TRƯỜNG ………………….
KHOA……………………….
[\[\
GIẢI PHẨU BỆNH
TÂM THẦN PHÂN LIỆT
1
TÂM THẦN PHÂN LIỆT
TS. BS Đặng Hoàng Hải
MỤC TIÊU:
1. Nêu được tần suất và thiệt hại của Tâm thần phân liệt
2. Liệt kê được các tiêu chuẩn quan trọng trong chẩn đoán và vận dụng các tiêu chuẩn này trên
lâm sàng.
3. Xác đònh được mục tiêu điều trò và lựa chọn các biện pháp can thiệp hợp lý.
1. KHÁI NIỆM.
Theo bảng Phân loại Quốc tế Bệnh tật lần 10, Tâm thần phân liệt thuộc nhóm “Bệnh tâm thần
phân liệt, các rối loạn phân liệt và các rối loạn hoang tưởng” (nhóm F2).
Nhóm F2 bao gồm: tâm thần phân liệt (F20), rối loạn dạng phân liệt (F21), rối loạn hoang tưởng
dai dẳng (F22), rối loạn loạn thần cấp và nhất thời(F23), rối loạn hoang tưởng cảm ứng (F24), rối
loạn phân liệt cảm xúc (F25), rối loạn loạn thần không thực tổn khác (F28), loạn thần không thực
tổn không biệt đònh (F29).
Theo BPLQTBT lần 10, nhóm F2 thuộc nhóm không thực thể, triêu chứng loạn thần chiếm ưu thế.
Theo số liệu điều tra trên nhiều nơi ở thế giới, tần suất suốt đời của Tâm thần phân liệt vào khoảng
1% trong dân số chung.
Rối loạn này là một rối loạn mạn tính, theo các tác giả Hoa Kỳ, khoảng 50-75% bệnh nhân TTPL
tiến triển từng cơn, và 15% bệnh nhân tiến triển liên tục trong suốt cuộc đời. Bệnh ảnh hưởng nặng
nề trên sinh hoạt của người bệnh, khoảng 15-20% bệnh nhân không tự chăm sóc được bản thân,
khoảng 43% bệnh nhân rối loạn nặng trong quan hệ xã hội, chỉ khoảng 15% bệnh nhân còn khả
năng lao động. Người bệnh TTPL thường bò các bệnh mạn tính, như tim mạch, đái tháo đường, và
tuổi thọ trung bình của người bệnh thấp hơn ở người bình thường là 20%.
Với các đặc điểm kể trên, TTPL là một rối loạn tâm thần quan trọng trong ngành tâm thần.
2. BỆNH CẢNH LÂM SÀNG
2.1. TIÊU CHUẨN CHẨN ĐOÁN.
2.1.1. BẢNG PHÂN LOẠI QUỐC TẾ BỆNH TẬT LẦN 10.
Theo BPLQTBT lần 10, TTPL là một rối loạn loạn thần, các triệu chứng loạn thần được chia
thành các nhóm sau đây:
(a) Tư duy vang thành tiếng, tư duy bò áp đặt, bò đánh cắp và tư duy bò phát thanh.
(b) Các hoang tưởng bò kiểm tra, bò chi phối hay bò động, có liên quan với vận động thân thể
hay các chi hoặc có liên quan với những ý nghó, hành vi hay cảm giác đặc biệt, tri giác
hoang tưởng.
(c) Các ảo thanh bình phẩm về hành vi của bệnh nhân hay thảo luận với nhau về bệnh nhân
hoặc các loại ảo thanh khác xuất phát từ một bộ phận của thân thể.
(d) Các loại hoang tưởng dai dẳng khác không thích hợp về mặt văn hóa và hoàn toàn
không thể có được (ví dụ : có khả năng điều khiển thời tiết, hoặc đang tiếp xúc với những
người của thế giới khác).
2
(e) Ảo giác dai dẳng bất cứ loại nào, có đi kèm theo hoang tưởng thoáng qua hay chưa hoàn
chỉnh, hoặc kèm theo ý tưởng quá dai dẳng hoặc xuất hiện hàng ngày trong nhiều tuần hay
nhiều tháng.
(f) Tư duy gián đoạn hay thêm từ khi nói, tư duy không liên quan hay ngôn ngữ bòa đặt.
(g) Tác phong căng trương lực như kích động, giữ nguyên dáng hay uốn sáp, phủ đònh,
không nói, hay sững sờ.
(h) Các triệu chứng âm tính như vô cảm, ngôn ngữ nghèo nàn, các cảm xúc cùn mòn hay
không thích hợp thường đưa đến cách ly xã hội hay giảm sút khả năng lao động xã hội, phải
rõ ràng là các triệu chứng trên không do trầm cảm hay thuốc an thần kinh gây ra.
BPLQTBT lần 10 còn đưa ra các nguyên tắc chẩn đoán:
- Để chẩn đoán bệnh nhân tâm thần phân liệt, cần ít nhất một triệu chứng rất rõ (nếu ít rõ,
phải hai triệu chứng hay nhiều hơn nữa) thuộc vào các nhóm liệt kê từ (a) đến (d); hoặc
các triệu chứng thuộc vào ít nhất là hai trong các nhóm liệt kê từ (e) đến (h), các triệu
chứng ở trên phải tồn tại rõ ràng trong phần lớn thời gian một tháng hay lâu hơn;
- Nếu thời gian ngắn hơn một tháng (dù có điều trò hay không), phải chẩn đoán trước tiên
như rối loạn loạn thần cấp giống phân liệt (F23.2).
- Người bệnh có thể có một giai đoạn, trong đó có triệu chứng của lo âu lan tỏa, trầm cảm,
cũng như giảm khả năng lao động, quan hệ xã hội và trong sinh hoạt cá nhân, có trước
hoặc sau cơn loạn thần hàng tuần hoặc có khi hàng tháng; do khó xác đònh thời gian khởi
đầu, nên không chẩn đoán giai đoạn tiền triệu hoặc di chứng; chẩn đoán chỉ dựa trên cơn
loạn thần.
