Tải bản đầy đủ (.pdf) (42 trang)

Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx - Phần Chín: Thế kỷ XVII & XVIII potx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (283.03 KB, 42 trang )

Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx

Phần Chín: Thế kỷ XVII & XVIII

Thế kỷ thứ XVII và XVIII, đặc biệt là thế kỷ thứ XVII, là thời gian hình thành
của giai cấp tư sản Âu Tây - xuất hiện từ thế kỷ XVI nhưng chưa thành hình hẳn
hoi, mới mạnh ở bên Ý còn đại bộ phận Âu Tây thì còn phôi thai. Sau khi những
bọn con buôn, cướp biển, tìm ra những đất mới ở Mỹ, Á, Phi, cướp được nhiều
của cải của các dân tộc ít phát triển hơn mang về, thì tư sản Âu Tây phát triển
mạnh mẽ. Đó là yếu tố quyết định sự tăng cường bóc lột nhân dân Âu Tây. Do
đó, cuối thế kỷ thứ XVI, chế độ tư sản phát triển ở toàn bộ phương Tây (Pháp, Hà
Lan, Anh). Nước Đức bấy giờ đứng ngoài hệ thống buôn bán, Ý cũng thế, vì
đường buôn bán không theo đường cũ Cận Đông - Bắc Ý - Nam Đức - Bắc Đức
mà vòng qua Đại Tây Dương, và làm giàu những nước có cửa biển ở Đại Tây
Dương: Pháp, Anh, Ý, Hà Lan, Thụy Điển. Y-pha-nho bấy giờ cướp được nhiều
của nhất, nhưng không xây dựng tư bản được vì vào thẳng nhà Vua - phân phát
cho quý tộc, mua hàng của tư sản láng giềng chứ không phát triển công nghiệp
trong nước, nên tư bản phát triển chủ yếu ở Pháp, Hà Lan, Anh. Trong thời gian
ấy, giai cấp tư sản thành hình, lấn vào chính quyền, xây dựng chế độ quân chủ
độc đoán và chuẩn bị cho cuộc cách mạng tư sản. Tùy tương quan lực lượng giữa
tư sản và quý tộc bấy giờ trong mỗi nước mà phong trào tư tưởng chống Giáo
hội, xây dựng một hệ thống lý tính khoa học có tính chất quyết liệt hoặc dung hòa
với tư tưởng tôn giáo. Ở Anh: quyết liệt, ở Pháp: dung hòa.
I - TƯ TƯỞNG TƯ SẢN Ở ANH
Ở Anh, giai cấp tư sản phát triển rất mạnh nhờ nghề cướp biển, buôn bán với lục
địa Âu Tây, và xây dựng một nền công nghiệp mới trong nước, đặc biệt là công
Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx

nghệ dệt và than mỏ. Ở đây phong trào chống truyền thống kinh viện chủ nghĩa
có tính chất quyết liệt. Phủ định cả tư tưởng Cổ đại (Platon, Aristote) và theo
truyền thống duy danh ở Anh đời Trung Cổ (William Occam [01], Roger Bacon


[02]). Triết học Anh phát triển theo duy vật kinh nghiệm chủ nghĩa. Đặc biệt là
Francis Bacon [03] viết Novum organum (Công cụ mới) để đặt một phong trào
khoa học mới, tên này xuất phát từ tên một bộ sách cũ của Aristote là Organon.
Nhưng về nội dung và hình thức đều chống lại Aristote, đề cao kinh nghiệm chủ
nghĩa, nói rằng lý tính hình thức là cái biến hình và xuyên tạc sự thật, chỉ có kinh
nghiệm cho ta biết đúng. Nhưng kinh nghiệm thì linh tinh, làm thế nào để hệ
thống hóa thành khoa học? Theo Aristote, dùng phương pháp quy nạp. Đối lập
với phương pháp suy luận hình thức của Aristote đi từ những mệnh đề (đại thể
xuống mệnh đề biệt thể - xuống mệnh đề cá thể: từ lý tính đến thực tế), quy nạp
của F. Bacon đi từ cá thể lên đại thể bằng phương pháp làm những bảng ghi kinh
nghiệm (có 3 bảng: bảng có, bảng không có, và bảng biến chuyển: bảng có ghi
trường hợp có một hiện tượng; bảng không có ghi những trường hợp không có
mặt một hiện tượng nào; bảng biến chuyển ghi trường hợp hiện tượng biến
chuyển). So sánh những bảng này, ta quy nạp lên quy luật phổ cập, liên hệ với
hiện tượng. Chúng ta thấy hiện tượng luôn luôn đi với nó. Do đó chỉ ghi chép
kinh nghiệm thôi, nhưng nếu có phương pháp ta sẽ quy nạp được quy luật. Đây là
tư tưởng duy vật dựa vào thực tế khách quan mà xây dựng khoa học, nhưng nó
máy móc thô sơ, không đề cao được vai trò cần thiết của lý luận, đặc biệt là
Bacon không chú ý đúng mức đến vai trò của toán pháp trong khoa học tự nhiên.

Vai trò này có được đề cao với Thomas Hobbes [04]. Ông này đứng hẳn trên lập
trường duy vật mà đồng thời nhìn thấy sự cần dùng toán pháp trong khoa học và
cả trong triết học nữa. Về phần chính trị học thì đặt một lý thuyết mới biện chính
quyền tuyệt đối của nhà Vua, nhưng không dựa vào quyền Thượng đế, phá bỏ lý
Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx

luận thần bí trước mà chỉ dựa vào lợi ích xã hội - là một biến chuyển lớn (người
là một con sói đối với người, sẵn sàng ăn thịt nhau - cần một quyền tuyệt đối để
bảo vệ trật tự trong xã hội). Hobbes đại biểu cho nhân sinh quan tư sản thành
hình, mới bắt đầu nắm xã hội, chưa đủ sức xây dựng một chế độ cộng hòa mà chỉ

xây dựng trên một cơ sở độc tài.

Bacon và Hobbes là nguồn gốc của tư tưởng duy vật máy móc cận đại nhưng có
tính chất khoa học; trái với Bruno [05] hoặc tư tưởng duy vật Trung Cổ nhiều
biện chứng pháp hơn nhưng thiếu khoa học.
II - TƯ TƯỞNG TƯ SẢN PHÁP: DESCARTES [06]
Là một trong những người quan trọng nhất của tư tưởng tiến bộ Âu Tây, René
Descartes làm nguồn cho 2 truyền thống đối lập:
- Khoa học toán lý duy vật máy móc, phát triển nhiều vào thế kỷ thứ XVII,
XVIII. Đó là một đặc tính của tư tưởng tư sản.
- Tư tưởng phân tích tâm lý và duy tâm chủ quan (lấy ý thức cá nhân làm thực thể
tuyệt đối, khác duy tâm khách quan lấy ý chí siêu nhiên hay Thượng đế làm tuyệt
đối).

