Tải bản đầy đủ (.pdf) (10 trang)

Giải phóng hoàn toàn miền Nam (19731975) pdf

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (160.85 KB, 10 trang )

Giải phóng hoàn toàn miền Nam (1973-
1975).


Cuối năm 1974 đầu năm 1975, trong tình hình so
sánh lực lượng ở miền Nam thay đổi mau lẹ có lợi
cho cách mạng, Hội nghị Bộ Chính trị (từ ngày 30
tháng 9 đến ngày 7-10- 1914) và Hội nghị Bộ
Chính trị mở rộng (từ ngày 18-12-1974 đến ngày
8-1-1975) đã bàn kế hoạch giải phóng hoàn toàn
miền Nam.
Cuối năm 1974 đầu năm 1975, trong tình hình so
sánh lực lượng ở miền Nam thay đổi mau lẹ có lợi
cho cách mạng, Hội nghị Bộ Chính trị (từ ngày 30
tháng 9 đến ngày 7-10- 1914) và Hội nghị Bộ Chính
trị mở rộng (từ ngày 18-12-1974 đến ngày 8-1-1975)
đã bàn kế hoạch giải phóng hoàn toàn miền Nam.
Chiến thắng Phước Long và tình hình chiến sự sau
Phước Long giúp Bộ Chính trị củng cố thêm quyết
tâm chiến lược, bổ sung và hoàn chỉnh kế hoạch hai
năm (1975-1976) hoàn toàn giải phóng miền Nam.
Bộ Chính trị đề ra kế hoạch hai năm, nhưng lại nhấn
mạnh "cả năm 1975 là thời cơ" và chỉ rõ "Nếu thời c
ơ
đến vào đẩu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải
phóng miền Nam trong năm 1975". Bộ Chính trị
cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải tranh thủ thời cơ
thực hiện "Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa", phải
đánh thắng nhanh để đỡ thiệt hại về người và của cho
nhân dân, giữ gìn tốt cơ sở kinh tế, công trình văn
hoá , giảm bớt sự tàn phá của chiến tranh.


Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta ở
miền Nam đã diễn ra gần hai tháng mùa Xuân 1975
với ba chiến dịch lớn: Chiến dịch Tây Nguyên, Chiến
dịch Huế - Đà Nẵng và Chiến dịch Hồ Chí Minh
đánh vào Sài Gòn.
-Chiến dịch Tây Nguyên (từ ngày 4 tháng 3 đến ngày
24-3-1975).
Tây Nguyên là một địa bàn chiến lược hết sức quan
trọng mà cả ta và địch đều chú ý và cố gắng nắm giữ.

Đầu tháng 3-1975, quân ta tiến công địch nhiều nơi ở
Tây Nguyên, và ngày 4-3-1975 đánh nghi binh ở
Plâycu, Kontum nhằm thu hút quân địch vào hướng
đó. Ngày 10-3-1975, với lực lượng mạnh hơn địch,
quân ta được lệnh tiến công thị xã Buôn Ma Thuộc,
đánh các cơ quan đầu não của địch. Sau hai ngày
chiến đấu, ta tiêu diệt toàn bộ quân địch ở đây và
hoàn toàn làm chủ thị xã (ngày ll-3-1975).
Ngày 12-3-1975, quân địch tập trung lực lượng mở
cuộc phản công nhằm chiếm lại Buôn Ma Thuộc,
song tất cả các cuộc phản công của chúng đều bị
đánh tan.
Ngày 14 tháng 3, Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút khỏi
Plâycu, Kontum và toàn bộ Tây Nguyên về giữ vùng
duyên hải Nam Trung Bộ, rồi tập trung lực lượng tái
chiếm Buôn Ma Thuộc. Ngày 16 tháng 3, quân ta
được lệnh đánh chặn và truy kích địch trên đường
chúng rút khỏi Tây Nguyên. Đến ngày 24 tháng 3,
toàn bộ quân địch rút chạy bị quân ta tiêu diệt. Chiến
dịch Tây Nguyên kết thúc. Ta diệt toàn bộ quân đoàn

2 trấn giữ ở đây, giải phóng toàn bộ Tây Nguyên
rộng lớn với 60 vạn dân. Chiến dịch Tây Nguyên
thắng lợi đã chuyển cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước sang giai đoạn mới: từ cuộc tiến công chiến
lược phát triển thành cuộc tổng tiến công chiến lược
trên toàn chiến trường miền Nam.
-Chiến dịch Huế - Đà Nẵng (ngày 25-3 và 29-3-
1975).
10 giờ 30 phút ngày 25 tháng 3, quân ta tiến vào Huế
đến ngày hôm sau (ngày 26 tháng 3) thì giải phóng
hoàn toàn thành phố và toàn tỉnh Thừa Thiên. Trong
cùng thời gian, quân ta tiến vào giải phóng thị xã
Tam Kỳ (ngày 24 tháng 3), Quảng Ngãi (ngày 25
tháng 3), Chu Lai (ngày 26 tháng 3) tạo thêm một
hướng uy hiếp Đà Nẵng từ phía Nam.
Đà Nẵng, thành ph
ố lớn thứ hai ở miền Nam, một căn
cứ quân sự liên hợp lớn nhất của Mỹ - Ngụy rơi vào
thế cô lập. Quân ta từ ba phía Bắc, Tây, Nam tiến
nhanh áp sát thành phố. Hơn 10 vạn địch bị dồn ứ về
đây trở nên hỗn loạn, mất hết khả năng chiến đấu.
Chúng phải dùng máy bay di tản cố vấn Mỹ và một
phần lực lượng nguy. Sáng ngày 29 tháng 3, quân ta
từ các hướng tiến thẳng vào thành phố, đến ba giờ
chiều thì chiếm toàn bộ thành phố.
Ngày 2 tháng 4 tại Tổng hành dinh, sau khi nghe báo
cáo về Chiến dịch giải phóng Đà Nẵng, Tổng hành
dinh đã trực tiếp chỉ thị cho tướng Lê Trọng Tấn tổ
chức tiến công giải phóng các đảo, đặc biệt là quần
đảo Trường Sa. Ngày 28 tháng 4 chiến sĩ ta trên các

đảo, trên các tàu chiến đã nhận được điện khen:
"Quân ủy Trung ương rất phấn khởi được tin quân ta
đã chiếm các đảo thuộc Trường Sa. Nhiệt liệt khen
ngợi các đơn vị đã hoàn thành nhiệm vụ có ý nghĩa
chiến lược".
Trong cùng thời gian với chiến dịch Tây Nguyên và
chiến dịch Huế - Đà Nẵng từ cuối tháng 3 đầu tháng
4-1975, nhân dân các tỉnh còn lại ven biển miền
Trung, phía Nam Tây Nguyên và một số tỉnh ở Nam
Bộ, có sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang địa phương
và của quân chủ lực, đã nổi dậy đánh địch giành
quyền làm chủ.
-Chiến dịch Hồ Chí Minh (từ ngày 26 tháng 4 đến
ngày 30-4-1975).
Sau một tháng tiến công và nổi dậy, quân dân ta đã
giành toàn thắng trong hai chiến dịch Tây Nguyên và
Huế - Đà Nẵng, giải phóng hơn nửa đất đai và nửa số
dân toàn miền Nam, chiếm giữ một khối lượng lớn
vật chất, trang bị, phương tiện chiến tranh. Các lực
lượng vũ trang của ta đã trưởng thành nhanh chóng.
Trong khi đó, lực lượng mọi mặt của địch giảm sút
nghiêm trọng, chúng phải lùi về phòng thủ từ Phan
Rang trở vào. Mỹ cũng đã hết sức giúp Ngụy kéo dài
cơn hấp hối bằng cách lập cầu hàng không viện trợ
khẩn cấp cho chúng.
Về phía ta, như Nghị quyết của Bộ Chính Trị ngày
25-3-1975 đã nêu rõ: “Thời cơ chiến lược mới đã
đến, ta có điều kiện hoàn thành sớm quyết tâm giải
phóng miền Nam…Phải tập trung nhanh nhất lực
lượng, binh khí kỹ thuật và vật chất giải phóng miền

Nam trước mùa mưa” (trước tháng 5-1975). Chiến
dịch giải phóng Sài Gòn cũng được Bộ Chính trị
quyết định mang tên “Chiến dịch Hồ CHí Minh”.
Từ đầu tháng 4, trên mọi miền đất nước, nhân dân
sống những ngày giờ hết sức sôi động và hào hứng.
Cả dân tộc ta ra quân trong mùa Xuân l
ịch sử với tinh
thần “đi nhanh đến, đánh nhanh thắng” và với khí thế
“thần tốc, bất ngờ, táo bạo, chắc thắng”.
Ngày 9 tháng 4, quân ta tiến công Xuân Lộc, một căn
cứ phòng thủ trọng yếu của địch bảo vệ Sài Gòn từ
phía đông. Tại đây diễn ra những trận chiến ác liệt.
Ngày 16 tháng 4, toàn bộ quân dịch ở Xuân Lộc tháo
chạy.
Ngày 18 tháng 4, tổng thống Mỹ ra lệnh di tản hết
người Mỹ khỏi Sài Gòn. Ngày 21 tháng 4, Nguyễn
Văn Thiệu tuyên bố từ chức tổng thống.
17 ngày 26 tháng 4, quân ta được lệnh nổ súng mở
đầu chiến dịch. Tất cả năm cánh quân ta từ các hư
ớng
vượt qua tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch tiến
vào Sài Gòn.
Ngày 28 tháng 4, các trận địa pháo của ta đồng loạt
nã đạn vào sân bay Tân Sơn Nhất, và chiều hôm đó
phi công ta dùng năm máy bay chiến đấu phản lực
A37 thu được của địch mở đợt tập kích của địch vào
khu vực chứa máy bay của chúng,
Đêm 28 rạng sáng 29 tháng 4, tất cả các cánh quân
của ta được lệnh đồng loạt tổng công kích vào trung
tâm thành phố, đánh chiếm tất cả các cơ quan đầu

não của địch.
9 giờ 30 phút, ngày 30 tháng 4, Tổng thống ngụy
Dương Văn Minh vừa nhậm chức hôm 28 tháng 4,
kêu gọi "ngừng bắn để điều đình giao chính quyền"
nhằm cứu quân nguỵ khỏi sụp đổ.
10 giờ 45 phút ngày 30 tháng 4, xe tăng của ta tiến
thẳng vào dinh "Độc lập", bắt toàn bộ chính quyền
Sài Gòn, tổng thống Dưng Văn Minh tuyên bố đầu
hàng, 11 giờ 30 phút cùng ngày, lá cờ cách mạng
tung bay trên nóc "dinh độc lập" báo hiệu sự toàn
thắng của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.
Thừa thắng, sau giải phóng Sài Gòn, lực lượng vũ
trang và nhân dân các tỉnh còn lại ở Nam Bộ nhất tề
đứng lên tiến công và nổi dậy theo phương thức "xã
giải phóng xã, huyện giải phóng huyện, tỉnh giải
phóng tỉnh". Đến ngày 2-5-1975, Nam Bộ và miền
Nam nước ta hoàn toàn giải phóng.

Nguồn:Lương Ninh 2000, Chương XVIII – Việt
Nam từ năm 1965 đến năm 1975,Lịch sử Việt Nam
giản yếu, Hà Nội, Chính trị Quốc gia, Tr.596-600.

×