- Khi người bệnh có cả các triệu chứng loạn thần và rối loạn cảm xúc, hai nhóm triệu
chứng này chiếm ưu thế như nhau, có thể chẩn đoán là rối loạn phân liệt cảm xúc (F25-).
- Nếu bệnh nhân bò bệnh cơ thể hoặc ở trong trạng thái nhiễm độc ma túy, không chẩn
đoán bệnh tâm thần phân liệt, phải chẩn đoán là loạn thần do bệnh cơ thể, (F06.2), hoặc loạn
thần do các chất ma túy gây ra (F1x.5).
2.1.2. SỔ TAY CHẨN ĐOÁN THỐNG KÊ BỆNH TÂM THẦN LẦN IV:
Tiêu chuẩn chẩn đoán Tâm thần phân liệt của STCĐTKBTT lần IV.
A. Cơn loạn thần: có sự xuất hiện 2 (hoặc hơn) trong số các triệu chứng sau đây, mỗi triệu
chứng hiện diện trong phần lớn thời gian trong một tháng (hoặc ngắn hơn nếu chúng đáp
ứng tốt với điều trò) :
(1). ý nghó hoang tưởng
(2). ảo giác
(3). ngôn ngữ vô tổ chức (nghóa là tư duy không liên quan)
(4). hành vi tác phong cực kỳ vô tổ chức hoặc căng trương lực
(5). các triệu chứng âm tính, ví dụ như cảm xúc cùn mòn, ngôn ngữ nghèo nàn hay mất ý
chí.
Chú ý : Một triệu chứng duy nhất trong tiêu chuẩn A là đủ nếu ý nghó hoang tưởng có nội
dung kỳ dò hay ảo giác là ảo thanh bình phẩm về hành vi và suy nghó của bệnh nhân hoặc là
ảo thanh tranh luận gồm nhiều giọng nói chuyện với nhau.
B. Rối loạn hoạt động xã hội nghề nghiệp, trong cơn rối loạn, một hoặc nhiều lónh vực chủ
yếu của hoạt động như công tác, các mối quan hệ giữa các cá nhân, hoặc việc chăm sóc bản
thân rõ ràng thấp hơn mức đã đạt được trước khi có rối loạn.
3
C. Thời gian rối loạn tâm thần tồn tại ít nhất là 6 tháng. Giai đoạn 6 tháng này bao gồm
cơn loạn thần cấp theo tiêu chuẩn A, kéo dài trong 1 tháng và có thể kèm theo các giai đoạn
tiền triệu hay di chứng.Trong các giai đoạn tiền triệu hay di chứng, dấu hiệu của rối loạn có
thể được biểu hiện bởi các triệu chứng âm tính hoặc bởi 2 hay hơn các triệu chứng tiêu
chuẩn A nhưng dưới một hình thức nhẹ hơn (ví dụ: những tín ngưỡng kỳ dò, những tri giác bất
thường).
D. Chẩn đoán phân biệt với rối loạn cảm xúc phân liệt và rối loạn khí sắc: việc chẩn đóan
phân biệt với rối loạn cảm xúc phân liệt và rối loạn khí sắc dựa vào các yếu tố sau:
(1) không có giai đoạn trầm cảm chủ yếu, hưng cảm hay hỗn hợp xuất hiện đồng thời với
các triệu chứng của cơn loạn thần;
(2) nếu có, thời gian của rối loạn khí sắc ngắn hơn thời gian của cơn loạn thần và giai
đoạn di chứng.
E. Chẩn đoán phân biệt với loạn thần thực tổn hay do sử dụng một chất: rối loạn này do các
tác động sinh lý trực tiếp của một chất (ví dụ : chất gây lạm dụng, thuốc men) hoặc do một
bệnh cơ thể.
F. Mối quan hệ với rối loạn phát triển lan tỏa : Nếu có tiền sử của một rối loạn tự kỷ hay
một rối loạn phát triển lan tỏa khác thì chẩn đoán tâm thần phân liệt chỉ cần một cơn loạn
thần (tiêu chuẩn A).
2.2. CHẨN ĐOÁN XÁC ĐỊNH
- Cơn loạn thần: theo tiêu chuẩn chẩn đoán của BPLQTBT lần 10 và STCĐTKBTT lần IV,
người bệnh phải có cơn loạn thần (tiêu chuẩn A), thời gian tối thiểu là 1 tháng; tuy nhiên,
trong BPLQTBT lần 10, nếu bệnh nhân được điều trò sớm, thời gian cơn loạn thần ngắn hơn 1
tháng, không được chẩn đoán là Tâm thần phân liệt, khác với STCĐTKBTT lần IV, nếu bệnh
nhân được điều trò sớm và đáp ứng với thuốc, thời gian này không cần thiết là 1 tháng.
- Trong cơn này, người bệnh phải có triệu chứng loạn thần; nhưng trong BPLQTBT lần 10,
các triệu chứng loạn thần bao gồm 8 nhóm (từ a đến h), trong đó các nhóm từ a đến d được
coi là triệu chứng hàng đầu của Tâm thần phân liệt (first rank symtoms); và để chẩn đoán là
tâm thần phân liệt, người bệnh chỉ cần một triệu chứng của 4 nhóm kể trên, đối với các nhóm
còn lại, người bệnh phải có triệu chứng của hai trong 4 nhóm còn lại.
Trong STCĐTKBTT lần IV, có 5 triệu chứng loạn thần, để chẩn đoán là tâm thần phân liệt,
người bệnh có ít nhất là 2 trong số 5 triệu chứng; tuy nhiên, trong STCĐTKBTT lần IV, vẫn
có các triệu chứng hàng đầu của Tâm thần phân liệt, như hoang tưởng kỳ quái hoặc ảo thanh
bình phẩm hoặc tranh luận, trong trường hợp này, chỉ cần 1 triệu chứng là đủ
- Ngoài cơn loạn thần kể trên, trong STCĐTKBTT lần IV còn quy đònh rối loạn tâm thần; rối
loạn này bao gồm giai đoạn tiền triệu, cơn loạn thần (tiêu chuẩn A), giai đoạn di chứng; trong
hai giai đoạn tiền triệu và di chứng, các triệu chứng loạn thần không đáp ứng đủ tiêu chuẩn
chẩn đoán của cơn loạn thần (tiêu chuẩn A), như người bệnh chỉ còn triệu chứng âm tính,
hoặc những ý tưởng kỳ dò, cảm giác bất thường không đủ để chẩn đoán là hoang tưởng, ảo
giác; và tổng thời gian của cơn loạn thần và di chứng phải trên 6 tháng.
