply
systems. IRC International Water and Sanitation Center.
Maidment D. R. (1993). Handbook of Hydrology. McGraw Hill Inc. New York.
Metcalf & Eddy (2003). Wastewater Engineering: Treatment and Reuse. The McGraw-
Hill Companies, Inc.
Minh Sơn (2008). Vi khuẩn làm tăng mức nhiễm asen trong nước ngầm. Trích từ
/>ngam/20171985/188/. Truy cập ngày 23 tháng 01 năm 2009.
MonreNet (2008). Khai thác khoáng sản tại mỏ Trại Cau - Thái Nguyên: Sống chung với
mìn nổ, đất sụt, nước cạn. Trích từ

News&nth_in=viewst&sid=5014. Truy cập ngày 23 tháng 01 năm 2009.
Neil S. Grigg (1996). Water Resources Management. Mc.Graw Hill.
Như Trang (19/4/2003). Hạn hán ở Tây Nguyên ngày càng khốc liệt.

Xa-hoi/Han-han-o-Tay-Nguyen-ngay-cang-khoc-liet/10815237/157/. Truy cập
ngày 23 tháng 01 năm 2009.
Nguyễn Khắc Cường (1992). Thủy văn công trình. Đại học Bách Khoa TP. HCM
Nguyễn Khắc Cường. Môi trường và Bảo vệ Môi trường. Giáo trình trường Đại học Kỹ
Thuật TP. HCM.
Nguyễn Quang Đoàn (2004). Thủy văn công trình. Giáo trình trường Đại học Bách khoa
Đà Nẵng.
Nguyễn Thái Hưng (1993). Bảo vệ môi trường quản lý chất lượng nước. NXB Nông
Nghiệp. Hà Nội.
Nguyễn Thị Phi (2008). Ô nhiễm nguồn nước do nước thải chưa xử lý từ các Khu công
nghiệp và doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đã và đang báo động. Trích từ

099/mlnews.2008-12-13.2692230165. Truy cập ngày 23 tháng 01 năm 2009.
Nguyễn Văn Thắng.
Quản lý nước theo lưu vực sông - một vấn đề cấp thiết hiện nay.

Trích từ

Giáo trình TÀI NGUYÊN NƯỚC LỤC ĐỊA
193

20nguyen%20nuoc%20theo%20luu%20vuc%20song.doc. Truy cập ngày 23 tháng
01 năm 2009.
Nguyễn Việt Dũng, Nguyễn Danh Tĩnh (2006). Quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng
đồng ở Việt Nam. Trung tâm Con người và Thiên nhiên PanNature.
Nguyễn Võ Châu Ngân (2004). Đánh giá thực trạng ô nhiễm nguồn nước khu vực
phường 2 và kênh 8 Thước, thị xã Sóc Trăng - Mô hình thủy lực. Đề tài nghiên cứu
cấp Tỉnh. Sở Khoa học Công nghệ Sóc Trăng. Việt Nam.
Nguyen Vo Chau Ngan (2006). Hydrological Observation at Vo Doi peatsoils. Poster at
RESTOPEAT Worshop at Cantho University, Vietnam.
Nguyễn Võ Châu Ngân (2007). Quản lý tài nguyên nước rừng đặc dụng Vồ Dơi. Báo cáo
giữa kỳ chương trình RESTOPEAT. Cà Mau, Việt Nam.