Hai hướng này phát triển song song trong thế kỷ XVII, XVIII và sau này nữa,
bây giờ vẫn còn duy trì - có thể nói Descartes một phần nào đấy làm nguồn gốc
cho cả hệ thống tư tưởng tư sản với 2 hướng trên. Ông tiêu biểu cho những ưu và
khuyết điểm của tư tưởng tư sản.

Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx

Ưu điểm: đòi hỏi một khoa học toàn bộ, triệt để lý tính, tuyệt đối chắc chắn, tin
tưởng tuyệt đối ở loài người và ở từng cá nhân con người đủ lý trí để xây dựng
khoa học, tiêu biểu cho tinh thần khoa học. Nó còn có tác dụng tinh thần nữa là
làm cho con người phấn khởi.

Khuyết điểm: Lý tính ấy ghi một cách trừu tượng, thực tế thì không hoàn toàn
tách rời kinh nghiệm, nhưng đứng về nguyên tắc nó không cần kinh nghiệm.
Đứng về chân lý, nó không phụ thuộc kinh nghiệm. Hệ thống khoa học tồn tại
trên cơ sở lý tính của nó (về nguyên tắc là tách rời kinh nghiệm); về chủ quan chỉ

nhằm lý tính cá nhân của mỗi người, không trông thấy cơ sở lịch sử xã hội của tư
tưởng cá nhân. Do 2 khuyết điểm này, nó thành máy móc - không nắm được quy
luật biến chuyển mà chỉ nắm được quy luật máy móc (vì nắm được biến chuyển
thì về khách quan phải gắn vào kinh nghiệm, và về chủ quan phải đứng trong
biến chuyển đó).

Mấy ưu và khuyết này (đặc tính của tư tưởng tư sản) đạt một mức rất cao trong tư
tưởng Descartes - Descartes là một nguồn của tư tưởng tư sản.

Sở dĩ như thế vì Descartes lại là đại biểu tư tưởng của giai cấp tư sản Pháp trong
thế kỷ thứ XVII, đấu tranh không phải để nắm chính quyền thực tế, mà để tham
gia chính quyền với sự câu kết với phong kiến, hình thức quân chủ tuyệt đối,
quân chủ độc đoán, để bảo đảm quyền lợi kinh tế và pháp lý, nhưng chưa nhằm
quyền lợi chính trị tuyệt đối. (Đầu thế kỷ thứ XVII, Marie de Médicis [07] nhiếp
chính thay Louis XIII [08] đã triệu tập États généraux [09], đặt thuế mới, bọn kia
kêu nài, đưa những đề nghị lung tung, đòi giải tán một hội nghị toàn quốc có đại
Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx

biểu tư sản mà không ai nói gì, vì đòi hỏi chính trị của tư sản hữu hạn). Chế độ
quân chủ bấy giờ xây dựng trên sự thăng bằng quyền lợi đôi bên (tư sản và quý
tộc), bảo đảm quyền áp bức bóc lột phong kiến (đối với nông nô) và tư sản (đối
với công nhân), nhưng không được quyền chính trị, cả hai bên chỉ có quyền tham
gia chính quyền dưới hình thức bộ máy quan liêu của nhà Vua (trạng thái thăng
bằng này Marx gọi là Bonapartisme). Descartes là đại biểu cho tình trạng thăng
bằng này:

Bảo đảm quyền làm ăn, thể hiện về tư tưởng là bảo đảm phát triển khoa học (vì
khoa học đối với họ là phát triển sản xuất), và trong phạm vi này nó phải đánh đổ
tư tưởng Trung Cổ, và trong mức độ này nó đề cao lý tính, nhưng nó lại không
tin tưởng nó, nó không quan niệm rằng khoa học đó chỉ dựa trên cơ sở của người

ta (quy nạp trên kinh nghiệm) mà còn của một cái gì bảo đảm cao hơn là Thượng
đế (phản ánh của Vua trong xã hội).

Trong tác phẩm Descartes có 2 phần:
+ Xây dựng khoa học mới - sau này nhiều kết quả.
+ Biện chính khoa học mới ấy trên cơ sở siêu hình: sự tồn tại của Thượng đế và
sự bất diệt của linh hồn.

Hệ thống của Descartes có 5 điểm chính:
1) Hoài nghi theo phương pháp (doute méthodique);
Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx

2) Sự tồn tại tuyệt đối của tinh thần, linh hồn, bản ngã;
3) Do sự tồn tại tuyệt đối của linh hồn thì phải có Thượng đế;
4) Vì có Thượng đế nên chúng ta mới tin tưởng được ở lý tính và ở khoa học;
5) Do có Thượng đế ta có thể tin tưởng vào sự tồn tại của vật thể.

*

1 - Hoài nghi theo phương pháp (doute méthodique)

Muốn đạt một chân lý tuyệt đối, chúng ta phải hoài nghi, thậm chí phủ định tất cả
cái gì có thể hoài nghi được mới nắm chắc chắn:

+ Tất cả nhận thức thuộc cảm tính (thậm chí có thể so sánh với giấc mơ, kinh
nghiệm cho biết nhận thức cảm tính nhiều khi sai);

+ Cái gì thuộc lý tính thậm chí toán pháp mà ta nắm vững nhưng vẫn có thể hoài
nghi được, vì ta có thể giả sử có một ông Thần Ác làm ta mỗi lần tính đều sai
lầm.


Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx

2 - Sự tồn tại tuyệt đối của tinh thần, linh hồn, bản ngã

Đến mức ấy thì chỉ có bản ngã là có thực dù có ông Thần Ác «Tôi tư tưởng vậy
tôi có». Ta đạt được một chân lý tuyệt đối: tồn tại của tinh thần trong phạm vi
tinh thần (không có gì chứng tỏ có vật thể). Tôi tư tưởng trong hiện tại thì hiện tại
của tôi không thể phủ định được. Do đó, cái tồn tại chủ quan hiện sống và chỉ
trong phạm vi tư tưởng thôi.