Trong BPLQTBT lần 10, mặc dầu công nhận có một giai đoạn không đáp ứng tiêu chuẩn của
cơn loạn thần, người bệnh chỉ có triệu chứng trầm cảm hoặc rối loạn lo âu lan tỏa, nhưng vì
không xác đònh được thời gian, nên không đưa giai đoạn này vào tiêu chuẩn chẩn đoán.
4
- nh hưởng của bệnh tâm thần phân liệt trên sinh hoạt của người bệnh, trong BPLQTBT lần
10, mặc dù công nhận người bệnh có một giai đoạn bò giảm khả năng lao động, quan hệ xã
hội và trong sinh hoạt, nhưng không đưa vấn đề này vào trong tiêu chuẩn chẩn đoán; nhưng
trong STCĐTKBTT lần IV, ảnh hưởng của bệnh trên sinh hoạt được thể hiện thành tiêu
chuẩn B; và theo tiêu chuẩn này, cả trong các giai đoạn loạn thần, tiền triệu và di chứng,
bệnh nhân bò rối loạn sinh hoạt.
Trên lâm sàng, những triệu chứng loạn thần gây ra những rối loạn trong sinh hoạt.
1. Hoang tưởng: theo BPLQTBT lần 10, các triệu chứng hoang tưởng thường gặp là:
- Hoang tưởng liên hệ, bò hại: người bệnh thường nghó là mọi người chung quanh thường
bàn tán, hoặc tìm cách làm hại mình, nên người bệnh thường chú ý vào câu chuyện của
người khác, hoặc có phản ứng tự vệ như tấn công người khác.
- Hoang tưởng ghen tuông: người bệnh nghi ngờ vợ hay chồng mình ngoại tình, nên có
thể có những hành vi nguy hiểm.
- Hoang tưởng bò chi phối: người bệnh nghó là có một người nào đó nhập vào điều khiển
hoạt động của người bệnh, cũng có thể gây ra những hoạt động nguy hiểm.
Các triệu chứng hoang tưởng kể trên đều có thể gây nguy hiểm cho người khác (điểm số
GAFS: 1-20).
2. o giác: thường gặp là:
- o thanh đe dọa: người bệnh có thể nghe tiếng nhiều người nói trong tai, đe dọa người
bệnh.
- o thanh mệnh lệnh: người bệnh có thể nghe tiếng người nói trong tai bảo bệnh nhân
làm việc này hoặc việc khác, có khi cả những hành vi tự tử.
Cũng như triệu chứng hoang tưởng, triệu chứng ảo giác cũng có những hành vi nguy hiểm
cho người khác hoặc bản thân mình.
3. Triệu chứng âm tính: người bệnh không còn để ý đến mọi việc chung quanh cũng như
bản thân của mình, nên người bệnh thường bỏ việc làm, học tập, theo ước tính của các tác
giả Hoa kỳ, khỏang 85% người bệnh bò mất khả năng lao động; không quan tâm hoặc tiếp
xúc với người nhà, bạn bè, nên người bệnh tìm cách tự cách ly ra khỏi xã hội, khoảng 43%
người bệnh bò rối loạn năng trong quan hệ xã hội, ngay cả những vệ sinh tối thiểu, người
bệnh cũng không quan tâm, có 15-20% người bệnh không tự chăm sóc bản thân được bản
thân,
Trong các triệu chứng loạn thần, triệu chứng âm tính không gây hậu quả nguy hiểm như
hoang tưởng, ảo giác; tuy nhiên, triệu chứng này xuất hiện trong các giai đoạn tiền triệu, di
chứng và cơn loạn thần, ảnh hưởng nặng nề trên khả năng tự chăm sóc bản thân, và ít đáp
ứng với các thuốc chống loạn thần; nên triệu chứng âm tính là triệu chứng ảnh hưởng nặng
nề nhất trên sinh hoạt của người bệnh.
2.3. CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT.
Trong STCĐTKBTT lần IV, cần chẩn đoán phân biệt Tâm thần phân liệt với những rối loạn
khác như loạn thần do bệnh cơ thể, do sử dụng chất tác động trên hệ thần kinh, rối loạn khí sắc
có triệu chứng loạn thần, v.v…
5
2.3.1. PHÂN BIỆT VỚI LOẠN THẦN DO BỆNH CƠ THỂ.
Khi phân tích tiêu chuẩn chẩn đoán của Tâm thần phân liệt với loạn thần do bệnh cơ thể.
Bảng 1: Tiêu chuẩn chẩn đoán của Tâm thần phân liệt và loạn thần do bệnh cơ thể.
Tâm thần phân liệt Loạn thần do bệnh cơ thể
A. Cơn loạn thần: có sự xuất hiện 2 (hoặc hơn) trong số các
triệu chứng sau đây,
(1). ý nghó hoang tưởng
(2). ảo giác
(3). ngôn ngữ vô tổ chức
(4). hành vi tác phong cực kỳ vô tổ chức.
(5). các triệu chứng âm tính,
B. Rối loạn hoạt động xã hội nghề nghiệp :
C. Thời gian : rối loạn tồn tại ít nhất là 6 tháng
D. Chẩn đoán phân biệt với rối loạn cảm xúc phân liệt và rối
loạn khí sắc: việc chẩn đóan phân biệt với rối loạn cảm xúc
phân liệt và rối loạn khí sắc dựa vào các yếu tố sau:
E. Chẩn đoán phân biệt với loạn thần thực tổn hay do sử dụng
một chất: rối loạn này do các tác động sinh lý trực tiếp của
một chất (ví dụ : chất gây lạm dụng, thuốc men) hoặc do một
bệnh cơ thể.
