Tải bản đầy đủ (.pdf) (6 trang)

Luận văn tốt nghiệp: Việt Nam và những biện pháp để đẩy mạnh việc xuất khẩu sang các nước EU phần 5 docx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (105.73 KB, 6 trang )

của Việt Nam sang tất cả các thị trờng trên thế giới vẫn là con tôm. Năm 1998,
xuất khẩu tôm đông lạnh đạt giá trị 450 triệu USD, chiếm 55% tổng giá trị xuất
khẩu thủy sản của Việt Nam. Vì tôm là một mặt hàng có giá trị cao và nhu cầu
tăng trởng mạnh trên thế giới, do đó có rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam tập
trung kinh doanh duy nhất mặt hàng này. Năm 1998, Việt Nam đã xuất sang
Nhật Bản 30.842 tấn tôm, Mỹ: 6.125 tấn, EU đợc 11.849 tấn (nếu khai thông
hoàn toàn thị trờng này hẳn giá trị còn tăng hơn nữa, vì vào thời điểm này vẫn
còn quá nhiều doanh nghiệp Việt Nam cha có CODE xâm nhập vào EU),
Hồng Kông: 7.132 tấn, Trung Quốc: 313 tấn và các thị trờng khác là 8.712 tấn.
Về sản phẩm mực đông, năm 1998 tăng so năm 1997 là 35,64 tấn hay
tăng 2,16%, nhng về giá trị kim ngạch xuất khẩu chỉ bằng 80% so với năm
1997 hay chỉ đạt 4.067.693 USD. Điều này là do công nghệ chế biến mực hiện
nay của ta đã có nhiều cải tiến, song việc tạo ra những sản phẩm có giá trị cao
vẫn còn hạn chế, chủ yếu là xuất nguyên liệu.
Về sản phẩm cá đông lạnh, năm 1998 sản lợng xuất khẩu là 3432,5 tấn,
tăng 724,5 tấn so với năm 1997 trong khi giá trị kim ngạch là 15.176.655 USD,
tăng 81,27% so với năm 1997 và bằng 230% các chỉ tiêu tơng ứng của 5 năm
trớc. Có đợc sự gia tăng này là do mặt hàng cá đông lạnh của Việt Nam ngày
càng đáp ứng đợc nhu cầu cao của thị trờng EU (nhất là cá bơn, cá ba sa Việt
Nam), cho nên đã tác động tốt tới giá cả xuất khẩu, tới tổng giá trị kim ngạch
xuất khẩu. Năm 1998 là năm mà sản phẩm cá đông lạnh Việt Nam có sự tăng
trởng cao ở thị trờng EU và thị trờng Mỹ.
Các sản phẩm thủy sản khác nh: mực khô, bạch tuộc, cá hộp, cá hun
khói năm 1998 giảm 629,64 tấn so với năm 1997 là bởi vì các sản phẩm này có
giá trị không cao, ít doanh nghiệp Việt Nam tham gia kinh doanh. Các doanh
nghiệp chỉ tập vào các sản phẩm có giá trị cao nh tôm đông, cá đông nên đã tác
động rất lớn đến tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản sang EU năm 1998.
Năm 1999, giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản sang EU của Việt Nam
giảm 2,65% hay giảm 2.424.317 USD so với năm 1998. Điều này là do các sản
phẩm thủy sản nớc ta xuất đi EU phần lớn là thông qua các công ty của
ASEAN. Đây là vấn đề bức xúc đối với ngành thủy sản nớc ta trong việc giao