3 - Sự tồn tại tuyệt đối của linh hồn thì phải có Thượng đế

Từ ý thức chủ quan hiện tại này mà đi tới được hệ thống khoa học. Phân tích nội
dung ý thức thì trong ý thức ấy có một ý niệm đặc biệt, ý niệm một thực thể vô
hạn: Thượng đế. «Tôi» là một chủ thể hữu hạn lại có thể có ý niệm về một cái vô
hạn. Cái đó chứng tỏ có thực thể vô hạn. Thượng đế có thực in trong chúng ta
một cái dấu, đó là ý niệm một thực thể vô hạn.

4) Vì có Thượng dế nên chúng ta mới tin tướng được ở lý tính và ở khoa học

Do đó, ta có thể tin tưởng ở lý tính được. Thượng đế là thực thể tốt tuyệt đối, vậy
không phải ông Thần Ác, do đó, tôi có thể tin tưởng được toán pháp, được hệ
thống công thức toán lý.
Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx


5) Do có Thượng đế ta có thể tin tưởng vào sự tồn tại của vật thể

Thượng đế là tuyệt đối tốt thì chẳng những những cái tôi nắm được trong lý tính

là có thật, mà những cái ta nắm được trong bản tính thì từng điểm nhỏ có thể sai
nhưng nói chung là có được, nếu nó không có thì Thượng đế hóa ác quá.

Tóm lại, phải dựa vào Thượng đế ta mới tin được những chân lý tuyệt đối của lý
tính và chân lý tương đối của cảm tính.

Hệ thống này đã làm cho tất cả thời đại bấy giờ, làm cho mọi tầng lớp đều say mê
(bác học, nghệ sĩ, phòng trà, v. v giáo, lương, ở Pháp, Anh, Hà Lan, v.v ) và
không phải nhất thời mà ngày nay Descartes vẫn được nhiều nước xem là một
bậc tiên sư cao nhất.

Engels nói rằng ngày nay vẫn nhiều nhà bác học tên tuổi trong công việc thực
nghiệm thì duy vật, nhưng trong tư tưởng thì duy tâm tuy không hệ thống như
Descartes (Pasteur [10], Eddington [11], v. v ). Đó là tình trạng khá phổ biến
của những bác học tư sản hiện tại, đặc biệt ở Anh Mỹ.

Ý nghĩa hệ thống
Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx


1 - Hoài nghi kiến thức kinh nghiệm và kiến thức lý luận (hoài nghi 2 bước)

Trong kinh nghiệm chúng ta có sai lầm, nhưng chỉ sai lầm chi tiết thôi; nhưng
trên lập trường tư tưởng, tư sản nắm máy móc và lấy máy móc làm tuyệt đối thì
kinh nghiệm không vững nữa, chỉ có sự suy luận máy móc là tuyệt đối, chỉ có sự
biến chuyển của tiền vốn theo một quy luật máy móc là tuyệt đối. Tư sản nắm
được điểm ấy mà phải phủ định điểm kia: vật chất. Vì vật chất là do người lao
động và họ nắm vững. Cái có đối với tư bản là sự tính toán lời lãi của hắn chứ
không phải sức sáng tạo của công nhân, và sự tính toán ấy là hợp lý và công lý
nữa.


Nhưng tại sao lại còn giả sử có ông Thần Ác, hoài nghi cả lý tính? Do vị trí đấu
tranh của tư sản Pháp không đòi nắm giữ chính trị mà chỉ nhằm đối tượng tương
đối: bảo đảm quyền làm ăn, duy trì nhà Vua và sức lực của nó, bấy giờ tư sản
cũng đòi hỏi phải có ông Vua và còn có quyền Vua là còn có Thần Ác (không
chắc bảo đảm làm ăn). Giai cấp tư sản Pháp bấy giờ chưa có sức bảo đảm quyền
lợi của nó và tự nhận thấy chưa có sức, lại còn muốn phong kiến hóa (quân chủ
tuyệt dối).

2) Nhưng đứng về cá nhân thì mỗi người tư bản bảo vệ quyền lợi mình đến cùng
- quí tộc nhượng bộ để xây dựng một chế độ quan liêu. Đấu tranh kinh tế là đấu
tranh giai cấp nhưng trong phạm vi nhằm quyền lợi cá nhân, nó nắm vững sự tồn
tại của cá nhân. Nhưng với tồn tại cá nhân nó vẫn chưa bảo đảm được gì. Muốn
Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx

bảo đảm được quyền lợi chung, trong đó có quyền lợi cá nhân, phải có một quyền
tuyệt đối - trong xã hội là nhà Vua và trong tư tưởng là Thượng đế. Mà lý luận
Descarts phản ánh rõ rệt và trung thành: «Không thể tôi là một thực thể hữu hạn
tại sao có thể có một ý niệm vô hạn». Rõ ràng là giai cấp tư sản tự nhận chưa đủ
sức. Nhưng một khi công nhận quyền tuyệt đối này thì hoạt động của tư bản là sự
tính toán lời lãi, sắp xếp một cách máy móc trong công trường. Quyền Vua bảo
đảm hoạt động kinh tế này và đồng thời nó cũng bảo đảm có một kết quả thực
trong thế giới vật chất - vật chất là có thực và có thể lý luận được. Có quyền hoạt
động và lao động thực tế cũng có lãi (trước không biết dựa vào đâu, nhưng khi có
quyền nhà Vua thì tư bản được bảo đảm) (Trong tác phẩm Descartes thì những tư
tưởng này có hệ thống vững chắc, nhưng trong các nhà bác học tư sản bấy giờ thì
hướng này có tính chất tự phát). Đó là:

- Phần tích cực trong tư tưởng Descartes là với cả một hệ thống huyền học bao
gồm khoa học mới, Descartes đã đề cao khoa học toán lý và định nghĩa rõ ràng

đối tượng cụ thể của toán lý. Ông đại biểu cho nhược điểm giai cấp tư sản Pháp
với phương thức đấu tranh không triệt để của nó trong thế kỷ XVII - liên kết chặt
duy tâm - duy vật (lập trường), nhưng về phần nội dung tư tưởng cũng đại biểu
cho công trình xây dựng của tư sản Pháp và Âu Tây nói chung trong thời tiến bộ
của nó (nội dung đấu tranh triệt để chống giáo hội, phong kiến; đối tượng của
toán lý là vật chất có thể tính toán được chứ không phải cái ta nhằm trong cảm
tính với cái tính chung chung, triệt để gạt bỏ những tính chung chung liên quan
cảm giác và đặt rõ ràng sự tồn tại của vật chất với một nội dung hoàn toàn khoa
học).

Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx

Phần tiến bộ của Descartes là ở phần nội dung tuy hữu hạn (chưa quan niệm vật
chất trong biến chuyển) nhưng rất chính xác.