F. ….\
A. Các ảo giác hoặc
hoang tưởng nổi bật
B. Sau khi xem xét bệnh
sử, khám cơ thể và làm
các khám nghiệm bổ
sung, có bằng chứng là
rối loạn loạn thần này là
do hậu quả sinh lý trực
tiếp của một bệnh nội
khoa tổng quát.
C. Rối loạn này không
được giải thích rõ bởi một
rối loạn loạn thần khác.
D. Rối loạn không xảy ra
đơn độc trong tiến triển
của sảng
Khi so sánh tiêu chuẩn chẩn đoán của hai nhóm kể trên:
Cả hai loại rối loạn này đều có triệu chứng loạn thần (tiêu chuẩn A), nhưng khác nhau ở tiêu
chuẩn có liên quan đến nguyên nhân, trong Tâm thần phân liệt, không có mối liên hệ giữa
triệu chứng loạn thần với bệnh cơ thể (tiêu chuẩn E), trong loạn thần do bệnh cơ thể, triệu
chứng loạn thần là hậu quả trực tiếp của một bệnh cơ thể (tiêu chuẩn B).
Sau đây là một số nguyên nhân của loạn thần thực thể (xem ở bài loạn tâm thần thực thể).
Bảng 2: Nguyên nhân của loạn thần thực thể.
Nguyên nhân Tỷ lệ
Tai biến mạch máu não ?
Động kinh 7-12%
Chấn thương sọ não 7-20%
Parkinson 25%
Bệnh nội tiết ?
6
2.3.2. LOẠN THẦN DO SỬ DỤNG CHẤT.
Khi phân tích tiêu chuẩn chẩn đoán của Tâm thần phân liệt với loạn thần do sử dụng chất tác
động trên thần kinh
Bảng 3: Tiêu chuẩn chẩn đoán của Tâm thần phân liệt và loạn thần do sử dụng chất.
Tâm thần phân liệt Loạn thần do sử dụng chất.
A. Cơn loạn thần: có sự xuất hiện 2 (hoặc hơn)
trong số các triệu chứng sau đây,
(1). ý nghó hoang tưởng
(2). ảo giác
(3). ngôn ngữ vô tổ chức
(4). hành vi tác phong cực kỳ vô tổ chức.
(5). các triệu chứng âm tính,
B. Rối loạn hoạt động xã hội nghề nghiệp :
C. Thời gian : rối loạn tồn tại ít nhất là 6 tháng
D. Chẩn đoán phân biệt với rối loạn cảm xúc phân
liệt và rối loạn khí sắc: việc chẩn đoán phân biệt
với rối loạn cảm xúc phân liệt và rối loạn khí sắc
dựa vào các yếu tố sau:
E. Chẩn đoán phân biệt với loạn thần thực tổn hay
do sử dụng một chất: rối loạn này do các tác động
sinh lý trực tiếp của một chất (ví dụ : chất gây lạm
dụng, thuốc men) hoặc do một bệnh cơ thể.
F. ….
A. Các ảo giác hoặc các ý nghó
hoang tưởng chiếm vò trí hàng đầu.
Ghi chú : không tính đến các ảo giác
mà bệnh nhân nhận thức được rằng
chúng được gây ra bởi một chất.
B. Sau khi xem xét bệnh sử, khám cơ
thể hay thực hiện các khám nghiệm
bổ sung có bằng chứng về (1) hoặc
(2) :
(1). các triệu chứng của tiêu chuẩn A
đã xuất hiện trong thời gian ngộ độc
hay trong thời gian cai một chất, hoặc
trong vòng một tháng sau đó.
(2). việc sử dụng thuốc có liên quan
về mặt nguyên nhân với rối loạn
loạn thần.
C. Rối loạn này không được giải
thích rõ bởi một rối loạn loạn thần
không được gây ra bởi một chất.
D. Rối loạn này không xảy ra đơn
đơn độc trong tiến triển của sảng
Khi so sánh tiêu chuẩn chẩn đoán của hai nhóm kể trên:
Cả hai loại rối loạn này đều có triệu chứng loạn thần (tiêu chuẩn A), nhưng khác nhau ở tiêu
chuẩn có liên quan đến nguyên nhân; trong Tâm thần phân liệt, không có mối liên hệ giữa
triệu chứng loạn thần với bệnh cơ thể hoặc các chất (tiêu chuẩn E), trong loạn thần do sử
dụng chất tác động trên hệ thần kinh, triệu chứng loạn thần là hậu quả của chất tác động trên
hệ thần kinh, hoặc chỉ xảy ra trong giai đoạn cai nghiện và ngộ độc các chất gây nghiện.
Sau đây là một số nguyên nhân của loạn thần thực thể (xem ở bài loạn tâm thần thực thể).
- Các chất gây nghiện: dẫn chất thuốc phiện như meperidine [Demerol]), các thuốc êm dòu
thần kinh, thuốc ngủ.
- Các thuốc có tính chất cholinergic (như benztropine [Cogentin]); thuốc tim mạch (như
digoxin [Lanoxin], procainamide [Promine], methyldopa); điều trò ung thư (như
procarbazine); corticosteroid (như prednisone [Cordrol] và dexamethasone [Decadron]);
7
thuốc kháng Parkinson (như L-dopa và bromocriptine); kháng lao (như, isoniazid
[Laniazid])
2.3.3. PHÂN BIỆT VỚI NHÓM RỐI LOẠN KHÍ SẮC.
Khi phân tích tiêu chuẩn chẩn đoán của Tâm thần phân liệt với rối loạn khí sắc.
Bảng 4: Tiêu chuẩn chẩn đoán của Tâm thần phân liệt và rối loạn khí sắc.
Tâm thần phân liệt Rối loạn khí sắc
A. Cơn loạn thần: có sự xuất hiện 2 (hoặc hơn)
trong số các triệu chứng sau đây,
(1). ý nghó hoang tưởng
(2). ảo giác
(3). ngôn ngữ vô tổ chức
(4). hành vi tác phong cực kỳ vô tổ chức.
(5). các triệu chứng âm tính,
B. Rối loạn hoạt động xã hội nghề nghiệp :
C. Thời gian : rối loạn tồn tại ít nhất là 6 tháng
D. Chẩn đoán phân biệt với rối loạn cảm xúc
phân liệt và rối loạn khí sắc: việc chẩn đoán
phân biệt với rối loạn cảm xúc phân liệt và rối
loạn khí sắc dựa vào các yếu tố sau.
E. Chẩn đoán phân biệt với loạn thần thực tổn
hay do sử dụng một chất: rối loạn này do các
tác động sinh lý trực tiếp của một chất (ví dụ :
chất gây lạm dụng, thuốc men) hoặc do một
bệnh cơ thể.
F. ….
Trầm cảm chủ yếu, giai đoạn đơn độc
A. Có một giai đoạn trầm cảm chủ yếu.
B. Chẩn đoán loại trừ rối loạn phân biệt
cảm xúc, bệnh tâm thần phân liệt, rối
loạn dạng phân liệt, rối loạn hoang
tưởng hay rối loạn loạn thần không đặc
hiệu.
C. Tiền sử chưa từng có giai đoạn hưng
cảm, hỗn hợp hay hưng cảm nhẹ.
Trầm cảm chủ yếu, tái diễn
A. Có ít nhất 2 giai đoạn trầm cảm chủ
yếu.
B. Chẩn đoán loại trừ rối loạn phân biệt
cảm xúc, bệnh tâm thần phân liệt, rối
loạn dạng phân liệt, rối loạn hoang
tưởng hay rối loạn loạn thần không đặc
hiệu.
C. Tiền sử chưa từng có một giai đoạn
hưng cảm, một giai đoạn hỗn hợp hay
một giai đoạn hưng cảm nhẹ
Khi so sánh tiêu chuẩn chẩn đoán của hai nhóm kể trên:
Cả hai loại rối loạn này đều có triệu chứng loạn thần và trầm cảm (tiêu chuẩn A, C của Tâm
thần phân liệt), (tiêu chuẩn A của rối loạn trầm cảm); nhưng khác nhau ở tiêu chuẩn triệu
chứng có ưu thế, trong Tâm thần phân liệt, theo tiêu chuẩn D, nếu có rối loạn khí sắc, thời
gian của triệu chứng này phải ngắn hơn tổng thời gian của cơn loạn thần và giai đoạn di
chứng.
8
2.3.4. PHÂN BIỆT VỚI CÁC LOẠI BỆNH KHÁC TRONG NHÓM.
2.3.4.1. Rối loạn dạng phân liệt.
Khi phân tích tiêu chuẩn chẩn đoán của Tâm thần phân liệt với rối loạn dạng phân liệt.
Bảng 5: Tiêu chuẩn chẩn đoán của Tâm thần phân liệt và rối loạn dạng phân liệt.
Tâm thần phân liệt Rối loạn dạng phân liệt
A. Cơn loạn thần: có sự xuất hiện 2 (hoặc hơn) trong số các
triệu chứng sau đây,
(1). ý nghó hoang tưởng
(2). ảo giác
(3). ngôn ngữ vô tổ chức
(4). hành vi tác phong cực kỳ vô tổ chức.
(5). các triệu chứng âm tính,
B. Rối loạn hoạt động xã hội nghề nghiệp :
C. Thời gian : rối loạn tồn tại ít nhất là 6 tháng
D. Chẩn đoán phân biệt với rối loạn cảm xúc phân liệt và rối
loạn khí sắc:
E. Chẩn đoán phân biệt với loạn thần thực tổn hay do sử dụng
một chất:.
F. ….
A. Đáp ứng các tiêu
chuẩn A, D và E của tâm
thần phân liệt
B. Thời gian bò bệnh (bao
gồm các giai đoạn tiền
triệu, hoạt động và di
chứng) kéo dài ít nhất
một tháng nhưng ít hơn 6
tháng. (Khi buộc phải
chẩn đoán rối loạn này
trong hoàn cảnh không có
thời gian chờ đợi xem C.
bệnh nhân có lành bệnh
hay không, phải thêm vào
chữ “tạm thời”)
Khi so sánh tiêu chuẩn chẩn đoán của hai nhóm kể trên:
Cả hai loại rối loạn này đều thuộc nhóm loạn thần không thực thể (tiêu chuẩn E của Tâm
thần phân liệt, tiêu chuẩn A của rối loạn dang phân liệt), có triệu chứng loạn thần (tiêu
chuẩn A); và triệu chứng loạn thần có tính chất ưu thế (tiêu chuẩn D của Tâm thần phân
liệt và tiêu chuẩn A của rối loạn dạng phân liệt); nhưng khác nhau ở tiêu chuẩn liên quan
đến thời gian, trong Tâm thần phân liệt, theo tiêu chuẩn C, thời gian của giai đoạn tiền
triệu, loạn thần và di chứng phải trên 6 tháng, khác với tiêu chuẩn B của rối loạn dạng
phân liệt, thời gian này ngắn hơn 6 tháng.
2.3.3.2. Rối loạn hoang tưởng dai dẳng.
Khi phân tích tiêu chuẩn chẩn đoán của Tâm thần phân liệt với rối loạn hoang tưởng dai
dẳng.
Bảng 6: Tiêu chuẩn chẩn đoán của Tâm thần phân liệt và rối loạn hoang tưởng dai dẳng.
Tâm thần phân liệt Rối loạn hoang tưởng dai dẳng.
A. Cơn loạn thần: có sự xuất hiện 2 (hoặc
hơn) trong số các triệu chứng sau đây,
(1). ý nghó hoang tưởng
(2). ảo giác
A. Có các ý nghó hoang tưởng không kỳ dò
tồn tại tối thiểu 1 tháng.
B. Không bao giờ đáp ứng đủ tiêu chuẩn A
9
(3). ngôn ngữ vô tổ chức
(4). hành vi tác phong cực kỳ vô tổ chức.
(5). các triệu chứng âm tính,
B. Rối loạn hoạt động xã hội nghề nghiệp :
C. Thời gian : rối loạn tồn tại ít nhất là 6
tháng
D. Chẩn đoán phân biệt với rối loạn cảm
xúc phân liệt và rối loạn khí sắc:
E. Chẩn đoán phân biệt với loạn thần thực
tổn hay do sử dụng một chất:.
F. ….
của tâm thần phân liệt.
C. Ngoài sự tác động của các ý nghó hoang
tưởng hay của các phân nhóm của nó, không
ghi nhận thấy các biến đổi rõ rệt của hoạt
động cũng như không thấy sự lạ lùng hay kỳ
dò rõ rệt của hành vi tác phong.
D. Trong trường hợp các giai đoạn rối loạn
khí sắc và các ý nghó hoang tưởng xuất hiện
đồng thời, tổng thời gian xuất hiện của rối
loạn khí sắc phải ngắn hơn so với thời gian
xuất hiện của hoang tưởng.
E. Rối loạn này không phải do tác động sinh
lý trực tiếp của một chất
Khi so sánh tiêu chuẩn chẩn đoán của hai nhóm kể trên:
Cả hai loại rối loạn này đều thuộc nhóm loạn thần không thực thể (tiêu chuẩn E của Tâm
thần phân liệt, rối loạn hoang tưởng dai dẳng), có triệu chứng loạn thần (tiêu chuẩn A của
Tâm thần phân liệt, rối loạn hoang tưởng dai dẳng); và triệu chứng loạn thần có tính chất
ưu thế (tiêu chuẩn D của Tâm thần phân liệt và rối loạn hoang tưởng dai dẳng); nhưng
khác nhau ở tiêu chuẩn liên quan đến triệu chứng trong cơn loạn thần, trong Tâm thần
phân liệt, theo tiêu chuẩn A của tâm thần phân liệt, phải có ít nhất 2/5 triệu chứng loạn
thần, khác với tiêu chuẩn A của rối loạn hoang tưởng dai dẳng, chỉ có triệu chứng hoang
tưởng, triệu chứng này không mang tính kỳ quái.
2.3.3.3. Rối loạn loạn thần cấp và nhất thời.
Khi phân tích tiêu chuẩn chẩn đoán của Tâm thần phân liệt với loạn thần cấp và nhất thời
Bảng 7: Tiêu chuẩn chẩn đoán của Tâm thần phân liệt và loạn thần cấp và nhất thời.
Tâm thần phân liệt Loạn thần cấp và nhất thời
A. Cơn loạn thần: có sự xuất hiện 2 (hoặc hơn) trong số các
triệu chứng sau đây,
(1). ý nghó hoang tưởng
(2). ảo giác
(3). ngôn ngữ vô tổ chức
(4). hành vi tác phong cực kỳ vô tổ chức.
(5). các triệu chứng âm tính,
B. Rối loạn hoạt động xã hội nghề nghiệp :
C. Thời gian : rối loạn tồn tại ít nhất là 6 tháng
D. Chẩn đoán phân biệt với rối loạn cảm xúc phân liệt và rối
A. Trong giai đoạn bệnh, cơn
loạn thần (kéo dài tối thiểu một
ngày nhưng ngắn hơn một tháng)
kèm theo sự phục hồi hoàn toàn
các chức năng như trước khi bò
bệnh.
B. Rối loạn này không được giải
thích rõ bởi một rối loạn khí sắc
với các nét loạn thần, một rối
loạn cảm xúc phân liệt hoặc tâm
thần phân liệt và rối loạn này
cũng không do tác động sinh lý
10
loạn khí sắc:
E. Chẩn đoán phân biệt với loạn thần thực tổn hay do sử
dụng một chất:.
F. ….
trực tiếp của một chất (ví dụ :
chất gây lạm dụng, thuốc men)
hoặc của một bệnh nội khoa tổng
quát
Khi so sánh tiêu chuẩn chẩn đoán của hai nhóm kể trên:
Cả hai loại rối loạn này đều thuộc nhóm loạn thần không thực thể (tiêu chuẩn E của Tâm
thần phân liệt, tiêu chuẩn B của loạn thần cấp và nhất thời), có triệu chứng loạn thần (tiêu
chuẩn A của Tâm thần phân liệt, loạn thần cấp và nhất thời); và triệu chứng loạn thần có
tính chất ưu thế (tiêu chuẩn D của Tâm thần phân liệt và tiêu chuẩn B của loạn thần cấp
và nhất thời); nhưng khác nhau ở tiêu chuẩn thời gian của cơn loạn thần, trong Tâm thần
phân liệt, theo tiêu chuẩn A của tâm thần phân liệt, thời gian cơn loạn thần trên 1 tháng,
khác với tiêu chuẩn A của loạn thần cấp và nhất thời, thời gian cơn loạn thần trong khỏang
1 ngày- dưới 1 tháng.
2.3.3.4. Rối loạn phân liệt cảm xúc.
Khi phân tích tiêu chuẩn chẩn đoán của Tâm thần phân liệt với rối loạn phân liệt cảm xúc.
Bảng 8: Tiêu chuẩn chẩn đoán của Tâm thần phân liệt và rối loạn phân liệt cảm xúc.
Tâm thần phân liệt Rối loạn phân liệt cảm xúc.
A. Cơn loạn thần: có sự xuất hiện 2 (hoặc
hơn) trong số các triệu chứng sau đây,
(1). ý nghó hoang tưởng
(2). ảo giác
(3). ngôn ngữ vô tổ chức
(4). hành vi tác phong cực kỳ vô tổ chức.
(5). các triệu chứng âm tính,
B. Rối loạn hoạt động xã hội nghề nghiệp
:
C. Thời gian : rối loạn tồn tại ít nhất là 6
tháng
D. Chẩn đoán phân biệt với rối loạn cảm
xúc phân liệt và rối loạn khí sắc:
E. Chẩn đoán phân biệt với loạn thần thực
tổn hay do sử dụng một chất:.
F. ….
A. Một giai đoạn bệnh không bò gián đoạn có
đặc điểm bởi sự xuất hiện đồng thời hoặc một
giai đoạn trầm cảm chủ yếu, hoặc một giai
đoạn hưng cảm hoặc một giai đoạn hỗn hợp
xuất hiện với triệu chứng đáp ứng tiêu chuẩn
A của tâm thần phân liệt.
B. Trong cùng giai đoạn bệnh, có sự tồn tại
các ý nghó hoang tưởng hay ảo giác trong tối
thiểu 2 tuần nhưng không xuất hiện các triệu
chứng rối loạn khí sắc rõ rệt.
C. Các triệu chứng đáp ứng các tiêu chuẩn
chẩn đoán một giai đoạn rối loạn khí sắc phải
chiếm một thời gian đáng kể trong toàn bộ
các giai đoạn hoạt động và di chứng của
bệnh.
D. Rối loạn không phải do tác động sinh lý
trực tiếp của một chất
Khi so sánh tiêu chuẩn chẩn đoán của hai nhóm kể trên:
Cả hai loại rối loạn này đều thuộc nhóm loạn thần không thực thể (tiêu chuẩn E của Tâm
thần phân liệt, tiêu chuẩn D của rối loạn phân liệt cảm xúc), có triệu chứng loạn thần (tiêu
11
chuẩn A của Tâm thần phân liệt, loạn thần cấp và nhất thời); nhưng khác nhau ở tiêu
chuẩn triệu chứng, trong Tâm thần phân liệt, theo tiêu chuẩn D của tâm thần phân liệt,
triệu chứng loạn thần chiếm ưu thế, khác với tiêu chuẩn B của rối loạn phân liệt cảm xúc,
triệu chứng loạn thần và khí sắc có ưu thế như nhau.
2.4. TÓM TẮT.
- Khi so sánh tiêu chuẩn chẩn đoán của loạn thần do bệnh cơ thể, do sử dụng chất, rối loạn
khí sắc với nhóm loạn thần, triệu chứng loạn thần (A) có thể xuất hiện trong cả 4 nhóm kể
trên; tuy nhiên, chí có nhóm loạn thần do bệnh cơ thể bắt buộc phải có một bệnh cơ thể có
liên quan nhân quả đến triệu chứng loạn thần (tiêu chuẩn B), hoặc trong loạn thần do sử dụng
chất, phải có sử dụng chất tác động trên hệ thần kinh gây ra triệu chứng loạn thần (tiêu chuẩn
B), còn đối với nhóm loạn thần, rối loạn khí sắc, chẩn đoán xác đònh lại dựa vào triệu chứng
ưu thế.
Bảng 9: Chẩn đoán phân biệt rối loạn tâm thần do bệnh cơ thể, do sử dụng chất, loạn thần và rối
loạn khí sắc.
Loạn tâm thần thực thể
Bệnh cơ thể Sử dụng chất
Loạn thần RL khí sắc
Loạn thần do bệnh cơ thể + (B) +/- + (A) -
Loạn thần do sử dụng chất +/- + (B) + (A) -
Rối loạn khí sắc +/- (D) +/- (D) +/- + (A)
Loạn thần +/- (E) +/- (E) + (A) +/-
- Khi phân tích tiêu chuẩn chẩn đoán của các loại bệnh khác trong nhóm loạn thần, các rối
loạn này khác nhau ở triệu chứng và diễn tiến của bệnh, nếu trong Tâm thần phân liệt, cơn
loạn thần bao gồm hai tiêu chuẩn nhỏ, như triệu chứng ( A 1: phải có 2/5 triệu chứng) và thời
gian cơn (A 2: thời gian cơn trên 1 tháng), (tiêu chuẩn A), thời gian rối loạn tâm thần (tiêu
chuẩn C: thời gian là 6 tháng); trong rối loạn dạng phân liệt, cơn loạn thần đáp ứng đủ hai
tiêu chuẩn triệu chứng và thời gian cơn (tiêu chuẩn A), nhưng thới gian của rối loạn tâm thần
lại ngắn hơn 6 tháng; trong rối loạn hoang tưởng dai dẳng, trong cơn loạn thần, người bệnh chỉ
có triệu chứng hoang tưởng, không đáp ứng tiêu chuẩn A 1, nhưng có cơn loạn thần trên 1
tháng ( tiêu chuẩn A 2); trong loạn thần cấp và nhất thời, bệnh nhân cũng có cơn loạn thần và
triệu chứng cũng có 2/5 triệu chứng, đáp ứng tiêu chuẩn A 1, nhưng thời gian cơn loạn thần
dưới 1 tháng, không đáp ứng với tiêu chuẩn A 2.
Bảng 10: Chẩn đoán phân biệt của các rối loạn tâm thần trong nhóm loạn thần.
Cơn loạn thần
Triệu chứng Thời gian cơn
Thời gian RL
Tâm thần
TTPL + (A) + (A) + (C)
RL dạng phân liệt + (A) + (A) - (C)
RL hoang tưởng - (A) + (A) +/-
LT cấp và nhất thời + - (A) -
12
- Như vậy, trong chẩn đoán tâm thần phân liệt hoặc các rối loạn khác, chủ yếu dựa vào các
tiêu chuẩn liên quan đến bệnh cơ thể, sử dụng chất, liên quan đến triệu chứng (triệu chứng
loạn thần chiếm ưu thế), và diễn tiến, bao gồm cơn loạn thần (tiêu chuẩn A 1, A 2) và rối
loạn tâm thần (tiêu chuẩn C).
2.5. CÁC THỂ BỆNH CỦA TÂM THẦN PHÂN LIỆT.
Chẩn đoán thể bệnh của tâm thần phân liệt tùy theo giai đoạn bệnh và triệu chứng trong từng
giai đoạn.
Trong cơn loạn thần, thể bệnh dựa vào các triệu chứng của tiêu chuẩn A; trong giai đoạn di
chứng, thể bệnh lại dựa vào triệu chứng trong tiêu chuẩn C.
1. TÂM THẦN PHÂN LIỆT, THỂ HOANG TƯỞNG.
Theo tiêu chuẩn chẩn đoán của STCĐTKBTT lần IV
A. Sự bận tâm bởi một hay nhiều ý nghóa hoang tưởng hoặc bởi các ảo thính thường xuyên.
B. Không có một triệu chứng nào sau đây là nổi bật : ngôn ngữ vô tổ chức, hành vi vô tổ
chức hoặc hành vi căng trương lực, cảm xúc phẳng lặng hay không phù hợp
Theo tiêu chuẩn chẩn đoán trên, mặc dù người bệnh có thể có đủ các triệu chứng của tiêu
chuẩn A, nhưng triệu chứng hoang tưởng và ảo giác có tính chất nổi bật.
Theo BPLQTBT lần 10, các triệu chứng loạn thần thường gặp là:
Các hoang tưởng bò hại, liên hệ, dòng dõi cao sang, sứ mệnh đặc biệt, cơ thể biến hình hay
ghen tuông.
Các ảo thanh đe dọa, mệnh lệnh hoặc các ảo thanh thô sơ.
Các ảo giác khứu giác hay vò giác hay ảo giác về tình dục hoặc các cảm giác cơ thể khác.
Ảo giác thò giác cũng có thể xuất hiện nhưng hiếm khi chiếm ưu thế.
2. TÂM THẦN PHÂN LIỆT THỂ THANH XUÂN.
Theo tiêu chuẩn chẩn đoán của STCĐTKBTT lần IV
A. Tất cả các triệu chứng sau đây là nổi bật :
(1). ngôn ngữ vô tổ chức
(2). hành vi vô tổ chức
(3). cảm xúc phẳng lặng hay không phù hợp
B. Không đáp ứng các tiêu chuẩn của thể căng trương lực
Theo tiêu chuẩn chẩn đoán trên, chỉ có triệu chứng ngôn ngữ vô tổ chức là nổi bật, thể bệnh
thanh xuân mới được chẩn đoán; nếu có thêm triệu chứng căng trương lực, phải chẩn đoán
thể bệnh căng trương lực.
Trong các triệu chứng liên quan đến vô tổ chức, STCĐTKBTT lần IV đề cập đến các triệu
chứng ngôn ngữ, hành vi và cảm xúc không phù hợp.
3. TÂM THẦN PHÂN LIỆT THỂ CĂNG TRƯƠNG LỰC.
Theo tiêu chuẩn chẩn đoán của STCĐTKBTT lần IV,
Một thể bệnh tâm thần phân liệt với triệu chứng căng trương lực nổi bật, có ít nhất 2 triệu
chứng sau đây :
(1). Sự bất động vận động biểu hiện bởi tình trạng giữ nguyên dáng (bao gồm uốn sáp tạo
hình, tình trạng sững sờ căng trương lực).
(2). Hoạt động vận động quá mức (rõ ràng không mục đích và không bò ảnh hưởng bởi các
kích thích bên ngoài).
13
(3). Sự phủ đònh cực độ (sự đề kháng không động cơ rõ rệt chống lại các mệnh lệnh hoặc sự
duy trì một tư thế cứng ngắt đề kháng lại các ý đònh muốn thay đổi tư thể) hoặc chứng không
nói.
(4). Các đặc điểm của vận động tự ý biểu hiện bởi các tư thế căng trương lực (sự duy trì tự ý
một tư thế không thích hợp hoặc kỳ dò), những động tác đònh hình, sự kiểu cách rõ rệt, hay
nét mặt nhăn nhó rõ rệt.
(5). Nhại lời hay nhại động tác.
Theo tiêu chuẩn chẩn đoán trên, triệu chứng căng trương lực là triệu chứng nổi trội. Trong
các triệu chứng căng trương lực, STCĐTKBTT lần IV đề cập đến các triệu chứng sững sờ
căng trương lực, kích động căng trượng lực, sững sờ phủ đònh
4. TÂM THẦN PHÂN LIỆT, THỂ KHÔNG BIỆT ĐỊNH.
Một thể tâm thần phân liệt bao gồm các triệu chứng đáp ứng các tiêu chuẩn A nhưng không
đáp ứng các tiêu chuẩn của thể hoang tưởng, thể vô tổ chức hay thể căng trương lực.
5. TÂM THẦN PHÂN LIỆT, THỂ ĐƠN THUẦN.
Biểu hiện lâm sàng thường gặp là tác phong kỳ dò, hoang tưởng và ảo giác không rõ ràng;
diễn tiến thường là mạn tính, phát triển âm thầm nhưng ảnh hưởng nặng nề trên sinh hoạt
của người bệnh. Với sự tiếp xúc xã hội ngày càng nghèo nàn, đối tượng trở thành sống lang
thang, thu mình lại, và sống không mục đích.
6. TÂM THẦN PHÂN LIỆT, THỂ TRẦM CẢM SAU PHÂN LIỆT.
Theo tiêu chuẩn chẩn đoán của BPLQTBT lần 10.
(
a). Bệnh nhân bò bênh tâm thần phân liệt, đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán tâm thần phân
liệt trong vòng 12 tháng qua.
(b). Một số triệu chứng loạn thần còn tồn tại, nhưng không đủ để chẩn đoán tâm thần phân
liệt.
(c). Các triệu chứng trầm cảm nổi bật, đáp ứng tiêu chuẩn của một giai đoạn trầm cảm
(F32-) và tồn tại ít nhất hai tuần.
(d). Nếu bệnh nhân không còn triệu chứng loạn thần nào nữa, thì phải chẩn đoán là một
giai đoạn trầm cảm (F32).
Theo tiêu chuẩn chẩn đoán ở trên, người bệnh đã có cơn loạn thần đáp ứng tiêu chuẩn A, xảy
ra trong vòng 12 tháng trước, hiện nay vẫn còn một số triệu chứng loạn thần, nhưng không đủ
để chẩn đoán cơn loạn thần, và hiện nay có cơn trầm cảm đáp ứng tiêu chuẩn chẩn đoán trầm
cảm chủ yếu.
7. TÂM THẦN PHÂN LIỆT, THỂ DI CHