Lược sử ngoại giao VN các thời trước
Chương bảy
NGOẠI GIAO THỜI LÊ MẠC – phần 1
Nhà Lê trị vì được một trăm năm thì tháng bảy năm
1527, một quan võ là Mạc Đăng Dung cướp ngôi, tự
lập làm vua, mở đầu một triều đại mới: nhà Mạc.
Năm 1529, hai cựu thần nhà Lê là Trịnh Ngang,
Trịnh Ngung sang Trung Quốc yêu cầu nhà Minh cho
quân sang đánh Mạc. Nhà Minh không nhận lời. "Hai
người đều chết già ở đất Trung Hoa”(Lê Quý Đôn:
Đại việt thông sử)
Cũng năm này, một tướng cũ của nhà Lê là Nguyễn
Kim đem gia quyến chạy sang Ai Lao, mưu đồ khôi
phục vương quyền nhà Lê.
Năm 1533, một người trong hoàng tộc nhà Lê là Lê
Duy Ninh được Nguyễn Kim và một số cựu thần nhà
Lê lánh nạn ở Sầm Nưa (đất Lào) đưa lên ngôi vua,
tức Lê Trang Tông nhà Lê Trung hưng từ đây.
Nguyễn Kim và Lê Trang Tông đưa quân về nước,
chiếm lại Thanh Hóa, thu phục dần phần lãnh thổ từ
Thanh Hóa trở vào Nam. Đất nước có hai triều đình
kể từ đây. Nhà Lê Trung hưng cầm quyền cai trị từ
Thanh Hóa trở vào. Từ Thanh Hóa trở ra vẫn thuộc
quyền thống trị của nhà Mạc.
I. NGOẠI GIAO CỦA NHÀ MẠC
Sau khi lên ngôi vua, muốn tránh nạn nước lớn Trung
Quốc mượn cớ giúp Lê đem quân xâm lược, Mạc
Đăng Dung cho sứ sang Trung Quốc, nói với triều
đình nhà Minh rằng: "Con cháu nhà Lê không còn ai
thừa tự, nên di chúc cho đại thần họ Mạc tạm quản
việc nước để yên nhân dân".(Lê Quý Đôn: Đại việt
thông sử)
Nhà Minh biết là không phải như vậy nên thường vặn
hỏi, hạch sách, đe dọa. Mạc Đăng Dung đem vàng
bạc cho các tướng nhà Minh ở vùng biên giới để ngăn
chặn những hành động quấy rối của chúng.
Năm 1533, nhà Lê Trung hưng chưa thu phục được
Bắc Hà đã cho tả đô đốc Trịnh Duy Liệu theo đường
biển đi sứ Trung Quốc cầu khẩn nhà Minh đem quân
sang nước ta đánh Mạc. Nhà Minh chưa quyết. Năm
1536 nhà Lê Trung hưng lại cho sứ sang Trung Quốc,
một lần nữa xin Minh ra quân đánh Mạc .
Năm 1538, nhà Mạc cho sứ sang Trung Quốc xin quy
thuận. Nhà Minh nắm lấy cơ hội, tổ chức một đạo
quân giao cho Mao Bá Ôn lên đường chuẩn bị tiến
sang nước ta.
Thấy đạo quân Minh xâm lược của Mao Bá Ôn tới
biên giới, Mạc Đăng Dung cử một đoàn hơn 40 người
đến quân doanh Mao Bá Ôn xin dâng đất sáu động ở
Vĩnh An (thuộc vùng Quảng Ninh bây giờ). Tướng
Minh ra lệnh buộc Mạc Đăng Dung phải bỏ đế hiệu
và đích thân đến cửa trại quân Minh nộp đất đựng
mốc.
Mạc Đăng Dung tuân theo, làm điều nhục nhã đó.
Nhà Mạc cứ thế, ngày càng suy yếu. Nối ngôi Mạc
Đăng Dung là Mạc Đăng Doanh. Tiếp theo Mạc
Đăng Doanh là Mạc Phúc Hải. Khi Mạc Phúc Hải
chết, nội bộ nhà Mạc chia rẽ, tách thành hai phái.
Một phái ủng hộ con Phúc Hải còn nhỏ tuổi là Mạc
Phúc Nguyên lên làm vua. Một phái ủng hộ Mạc
Chính Trung là con thứ Mạc Đăng Dung, em ruột
Mạc Phúc Hải lên ngôi (vì Mạc Chính Trung đã lớn
tuổi, nhiều lần ra trận). Hai phái đánh phá lẫn nhau.
Năm 1547, Mạc Chính Trung thất thế, đem gia quyến
và những người thân cận, tất cả hơn 100 người chạy
sang Khâm Châu xin cư trú. Nhà Minh lại có cơ hội
đe dọa nhà Mạc, đưa văn thư hạch sách Mạc Phúc
Nguyên không phải là dòng dõi Mạc Đăng Dung.
Triều thần nhà Mạc phải đưa Mạc Phúc Nguyên lên
cửa quan biên giới trình diện và làm tờ trạng cam kết
không giả dối.
Năm 1548, nhà Mạc cho sứ là Lê Quang Bí sang nộp
cống nhà Minh, bị quan lại nhà Minh không cho lên
Bắc Kinh, giữ lại ở Nam Ninh, đến năm 1563 mới
được đưa lên Bắc Kinh. Lê Quang Bí phải ở Trung
Quốc 18 năm mới trở về nước. Sử viết: "Lúc ra đi tóc
mây xanh mướt, khi trở về râu tuyết bạc phơ! Người
Minh ví ông như Tô Vũ đi sứ khi xưa đến lúc bạc đầu
mới được trở về (Tô Vũ làm chức Trung lang tướng
thời Hán Vũ đế (Trung Quốc) đi sứ sang Hung Nô, bị
Hung Nô giữ lại phải đi chăn dê 19 năm mới được trở
về nước.). Khi Quang Bí trở về tới Đông Kinh, Phúc
Nguyên tỏ lời an ủi, thấy việc đi sứ của ông giống hệt
Tô Vũ, bèn phong cho tước Tô quận công” (Lê Quý
Đôn; Đại Việt thông sử.).
Đầu năm 1581, nhà Mạc cho bốn đoàn sứ giả sang
Minh "nộp bổ túc cống phẩm còn thiếu trong mấy
năm qua" (Lê Quý Đôn: Đại Việt thông sử(trong Lê
Quý Đôn, Toàn tập ) Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội,
1978, tr.327)
Năm 1582, nhà Minh đòi xét lại biên giới ở Lạng
Sơn. Năm 1584, nhà Mạc cho người đi sứ nộp cống.
Lúc này, nhà Mạc đã suy yếu lắm, bị quân của nhà
Lê Trung hưng tiến công liên tiếp. Vua cuối cùng của
nhà Mạc là Mạc Mậu Hợp bị quân Lê Trung hưng bắt
ngày 13 tháng 1 năm 1593.
Một số tướng Mạc cố đưa một vài người trong họ
Mạc lên ngôi vua. Mạc Kính Chỉ được đưa lên ngôi
vua ở Chí Linh (Hải Dương) nhưng chỉ hơn một
tháng sau khi Mạc Mậu Hợp bị bắt thì Mạc Kính Chỉ
cũng bị bắt. Một người khác là Mạc Kính Cung được
một tướng giỏi của nhà Mạc là Mạc Ngọc Liễn đưa
lên làm vua vào khoảng tháng 4 năm 1592. Đến
tháng 6 năm 1594, quân của Mạc Kính Cung, Mạc
Ngọc Liễn bị đánh tan. Mạc Ngọc Liễn chạy ra châu
Vạn Ninh, vùng ven biển (khu vực Quảng Ninh ngày
nay). Mạc Kính Cung chạy sang Long Châu, Trung
Quốc, đưa quân Minh ở Long Châu về đánh cướp
Lạng Sơn, nhưng bị quân Lê đánh đuổi, Mạc Kính
Cung chạy sang Long Châu lần nữa.
Tháng 8 năm 1594, Mạc Ngọc Liễn ốm chết ở Vạn
Ninh. Trước khi chết, ông đưa thư khuyên Mạc Kính
Cung:
"Nay nhà Mạc khí vận đã hết, họ Lê phục hưng, đó là
số trời vậy. Dân ta vô tội mà khiến phải chịu nạn binh
đao, ai nỡ lòng nào. Chúng ta nên lánh ra ở nước
khác, nuôi dưỡng uy lực, chịu khuất đợi thời; chờ khi
nhờ mệnh trời trở lại mới làm được, chứ không thể
lấy lực chọi với lực. Khi hai con hổ cùng tranh nhau,
tất nhiên có một con bị thương, không có ích gì cho
công việc. Nếu thấy quân của đối phương tới đây,
chúng ta nên tránh đi, cẩn thận chớ có đánh nhau với
họ, cốt phải phòng thủ cẩn thận làm chính, lại chớ
nên mời người Minh vào nước ta, để cho dân phải
lầm than, đó là cái tội không gì lớn hơn"(Lê Quý
Đôn: Đại Việt thông sử, bản dịch, tr.368 - 369)
Vua tôi nhà Mạc nhờ nhà Minh Trung Quốc can thiệp
với nhà Lê, được tạm giữ một khu đất ở Cao Bằng
làm nơi trú chân; cho tới năm 1677 thì chính quyền
của nhà Mạc bị đánh đổ hẳn. Đất Cao Bằng thuộc
quyền thống trị của nhà Lê Trung hưng.