Bắt đầu từ Descartes, xuất hiện phát triển tư tưởng tiêu biểu cho tư tưởng tư sản
trong lúc đang lên. Trong Descartes, ta thấy những mặt của tư tưởng tư sản -
chống phong kiến, dựa vào nhân dân (kinh nghiệm và khoa học, duy vật) - có
phần cấu kết phong kiến - yêu cầu xây dựng quân chủ độc đoán bảo đảm quyền
kinh tế (chưa chính trị) - phát triển rõ trong Descartes.

- Khẳng định giá trị khoa học hiện tại (cơ lý máy móc xây dựng một khái niệm
lý tính mới (toán pháp) chống lại khoa học lý tính cũ xây dựng theo tính chất trừu
tượng, sắp xếp theo giống loài) mà nó xây dựng theo đặc tính và quy luật một
cách máy móc của sự vật. Nó giúp hiểu biết một cách chi tiết hơn sự sắp xếp cũ.
Ta thấy trong Descartes quan niệm thế giới có tính chất lý tính đó (cơ học),
nhưng mặt khác ta thấy yếu tố tiêu cực: con người - lý trí xây dựng, khoa học -
tách rời hoàn toàn thế giới vật chất (là linh hồn bất diệt). Yếu tố đó phản ảnh sự
yếu ớt của giai cấp tư sản (mới khẳng định được về phương diện tinh thần) - trở
lại những quan niệm huyền học, tồn tại của Thượng đế và bất diệt của linh hồn.

Sự tồn tại ấy là đặc tính của tư tưởng tư sản đang lên trong thế kỷ XVII, XVIII.
Nhưng tùy hoàn cảnh mỗi nước, nó có những đặc sắc riêng phản ánh trong những
hệ thống tư tưởng khác nhau nhưng thống nhất ở chỗ đều xuất phát từ khởi điểm
là sự phân biệt hai yếu tố đó. Descartes khẳng định sự thống nhất như một sự
hiển nhiên, không cần biện chính do kinh nghiệm thực tế.


Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx

III - NHỮNG HƯỚNG CHÍNH CỦA PHONG TRÀO SAU DESCARTES

Huyền học và tâm lý học

Huyền học phát triển ở lục địa Âu Tây với Spinoza [12] (Hà Lan: duy vật),
Malebranche [13] (Pháp: duy tâm), Leibnitz [14] (Đức: duy tâm).

Ở Anh, phát triển hướng tâm lý có: Locke [15] (duy vật), sống với cách mạng
Anh, nhưng sau tư sản Anh hoàn toàn cấu kết với phong kiến; Berkeley [16]; và
Hume [17] (duy tâm).

Huyền học
Là hướng đặt vấn đề thống nhất giữa linh hồn và cơ thể, liên quan với nó là vấn
đề thống nhất tư tưởng và thực tại.

Tâm lý học
Đặt vấn đề: Từ đâu xuất phát sự hiểu biết (cũng là vấn đề quan hệ tư tưởng và
thực tại nhưng đặt một cách gián tiếp, và đặt vấn đề trong tư tưởng đã do quá
trình xây dựng sự hiểu biết, trong ý thức chủ quan thôi - ta sẽ biết cái đúng và cái
sai, do đó giải quyết được vấn đề). Đây ta cũng thấy đặc điểm của lịch sử Anh so
với Âu châu.

Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx


Giai cấp tư sản Anh từ Phục hưng đã có một cơ sở vững chắc để cấu kết với
phong kiến - quá trình tư sản hóa của nông nghiệp Anh (cấu kết trong sự sản xuất
len) - phong kiến tư sản hóa trong sản xuất mục súc, cung cấp lông cừu - và nói
chung phong kiến Anh tư sản hóa trong phương thức nông nghiệp của nó: địa chủ
chia ruộng thành từng khối, tạo cho phú nông, bọn này khai thác theo lối tư sản.
Nó có một sự cấu kết căn bản - vấn đề chính của giai cấp tư sản Anh là dàn xếp
nội bộ, dàn xếp với phong kiến, căn bản là vấn đề chủ quan.

Trái lại, ở lục địa ít có phong trào tư sản hóa nông nghiệp nên phong kiến và tư
sản căn bản đối lập cho tới cách mạng tư sản - tư tưởng tư sản vẫn khẳng định sự
tồn tại của ngoại giới.

Trong những nước tư sản phát triển nhiều, các tư sản từ thế kỷ XVI đã thành
công (Hà Lan) tư tưởng do chuyển lên mạnh - Spinoza là đại biểu. Trái lại. những
nước phong kiến còn mạnh (Pháp và đặc biệt là Đức) phong trào tư tưởng lại
hướng về duy tâm: tìm trong tinh thần một cách biện chính khoa học mới, lý tính
mới xuất phát từ sự phát triển của sức sản xuất tư sản.

A - Hướng huyền học

1 - SPINOZA: Trong lịch sử tư tưởng và lịch sử nói chung, tên của Spinoza tiêu
biểu cho đấu tranh tư tưởng trong triết học cũ. Spinoza là một người rất yếu, sống
Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx

bao giờ cũng cô độc, ăn uống rất ít để làm ít, thừa thời giờ thỉ xây dựng triết học.
Sống nghề mài kính. Tên ông tiêu biểu cho một đạo đức trí thức đã tìm được
trong đời sống tư tưởng và hoàn toàn tư tưởng, sống hoàn toàn vì lý tính, xây

dựng được một hệ thống tư tưởng toàn bộ. Sử cũ nêu Spinoza như một trí thức
anh hùng tìm được một hệ thống đã giải quyết được toàn bộ mọi vấn đề bằng lý
tính.

Tác phẩm của ông đặc biệt là trình bày theo kiểu toán pháp tất cả mọi vấn đề (thứ
tự: định nghĩa - nguyên lý - suy luận ra những định lý theo kiểu kỷ hà, nội dung
bao gồm toàn bộ các vấn đề: từ Thượng đế, đến nhân tâm, đến đời sống người
thường, và đời sống hiền nhân. Vì tham vọng to tát và được thực hiện một cách
chính xác như thế - trong lý luận theo kiểu kỷ hà - nên tên tuổi Spinoza được xem
như một anh hùng, giải quyết toàn bộ mọi vấn đề bằng lý tính một người.

Vấn đề chính mà Descartes để lại là quan hệ giữa linh hồn và cơ thể, liên quan
vào đấy là quan hệ tư tưởng và thực tại.

Vấn đề này theo hướng duy tâm (Malebranche - Leibnitz) chỉ giải quyết bằng
Thượng đế. Theo Malebranche – Leibnitz, cứ mỗi chốc linh hồn và vật chất chia
làm 2 nhưng vẫn đi đôi với nhau; cứ giây giây lại tạo lại linh hồn và vật chất một
cách tương đương với nhau. Theo Leibnitz, không phải từng phút tạo lại, nhưng
tạo một lần thôi nhưng rất khéo, khiến luôn đi đôi với nhau như 2 cái đồng hồ, 2
cái phát triển theo quy luật riêng và độc lập nhưng vẫn hòa nhịp. Đặc điểm của tư
tưởng Spinoza là triệt để chống hướng ấy, và khẳng định sở dĩ có liên quan vì nó
cùng một chất mà thể chất ấy xét về thực tính của nó có thể quan niệm hoặc là
Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx

tinh thần hoặc là vật chất, chỉ là hai cách tồn tại của cùng một thể chất, thể chất
ấy chính là Thượng đế, và chính Thượng đế là tự nhiên - tự nhiên hóa Thượng
Đế: thực thể tuyệt đối, trước kia người ta quan niệm là Thượng đế chính là tự
nhiên; thực thể ấy xuất hiện dưới vô số hình thức mà hai trong đó là vật chất và
tinh thần. Ở đây, chúng ta thấy yếu tố tiến bộ trong tư tưởng Spinoza và đồng
thời thiếu sót của nó: nó đi đến một lập trường gần hoàn toàn duy vật, chấm dứt

những tư tưởng cũ: đối lập tinh thần, vật chất. Thượng đế tự nhiên gạt bỏ những
vấn đề của tư tưởng duy tâm cũ (làm sao cứu thế được linh hồn nếu nó khác vật
chất). Spinoza khẳng định chỉ có một thế giới, trong đó căn bản có một thể chất
thôi, không thể có vấn đề gì ngoài tự nhiên, ngoài đời sống thực tế. Nhưng mặt
khác, quan hệ giữa hai bên lại là quan hệ máy móc: hai thuộc tính đó đi với nhau
một cách song song, mọi hiện tượng hoặc trong tinh thần hoặc trong vật thể là
những cách tồn tại của hai thuộc tính đó, và những thể thức đó phát triển song
song với nhau, một tư tưởng là một hiện tượng tinh thần thì song song với nó có
một vận dụng trong cơ thể - trong bộ óc chẳng hạn. Đứng về mặt quan hệ giữa tư
tưởng và thực tại - tinh thần và vật chất - bất cứ một cái gì tồn tại trong thực tại
thì nó đều có một cơ sở của nó. Một tư tưởng đúng hay sai đều có một lý do trong
thực tại làm cơ sờ cho nó và tương đương với nó.

Tư tưởng tức là một thể thức của linh hồn tương đương với một thể thức của vật
chất. Spinoza không quan niệm được vật chất tiến triển tới một mức cao thì thành
tinh thần mà quan niệm một cách máy móc: tồn tại song song, không thấy được
quan hệ đúng giữa tư tưởng và thực tại, không giải quyết được liên quan giữa tinh
thần và cơ thể, tư tưởng và thực tại (tư tưởng với cây - tư tưởng với vận động
trong bộ óc). Spinoza không thấy đến một mức nào đấy mới đặt được vấn đề
quan hệ giữa tư tưởng và thực tại, và nó được xây dựng trên một trình độ tổ chức
nào đấy của cơ thể (đến mức nào đấy mới có và càng phát triển lên nó càng chặt
Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx

chẽ). Đó là quan điểm máy móc của Spinoza, nhưng phần căn bản là ưu điểm của
ông. Do đó ông đã gây nhiều ảnh hưởng trong lịch sử tư tưởng. Sự thống nhất
giữa tinh thần và vật chất, căn bản nó là một chất, nên những vấn đề tinh thần
cũng phải giải quyết trong thế giới vật chất.

2 - MALEBRANCHE tiếp tục Descartes vào thời đại giai cấp phát triển trên cơ
sở tư sản quân chủ độc đoán đến trình độ cao nhất: Louis XIV. Trong tình cảnh

ấy, hướng chính của giai cấp tư sản tham gia chính quyền dưới hình thức làm
công cho nhà Vua bằng cách công nhận quyền tuyệt đối của nhà Vua. Vấn đề
đảm bảo quyền lợi của giai cấp tư sản trong tư tưởng là vấn đề thống nhất linh
hồn và cơ thể chỉ giải quyết được bằng cách công nhận quyền độc đoán của nhà
Vua. Sự hoạt động luôn luôn của Thượng đế tạo tác kết hợp hai bên lại: ví dụ cơ
thể ốm, tinh thần thấy âu sầu. Theo Malebranche, không có một ảnh hưởng trực
tiếp từ cơ thể sang tinh thần, nhưng đó là nhờ sự luôn luôn tái lập và điều hòa của
Thượng đế. Nó tiêu biểu rất rõ rệt cho chế độ quân chủ độc đoán của Pháp (Louis
XIV [18]: «nhà nước là ta»). Tư tưởng này cũng thường, nhưng ở Tây Phương là
một điều lạ vì phong kiến thường phân tán.

3 - LEIBNITZ. Ở Đức, vị trí phong kiến mạnh hơn nhiều, tư sản Đức rất yếu nên
những khái niệm khoa học cơ lý mà giai cấp tư sản xây đựng được - trong
Leibnitz - chỉ được bảo vệ với cương vị hình thức ngoại diện. Thế giới cơ lý mới
xây dựng được với khoa học toán lý theo Leibnitz là chân lý, nhưng là chân lý
ngoại diện; nhưng cản bản là tồn tại của tinh thần, vật chất là ngoại diện của tinh
thần, tư tưởng phong kiến nặng, phủ định sự tồn tại của ngoại giới. Nó chỉ là
ngoại diện. Nhưng ngoại diện này có, và có những quy luật quy định sự liên quan
Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx

giữa ngoại diện và tinh thần. Sự liên quan do Thượng đế tạo ra nhưng chỉ một lần
thôi.