Online Geography Resources Showcase. Long Profiles and Valley Cross Sections.
Truy cập ngày 23 tháng 01
năm 2009.
Powell J. (1975). Perspectives on water management. Trích từ Ian G. Coghill. Readings
in Geography. Sorrett. Melbourne. Tr. 79÷109.
Seckler D., Amarasinghe U., David M., De Silva R., và Barker R. (1998). World Water
Demand and Supply, 1990 to 2025: Scenarios and Issues. Research Report #19.
International Water Management Institute. Sri Lanka.
Shiklomanov I. A. (1998). Assessment of Water Resources and Water Availability in the
World. Report for the Comprehensive Assessment of the Freshwater Resources of
the World, United Nations.
Showers Victor (1989). World Facts and Figures. John Wiley and Sons. New York.
Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường Cần Thơ (1995). Báo cáo Đánh giá tác động môi

trường Xí nghiệp thuộc da MeKo.
State of the Environment in Vietnam 2001 (2002). Inland Water.
p.
org/pub/soe/vietnam/issues/pressure/inland_water.htm. Truy cập ngày 23 tháng 01
năm 2009.
Thanh Tặng (10/2008). Lũ ở Đồng bằng sông Cửu Long.

tapchi.asp?sotc=10/2008&ID=1040. Truy cập ngày 23 tháng 01 năm 2009.
Thế giới phụ nữ (2008). Ô nhiễm nước sinh hoạt: 20.000 người tử vong mỗi năm. Trích
/>875.html. Truy cập ngày 23 tháng 01 năm 2009.
Giáo trình TÀI NGUYÊN NƯỚC LỤC ĐỊA
194

Thông tấn xã Việt Nam (4/2007). Hà Nội đang sụt lún do khai thác nước ngầm. Trích từ

Truy cập ngày 23 tháng 01 năm 2009.
Thông tấn xã Việt Nam (3/2008). Đồng bằng sông Cửu Long: Nước mặn sẽ tiếp tục xâm
nhập vào đất liền sâu hơn. Trích lại từ

_pageid=35,280791&_dad=portal&_schema=PORTAL&pers_id=280681&item_i
d=924883&p_details=1. Truy cập ngày 23 tháng 01 năm 2009.
Tổng Cục Thống kê (2006). Niên giám thống kê Việt Nam 2006. Nhà xuất bản Thống kê.
Trần Hiếu Nhuệ (1996). Quá trình vi sinh vật trong công trình cấp thoát nước. NXB
Khoa học & Kỹ thuật.
Trung N. H, Ngan N. V. C. (2001). Development of a GIS for water management in the
Mekong Delta. Research report in DORAS project (Vietnam and EU).
Trung tâm Bảo vệ Môi trường - Viện Kỹ thuật nhiệt đới và bảo vệ môi trường. Số liệu
quan trắc môi trường tại các tỉnh phía Nam. 1990 - 1996.
Trường Đại học Thủy lợi (2008). Bài giảng “Thủy văn Công trình”.
Vĩnh Hưng. Sự bí ẩn của hang động.


5091/3/2007/Default.aspx. Truy cập ngày 23 tháng 01 năm 2009.
VOVNews (2008). Quản lý tài nguyên nước và những thách thức.

/Home/Quan-ly-tai-nguyen-nuoc-va-nhung-thach-thuc/200812/100718.vov. Truy
cập ngày 23 tháng 01 năm 2009.
Water Environment Partnership in Asia. State of water environment, water-related issues
and policies. Trích từ

vietnam.htm. Truy cập ngày 23 tháng 01 năm 2009.
Water Vision (2000). Report of the Thematic Panel on Energy Technology and its
Implications for Water Resources.
. Truy cập ngày 23
tháng 01 năm 2009.
WHO (2008). Progress on Drinking-water and Sanitation: special focus on sanitation.
Trích

html. Truy cập ngày 23 tháng 01 năm 2009.
World Resources Instutute (1998). World Resources: A Guide to the Global Environ-
ment. Oxford University Press. New York.
Xuân Nghi (17/9/2008).
Quanh việc Vedan gây ô nhiễm sông Thị Vải. http://vneconomy.
vn/200809170344243P0C5/quanh-viec-vedan-gay-o-nhiem-song-thi-vai.htm.
Truy cập
ngày 23 tháng 01 năm 2009.
Giáo trình TÀI NGUYÊN NƯỚC LỤC ĐỊA
195

×