dịch xuất khẩu, phải làm sao hạn chế các trung gian, tăng cờng xuất khẩu trực
tiếp với các nớc EU.
III ảnh hởng của hệ thống chính sách đến hoạt động xuất
khẩu thủy sản sang eu
1. Chính sách thuế, lệ phí
Thuế là công cụ điếu tiết nền kinh tế, đồng thời là nguồn thu ngân sách
cho Nhà nớc. Đối với nghề cá, tính từ khâu đầu là sản xuất tạo ra nguyên liệu
đến sản phẩm cuối cùng phục vụ cho tiêu dùng hoặc xuất khẩu, thông thờng
chịu các loại thuế: môn bài, tài nguyên, thuế sử dụng đất cho nuôi trồng thủy sản
và nhiều loại phí nh: phí trớc bạ, đăng kiểm tàu đánh bắt, giấy di chuyển ng
trờng, bến bãi. Ngoài ra, ng dân còn phải nộp nhiều khoản khác nh tham gia
bảo hiểm thân tàu, bảo hiểm nhân mạng Để phù hợp với thực tiễn và khuyến
khích sản xuất phát triển, thuế và lệ phí đối với nghề cá đã đợc sửa đổi tích cực.
Về Luật thuế tài nguyên, khung thuế suất 2-7%, theo Nghị định của Chính
phủ, Thông t số 30 BTC của Bộ Tài chính hớng dẫn thống nhất thuế suất là
4% với khai thác hải sản và 3% với khai thác cá sông.
Đối với khai thác hải sản xa bờ, năm 1993 tại Quyết định số 400 Ttg của
Chính phủ đã cho miễn thuế tài nguyên, thuế lợi tức 3 năm đầu.Và trong năm
1997, ngày 29/5/1997, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 358/ Ttg cho tàu
thuyền khai thác hải sản xa bờ đợc giảm 50% thuế tài nguyên và thuế doanh
thu phải nộp trong 3 năm đầu, thuế lợi tức cũng đợc giảm trong 3 năm đầu kể từ
khi có lợi tức chịu thuế. Về lệ phí trớc bạ, chỉ phải nộp 1% trên giá trị tài sản.
Ngày 3/9/1998, Chính phủ đã quy định tại Nghị định 68/NĐ-CP về thuế suất
phải nộp và chính sách miễn giảm thuế tài nguyên thủy sản. Nếu khai thác ở
vùng biển xa bờ bằng phơng tiện có công suất lớn đợc miễn thuế tài nguyên 5
năm đầu kể từ khi đợc cấp giấy phép khai thác và giảm 50% trong 5năm tiếp
theo. Đối với sản phẩm qúy khai thác là ngọc trai, bào ng, hải sâm là 10% còn
tôm, cá, mực và các loại thủy sản khác là 2%.
Hiện nay để cạnh tranh với các nhà sản xuất xuất khẩu thủy sản của các
nớc trên thế giới và đặc biệt đối với các nớc khu vực ASEAN, ngày 2/6/1998,

Bộ Tài chính đã ký Quyết định số 103 QĐ/BTC về việc đánh thuế 0% đối với
hàng thủy sản xuất khẩu. Việc đánh thuế 0% này đã làm tăng sức cạnh tranh về
giá cả hàng thủy sản của Việt Nam trên thị trờng thế giới, đồng thời với mức
thuế này là sự phù hợp của nó với công nghệ sản xuất và chất lợng hàng thủy
sản xuất khẩu hiện nay của nớc ta so với các nớc xuất khẩu thủy sản khác.
2. Chính sách đầu t và quản lý vốn
Trong thời gian hơn 10 năm vừa qua, ngành thủy sản có mức tăng trởng
bình quân hàng năm về tổng sản lợng khoảng 4% và giá trị kim ngạch xuất
khẩu tăng từ 10-15%. Nhng, nếu so với tiềm năng lớn của vùng biển đặc quyền
kinh tế rộng trên 1 triệu km
2
thì con số này mới chỉ là biểu hiện bớc đầu, cha
đáng kể. Muốn thủy sản có vị trí xứng đáng trong nền kinh tế đất nớc, cần phải
tăng cờng cơ sở vật chất kỹ thuật trực tiếp phục vụ sản xuất kinh doanh của
ngành, đồng thời Nhà nớc cần ban hành những chính sách mới để khuyến
khích, kêu gọi đầu t vào lĩnh vực thủy sản, nhất là trong khu vực nuôi trồng và
đánh bắt xa bờ.
Bảng 6: Cơ cấu vốn đầu t vào ngành thủy sản giai đoạn
1986-1998(triệu đồng)
Chỉ tiêu
1986-1990

1991-1995 1996-1998 Tổng số
Tỷ
lệ(%)
1.Tổng mức
đầu t
853.200 2.829.340 4.112.700
7.795.200
100

-Trong nớc
614.310 2.352.350 3.546.857 6.513.317
83,6

+Ngân sách
41.420 275.620 656.857 973.897
12,5

+Tín dụng
- 236.730 2.130.000 2.666.730
30,4

+Huy động
572.890 1.840.000 760.000 3.172.890
40,7

-Ngoài nớc
238.890 476.990 560.843 1.281.723
16,4

+ODA
30.650 111.200 183.700 325.550
4,17

+FDI
98.685 320.290 368.765 787.740
10,1

+Doanh nghiệp
tự vay

109.555 45.500 13.387 168.443
2,17

2. Theo lĩnh vực

853.200 2.829.340 4.112.700
7.795.200 100

-Nuôi trồng
226.098 850.490 899.299 1.975.887
25,4

-Khai thác
237.364 891.896 1.327.103 2.456.363
31,5

-Chế biến
255.960 735.350 1.075.382 2.066.692
26,5

-Hạ tầng, hậu cần
dịch vụ
115.320 311.110 785.000 1.211.430
15,5

-Giáo dục, đào
tạo
3.532 5.020 7.760 16.212
0,21


-Nghiên cứu
12.660 32.650 15.080 60.390
0,77

-Lĩnh vực khác
(quy hoạch, điều
tra nguồn lợi và
phúc lợi)
2.266 2.824 3.176 8.266
0,11

Nguồn: Bộ Thủy sản
Theo bảng số liệu trên đây cho thấy, mức đầu t vào ngành thủy sản đã
tăng đáng kể trong 3 giai đoạn từ năm 1986 đến 1998: giai đoạn 1(1986-1990),
mức đầu t bình quân năm là 170.640 triệu đồng, giai đoạn 2 (1991-1995) đạt
565.868 triệu đồng và giai đoạn 3 lên tới 1.370.900 triệu đồng, tăng gấp hơn 8
lần so với giai đoạn đầu.
Xem xét cả giai đoạn 1986-1998, thì vốn trong nớc vẫn giữ vai trò chủ
đạo, chiếm đến 83,56% trong tổng vốn đầu t (tổng vốn đầu t cả 3 giai đoạn là
7.795.200 triệu đồng). Tỷ trọng vốn ngân sách đầu t cho thủy sản cả 3 giai đoạn
chỉ đợc 12,49%, khoảng 974.000 triệu đồng. Vốn tín dụng u đãi cũng chỉ đạt
trên 30%, trong đó vốn trung và dài hạn ít, còn phần lớn là vốn ngắn hạn với lãi
suất cao nên không khuyến khích ngời vay. Rất ít doanh nghiệp vay vốn để đầu
t đổi mới công nghệ; sản phẩm có giá trị gia tăng mới chỉ chiếm 6-7% kim
ngạch xuất khẩu.
Bên cạnh nguồn vốn trong nớc, chúng ta đã khai thác khá mạnh các
nguồn lực bên ngoài. Với những chính sách thích hợp, từ năm 1991 đến nay
nguồn lực bên ngoài đầu t cho ngành tăng nhanh. Thời kỳ 1991-1995, nguồn
vốn này đạt bình quân 95.398 triệu đồng/năm, sang thời kỳ 1996-1998 tăng lên
188.614,3 triệu đồng/năm, tăng 97,7%/năm so với bình quân thời kỳ 1991-1995.

Với nguồn tài trợ và đầu t trên, chủ yếu là nguồn ODA, các nớc và các
tổ chức quốc tế đã tập trung giúp Việt Nam xây dựng quy hoạch phát triển
ngành; nghiên cứu nguồn lợi biển; phát triển cơ sở hạ tầng nghề cá; tăng cờng
năng lực chế biến thủy sản và nâng cao chất lợng sản phẩm; phát triển nguồn
nhân lực và tăng cờng thể chế cho ngành thủy sản. Tuy nhiên, do cha có quy
hoạch phát triển ngành cụ thể, thiếu số liệu điều tra khảo sát và thiếu các dự án
khả thi, nên nguồn vay từ ODA và FDI mới chỉ đạt khoảng 6,2% và 8%, mặc dù
có không ít các nhà đầu t nớc ngoài quan tâm đến tiềm năng thủy sản của Việt
Nam. Cho đến nay, chỉ còn khoảng 42 dự án FDI với số vốn hơn 144 triệu USD
và 10 dự án ODA (150 triệu USD) đã đợc cấp phép còn tiếp tục hoạt động.
Về đầu t lĩnh vực, trong cả 3 thời kỳ đã có sự đầu t đáng kể vào lĩnh vực
nuôi trồng, chế biến và khai thác thủy sản. Tuy nhiên, sự đầu t này còn rất nhỏ
bởi nguồn vốn đầu t còn hạn hẹp, phải có sự huy động vốn nhiều hơn nữa thì sự
đầu t này mới có hiệu quả cao.
Dự kiến trong thời kỳ 1999-2010, tổng mức đầu t cho phép phát triển
ngành thủy sản sẽ là 35.590.000 triệu đồng:
-Trong đó:
+ Vốn huy động: 15.610.000 triệu đồng (chiếm 44%).
+ Vốn tín dụng: 11.710.000 triệu đồng (chiếm 33%).
+ Vốn ngân sách: 4.610.000 triệu đồng (chiếm 13%).
+ Vốn liên doanh với nớc ngoài: 3.660.000 triệu đồng (chiếm 10%).
Cơ cấu đầu t giai đoạn 1999-2010 đợc chia theo lĩnh vực nh sau:
- Nuôi trồng thủy sản: 9.580 tỷ đồng, chiếm 27%.
-Khai thác hải sản: 10.200 tỷ đồng, chiếm 28,75%.
-Chế biến thủy sản: 9.580 tỷ đồng, chiếm 27%.
-Hạ tầng dịch vụ: 5680 tỷ đồng, chiếm 16%.
-Nghiên cứu khoa học: 300 tỷ đồng, chiếm 0,85%.
-Đào tạo, giáo dục: 88 tỷ đồng, chiếm 0,25%.
-Các lĩnh vực khác: 62 tỷ đồng, chiếm 0,15%.
Qua xem xét, phân tích nguồn vốn đầu t của ngành thủy sản của các giai

đoạn, ta nhận thấy rằng: muốn đạt đợc các mục tiêu đặt ra và hội nhập với nghề
cá thế giới, sự huy động nguồn lực trong nớc là cơ bản, nhng sự giúp đỡ của
quốc tế là không thể thiếu và rất quan trọng. Trong nguồn lực quốc tế, về chỉ đạo
chúng ta cần khơi thông nguồn FDI, sao cho tỷ trọng này ngày càng cao, giá trị
ngày càng lớn và tạo sự phối hợp chặt chẽ giữa 2 nguồn FDI và ODA để bổ sung,
hỗ trợ lẫn nhau.
3. Chính sách về khai thác thủy sản
Tới nay, tổng sản lợng thủy sản của cả nớc đã vợt qua mức 1 triệu tấn/
năm, song cũng để lại một vùng biển cạn kiệt nguồn lợi, năng suất đánh bắt
giảm 1/2, giá thàng sản phẩm tăng gấp đôi. Tuy phát triển nghề cá xa bờ để bảo
vệ nguồn lợi ven biển và tăng chất lợng sản phẩm nhng lại cha triển khai
đồng bộ, hiệu quả còn thấp.
Hơn 10 năm qua, ngành khai thác hải sản Việt Nam đã tăng trởng với
nhịp độ khá cao về tổng sản lợng, đạt hơn 1 triệu tấn/ năm (riêng năm 1998, sản
lợng khai thác hải sản đạt 1,13 triệu tấn , bằng 170% năm 1988).
Từ khi có Nghị định số 13/CP của Chính phủ (ký ngày 02/3/1993), tiếp
đến là Thông t liên bộ số 02 LB/TT hớng dẫn thi hành Nghị định số 13/CP cho
thấy công tác khuyến ng đã tác động rất hiệu quả đến phong trào nuôi trồng,
khai thác và sơ chế bảo quản thủy sản. Vì trớc hết, khuyến ng là chủ trơng
đúng đắn, hợp với điều kiện hiện nay của các ng dân và rất đợc đông đảo ng
dân ủng hộ, hởng ứng. So với lĩnh vực khai thác và sơ chế bảo quản thủy sản thì
hiệu quả của khuyến ng trong nuôi trồng đa dạng và phong phú hơn, nhờ có
hoạt động khuyến ng mà diện tích và năng suất tăng lên đáng kể. Từ các loại cá
thông thờng đến các loại đặc sản có giá trị kinh tế cao ngày càng đợc phát
triển mạnh. Có thể nói Nghị định 13/CP của Chính phủ đã khơi dậy tiềm năng
của cả miền biển, đồng bằng và miền núi. Trong những năm qua, Nghị định
13/CP đã đi sâu vào thực tiễn và có tác dụng đối với việc phát triển sản xuất thủy
sản của đất nớc. Tuy nhiên, qua thực hiện Nghị định này còn bộc lộ những hạn
chế cả về lý luận lẫn thực tiễn. Chính vì vậy mà cần có sự hoàn thiện và điều
chỉnh Nghị định này theo tinh thần tập trung kinh phí cho những vùng khai thác,

sản xuất thủy sản có giá trị kinh tế cao.
Đối với việc đánh bắt xa bờ, Thủ tớng Chính phủ đã ban hành Quyết
định số 400/ Ttg ngày 7/8/1993 cho miến thuế tài nguyên, thuế doanh thu, thuế
lợi tức và hoàn thuế xuất khẩu trong 3 năm đầu đối với tàu thuyền đánh bắt hải
sản xuất khẩu ở Biển Đông Trờng Sa.
Chính sách u đãi trên đã có tác dụng tích cực thúc đẩy sự phát triển nghề
cá khai thác xa bờ, góp phần bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc. Đồng thời,
cũng hạn chế việc đánh bắt hải sản gần bờ khi mà nguồn hải sản gần bờ đang bị
cạn kiệt.
Đầu năm 1997, Chính phủ đã chỉ đạo ngành thủy sản thực hiện chơng
trình đánh cá xa bờ. Đến hết năm 1998, cả nớc đã có trên 300 tàu công suất lớn
(90-350 CV) đa vào sử dụng, năng lực khai thác xa bờ đã có bớc chuyển biến
đáng kể. Nhng theo đó lại nổi lên nhiều vấn đề về ng trờng và dự báo khai
thác vùng khơi, trình độ sử dụng tàu lớn của thuyền trởng, chế biến và tiêu thụ
sản phẩm khai thác đợc, nhất là khâu tiêu thụ sản phẩm. Điều đáng lo ngại là
chỉ có khoảng 20% sản lợng khai thác xa bờ có thể dùng để xuất khẩu. Còn lại
80% dùng tiêu thụ nội địa hay làm bột cá, phơi khô và làm nớc mắm. Cá đánh
đợc nhiều mà bán giá lại rẻ và khó bán thì hiệu quả thấp. Lại cha có cơ quan
dự báo ng trờng và khai thác ngắn hạn để hớng dẫn các tàu đi đánh bắt cá xa
bờ đi đến đúng nơi có cá mà đánh. Trình độ các thuyền trởng non yếu, sử dụng
tàu lớn và máy móc khá hiện đại sẽ gây ra những sự cố hỏng hóc. Nhất là vào
thời vụ chính, cá về nhiều lại không có kho lạnh dự trữ hải sản, điều kiện trên tàu
bảo quản kém, bến bãi thiếu càng làm cho sản lợng bị thất thoát nhiều và giá
hạ hơn.
Rõ ràng là có nhiều vấn đề đang đặt ra để bảo đảm cho việc đầu t đóng
tàu khai thác hải sản xa bờ có hiệu quả. Đó không phải là việc một sớm, một
chiều có thể giải quyết đợc .

×