Tóm lại, vấn đề quan hệ giữa linh hồn và cơ thể xuất phát từ tình trạng đấu tranh
không triệt để, từ sự yếu ớt của giai cấp tư sản Âu châu lục địa, một mặt nó
không định khoa học có lý, khẳng định sự tồn tại của ngoại giới, vật chất có tính
chất cơ lý. Nhưng đồng thời nó chưa quan niệm được bản thân nó cũng là một
thực thể trong thế giới vật chất, vì nó còn vướng vít với những vấn đề cũ: bất diệt
của linh hồn và tồn tại của Thượng đế. Vì trong căn bản nó còn cần đến giai cấp
phong kiến, chưa giải quyết được mâu thuẫn với phong kiến. Chưa giải quyết

được nhưng vẫn là mâu thuẫn căn bản, nên trong tinh thần giải pháp vẫn là giải
pháp huyền học, cuối cùng phải gọi đến Thượng đế như trong thực tế cần đến
quyền Vua.

B - Hướng tâm lý ở Anh.

Muốn biết xuất phát điểm của hướng tư tưởng này, ta cần phải xét qua những đặc
điểm của lịch sử nước Anh hồi bấy giờ.

Khác hẳn với các nước lục địa, ở Anh từ thời Phục hưng, giai cấp tư sản đã có cơ
sở để câu kết với giai cấp phong kiến. Đó là quá trình tư sản hóa của kinh tế nông
nghiệp Anh, nên ở cơ sở hai giai cấp đã cấu kết với nhau, đặc biệt trong ngành
sản xuất len dạ. Phong kiến tư sản hóa nghề chăn nuôi. Dần dần bọn đại địa chủ
Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx

chia ruộng ra từng khoảng lớn cho phú nông khai thác theo phương thức sản xuất.
Do đó, cái thế giới kinh nghiệm căn bản đã có tính chất duy lý (có thể hiểu biết
được cho giai cấp tư sản). Vấn đề là: làm sao từ kinh nghiệm tiến lên khoa học.

- LOCKE nhận định rằng căn bản những hiểu biết của con người ta là phát sinh ở
một quá trình cảm giác kết hợp với nhau, thí dụ cảm giác cái cây do nhiều cảm
giác họp lại mà thành. Các cảm giác được kết hợp đó đã xây dựng cho ta sự hiểu
biết đối tượng. Đồng thời, Locke khẳng định rằng cảm giác xuất phát từ thế giới
khách quan rồi phản ánh vào tinh thần. Hiểu biết đó có giá trị, vì căn cứ vào thế
giới khách quan, nhưng không có giá trị tuyệt đối vì kinh nghiệm hay thay đổi,
cho nên người ta chỉ nắm được phần nào chân lý mà thôi chứ không nắm được
toàn bộ. Tư tưởng đó, xét về mặt chính trị, là yêu cầu xây dựng một chính thể
tương đối có công lý, không thể nào có một quyền tuyệt đối chuyên chế. Phải để
cho nhân dân tự do lựa chọn tôn giáo. Quyền tự do cá nhân mà Locke đòi hỏi
chính là quyền tự do mà giai cấp tư sản đòi hỏi để phát triển phương thức sản

xuất của nó.

- BERKELEY. Sau Locke, giai cấp tư sản thắng thế hẳn với hình thức câu kết với
phong kiến, nên tư tưởng hoàn toàn chuyển về hướng duy tâm, không còn biện
chính sự hiểu biết của con người chống lại một chế độ áp bức. Sự hiểu biết đó,
trong phạm vi duy tâm cũng phải xuất từ chủ nghĩa kinh nghiệm của Locke,
nhưng nó tách rời nội dung kinh nghiệm với thực tế khách quan. Tiêu biểu cho
hướng đó là Berkeley. Ông này chủ trương rằng tất cả sự hiểu biết đều xây dựng
trên cảm giác, nhưng đó chỉ là trạng thái chủ quan trong phạm vi ý thức thôi, vì
theo ông, «cái mà tôi nắm được chỉ là nắm được trong ý thức». Ông đề ra một
công thức hẳn hoi hoàn toàn chủ quan, và từ ngày ấy trở nên công thức của
Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx

phong trào tư tưởng duy tâm cận đại: «Tồn tại là ở chỗ cảm giác được», chỉ có
chủ quan chứ không có thực tế khách quan, làm sao các cảm giác ấy thành đối
tượng được, đó không phải là do thực tế khách quan, mà là do các cảm giác được
Thượng đế sắp xếp trong chủ quan chúng ta. Berkeley phủ nhận sự tồn tại của vật
chất. Berkeley tiêu biểu cho một truyền thống duy tâm của giai cấp tư sản cận
đại. Khác với truyền thống duy tâm Cổ đại, duy tâm của Berkeley dựa trên kinh
nghiệm chủ nghĩa. Tư tưởng đó phản ánh rõ rệt sự phát triển của giai cấp tư sản:
công nhận giá trị của kinh nghiệm, nhưng chúng vẫn dựa trên bóc lộc, mua bán
nhân công tự do theo các quy luật lừa bịp, che đậy bởi hình thức tự do. Cho nên
chúng căn bản vẫn phải dựa trên kinh nghiệm, nhưng là kinh nghiệm của giai cấp
bóc lột: nắm phần hiểu biết có thể sử dụng được trong kinh nghiệm và gạt bỏ
nguồn gốc của kinh nghiệm ấy, vì «không có Thượng đế làm sao sắp xếp được
cảm giác có hệ thống như vậy». Tư tưởng của Berkeley sẽ đưa đến «chủ nghĩa
kinh nghiệm phê phán» sau này, chủ trương rằng kinh nghiệm không xuất phát từ
thực tế khách quan mà chỉ là một cách sắp xếp theo chủ quan.
*



GHI CHÚ

- Có 3 danh từ trong huyền học nói chung và đặc biệt trong thế kỷ XVII: thực thể
(substance), thuộc tính và thể thức.

Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx

Ba danh từ ấy là sự quan hệ giữa những bộ phận trong mệnh đề. Thực thể là cái
mà về cái ấy tôi nói, thuộc tính là cái mà tôi nói (ví dụ: cái bàn vuông), những cái
mà tôi nói về một thực thể là căn bàn. Nếu dùng thuộc tính để chỉ những cái căn
bản, thì những cái không căn bản tức là thuộc thể thức của vật ấy. Vấn đề đặt ra
trong thế kỷ XVII: thực thể là gì? thuộc tính là gì?

- Đứng về giai cấp phong kiến (về hình thức vẫn là giai cấp thống trị), tinh thần là
thực thể, vật thể chỉ là ngoại diện - gắn liền với quyền lợi giai cấp. Quyền bóc lột
của phong kiến dựa trên một hệ thống biện chính (Thượng đế ban ơn; dân chịu
thống trị vì quyền lợi căn bản con người là tinh thần, chịu nhận là được cứu thế).
Không những nhân sinh quan ấy liên quan với quyền lợi của chế độ phong kiến
mà còn liên quan tới quá trình xây dựng phong kiến nữa (quá trình hình thành của
Gia Tô. Trong các đạo Cổ đại, cứu thế chỉ cho dân tự do, nhưng trong Gia Tô
mọi người đều bình đẳng - được cứu thế - trước Thượng đế, phản ánh sự bình
đẳng hữu hạn và bề ngoài của chế độ phong kiến - chỉ có trong tinh thần thôi).

- Lúc giai cấp tư sản lên, nó xây dựng một thế giới quan mới: thực thể không phải
là linh hồn phụ thuộc Thượng đế mà là thế giới vật chất mà nó có thể tổ chức
được trong phương thức sản xuất của nó (duy lý, tính toán được)

Cuộc đấu tranh giai cấp phản ánh trong tư tưởng ở 2 cách quan niệm định nghĩa
thực thể. Trước thời tư sản, vật chất và linh hồn lẫn lộn không phân biệt. Tới tư

sản, với toán lý mới có quan niệm vật chất thuần túy có trọng lượng, có khối,
cứng, có vận động.
Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx


Cuộc đấu tranh này có ảnh hưởng trực tiếp ngay trong đời sống xã hội (cách quan
niệm quyền lợi con người trong đời sống xã hội). Cuộc đấu tranh này có ý thức
(Giáo hội động viên nội bộ và quần chúng của nó khủng bố phái tự do chủ nghĩa
libertin [19], cho họ là vô luân 1ý, vô đạo đức, chống xã hội, gây nguy hại cho
chế độ - và phe duy vật libertin đề cao vật chất với tính chất vật lý thuần túy -
đánh đổ giáo hội của giai cấp phong kiến, chế độ quân chủ).

- DESCARTES xây dựng nhị nguyên rất có ý thức, vì lúc đầu ông viết một cuốn
sách rất duy vật, định nghĩa thực thể hoàn toàn là vật chất có những quy luật của
nó, nhưng sau thấy khủng bố ghê gớm (hoả thiêu Vanini [20]), Descartes thêm
vào một phần nữa: cái duy nhất chắc chắn là linh hồn (Cogito ergo sum), và linh
hồn chắc chắn là vì dựa vào Thượng đế. Tuy nhiên không thuần là vấn đề sợ mà
còn có cả cơ sở giai cấp trong vấn đề này: tư sản Pháp chỉ đặt yêu cầu là cấu kết
phong kiến dưới quyền Vua. Những người tiếp thu Descartes cũng có ý thức.
Định nghĩa thực thể vừa là vật chất (tư sản), vừa là tinh thần (hệ thống phong
kiến), thống nhất do Thượng đế (Vua). Nhưng trong nhị nguyên luận này có phần
tiến bộ và là tiến bộ căn bản, là ông định nghĩa thuộc tính một cách thuần toán lý:
tính căng dãn, vận động trong thời gian không gian.

Ở Hà Lan, tư sản đã nắm chính quyền tuy vẫn bị uy hiếp, vì đế quốc Ý và Pháp là
hai đế quốc phong kiến. Nhiệm vụ đặt ra cho giai cấp tư sản Hà Lan nặng hơn là
thực tế lên nắm chính quyền, và cũng có sự tham gia nào đấy của giai cấp phong
kiến (vì toàn bộ Âu châu đang phong kiến). Nó phản ánh trong Spinoza: không
phân tán thực thể một cách linh tinh như Descartes. Với Spinoza là yêu cầu hoàn
Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx


toàn đặt cho thực thể tính chất duy lý. Có bọn phong kiến tham gia, nhưng căn
bàn là tổ chức tư sản. Spinoza đặt thực thể hoàn toàn duy lý, chỉ có một và tính
toán được. Thực tế, ta chỉ tính toán vận động của vật chất trong thời gian và
không gian. Spinoza cho thực thể là toàn bộ tự nhiên và cũng là Thượng đế. Tự
nhiên có nhiều mặt, nhưng trong đó ta quan niệm rõ ràng hai là vật chất và tinh
thần. Những thực thể linh tinh của Descartes (linh hồn cá thể, vật thể cá thể), với
Spinoza là những thể thức không căn bản, nhưng nó theo những quy luật căn bản
của thực thể.

Thực tế nó đi đến đâu? Nó bảo đảm cho một tổ chức duy lý toàn bộ: toàn thể là
một thực thể toán lý - nhân sinh quan tư bản đã thắng, nhưng nó chưa thắng với
danh nghĩa của nó (còn giữ danh từ cũ, còn có Thương đế, thực thể không hoàn
toàn là vật chất).

Ở Đức, tư sản còn yếu, yêu cầu tư sản chỉ là bảo vệ quyền lợi kinh tế, tham gia
hành chính phần nào, chỗ căn bản là phong kiến - thực thể căn bản là tinh thần và
vật chất toán lý chỉ là ngoại diện thôi (các vật thể vô cơ cũng có linh hồn, và đó là
căn bản)

Ở Anh, cuộc đấu tranh giai cấp căn bản cũng phản ánh bằng cuộc đấu tranh duy
vật - duy tâm, nhưng nó lại theo hình thức tâm lý. Không đặt ra thực thể là gì, mà
đặt chúng ta hiểu biết thực thể thế nào? Toàn thể triết học bên Anh bấy giờ (cả
hai bên) đều công nhận chúng ta hiểu biết bằng kinh nghiệm, lý tính xây dựng
bằng kinh nghiệm (trái với truyền thống đem lý tính mâu thuẫn kinh nghiệm như
ở Âu châu lục địa). Điểm khác nhau hai bên là cho kinh nghiệm xuất phát từ vật
Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx

chất, hay cho kinh nghiệm chỉ là cảm giác, chỉ là trạng thái chủ quan (nó đã đưa
kinh nghiệm từ khách quan về chủ quan, và để giải thích hệ thống, sự tổ chức của

kinh nghiệm, Berkeley chứng minh bằng Thượng đế). Từ đâu xuất phát?

Cả hệ thống kinh nghiệm chủ nghĩa xuất phát từ cuộc đấu tranh giai cấp của tư
sản Anh ngay từ Trung Cổ, và cuộc đấu tranh giai cấp ấy qua từ Scot [21],
Occam, Locke, Hobbes, được phản ánh trong tư tưởng bằng chủ nghĩa kinh
nghiệm (ở Pháp được phê phán bằng chú nghĩa duy lý, lấy lý tính đối lập với kinh
nghiệm, lấy lý tính làm chân lý, cảm giác là nguồn gốc sai lầm), lấy kinh nghiệm
làm căn bản của sự hiểu biết chân chính. lý tính chỉ là kết quả của sự tổ chức kinh
nghiệm.

Đó là điều kiện đấu tranh đặc biệt của tư sản Anh. Nó có nhiều điều kiện cấu kết
phong kiến, và ngược lại phong kiến nhiều tư sản hóa - do đó, yêu cầu tư sản căn
bản là yêu cầu chính trị, vấn đề là «giai cấp nào nắm chính quyền» (vấn đề kinh
tế không trầm trọng như Âu châu lục địa) - giải pháp chính trị ở Âu châu dứt
khoát (cách mạng và tiêu diệt phong kiến mà tư sản hóa, và tư sản Anh một phần
phong kiến hóa). Yêu cầu đặt ra là tổ chức chính trị để đảm bảo quyền chính trị
cho tư sản, về tư tưởng quyền chính trị là quyến hiểu biết. Hiểu biết từ đâu? Nếu
kinh nghiệm từ vật chất thì tư sản thắng, vì nó nắm được sự sống thực tế. Phong
kiến chỉ duy trì quyền lợi bằng cách dựa vào hệ thống cũ thôi. Trong giai đoạn
cách mạng của tư sản Anh, yêu cầu tư tưởng chỉ là bảo đảm nguồn gốc vật chất
của sự hiểu biết: bao gồm cả vấn đề của huyền học. Khi tư sản đã lên cầm quyền
(sau cách mạng 1789), giai cấp tư sản câu kết với phong kiến, sau cách mạng trở
lại tư tưởng phong kiến, sự câu kết phong kiến - tư sản trên chính trị biểu hiện
Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx

trong Berkeley - Berkeley chuyển duy vật sang duy tâm trên cơ sở vấn đề mà phe
duy vật đặt ra «chúng ta hiểu biết từ kinh nghiệm».

Ta có thể rút ra ở sự phát triển của triết học Anh:


- Tuy triết học tư sản Âu Tây có tính chất trừu tượng (hơn Cổ đại), nhưng tính
chất giai cấp bộc lộ một cách rõ rệt, đi hẳn vào chi tiết và có thể nói nó có ý thức
(cao hơn Cổ đại). Ta kiểm tra rõ ràng quy luật phát triển của tư tưởng xuất phát
từ cơ sở xã hội, đấu tranh giai cấp, ta nắm tính chất tiến bộ của duy vật và tính
chất phản động của duy tâm. Quy luật chủ đạo của duy tâm là khi thất bại trên
một cơ sở nào đấy thì chuyển sang một cơ sở khác (cụ thể, ở Anh tư tưởng tôn
giáo thua trên thần học - chuyển sang kinh nghiệm chủ nghĩa). Ở Pháp với
Descartes: tư tưởng tôn giáo thua trên cơ sở thần học thì chuyển sang huyền học,
dựa hẳn vào toán lý, đặt Thượng đế làm bảo đảm tuyệt đối của khoa học toán lý.
Nhưng ta cũng thấy vì sao tư tưởng tôn giáo có thể lợi dụng được những cơ sở
mới - căn bản do ở tình hình đấu tranh giai cấp, tình hình mà giai cấp phong kiến
còn giữ được trong hệ thống mới. Tính chất bất lực của tư sản mới tương ứng với
những nhược điểm trong tư tưởng - tính chất máy móc - đặt một hệ thống duy lý
nhưng hệ thống có tính chất máy móc (vật chất và Thượng đế ngang bằng vận
động trong không gian và thời gian, không thấy khả năng phát triển của vật chất
lên những bậc cao hơn nên không hiểu được các hiện tượng cao). Khuyết điểm
của tư tưởng tư sản mở lối cho tư tưởng duy tâm trở lại. Nhưng thực tế có trở lại
hay không thì tùy tình hình đấu tranh giai cấp.

Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx

Thế kỷ XVIII có lợi cho tư sản Pháp hơn, nên truyền thống Descartes hướng về
duy vật, nhưng sau cách mạng 1789 lại hướng về duy tâm, và lấy danh nghĩa
Descartes là công cụ để tái lập tư tưởng duy tâm: một khi công nhận khoa học
mới, vẫn phải khẳng định bất diệt của linh hồn và tồn tại của Thượng đế. Hướng
này kết hợp với Berkeley theo một truyền thống trong tư tưởng tư sản sau thời kỳ
cách mạng của nó. Cả cố gắng của tư tưởng tư bản sau cách mạng là một cố gắng
chứng minh khoa học đúng, nhưng sở dĩ đúng vì tinh thần xây dựng nó nên, và
cái bảo đảm tinh thần xây dựng của tư tưởng tư sản là Thượng đế. Nó lấy cả
những yếu tố tiến bộ cũ (Descartes) để củng cố hướng ấy. Chúng ta học

Descartes và tư tưởng thế kỷ XVII để phân tích phần tiến bộ chân chính của nó
(không phải ở cogito ergo sum mà cả truyền thống triết học tư sản, nhưng thực tế
đó là cái đảo lộn phần chủ lý mà Descartes đã tìm ra. Cũng như trong chủ nghĩa
kinh nghiệm, chân lý của nó là ở chỗ nó nắm được định nghĩa chân chính của
thực thể là thế giới khách quan, và đồng thời học tập được cách chuyển chủ nghĩa
kinh nghiệm thành một chủ nghĩa duy tâm tách cảm giác khỏi thực tế, biến kinh
nghiệm thành một trạng thái chủ quan). Tư tưởng tư sản lấy chủ nghĩa kinh
nghiệm và duy lý để xây dựng lập trường duy tâm.

Đối với chúng ta những truyền thống này tương đối xa, nhưng đối với giới văn
học và triết học Âu châu là một truyền thống sống. Ở ta nó chỉ xuất hiện dưới
hình thức tâm lý nhiều hơn, chứ không thành hệ thống, nó có trong quan niệm sai
lầm về kinh nghiệm (quan niệm kinh nghiệm chỉ là cảm giác chủ quan) không đặt
thành hệ thống. Quan niệm khoa học là thuần khoa học, như vậy chân lý của
khoa học mất cơ sở khách quan mà được giải thích bằng một cơ sở duy tâm khác.
Tư tưởng triết học bên ta cũng có quan niệm ấy, nhưng có trong tâm lý cá nhân:
thực thể là cái ta coi là có, cũng biến chuyển tùy cuộc đấu tranh giai cấp, và vị trí
mỗi người trong đó. Ở Âu Tây, những truyền thống này phát triển trong những

×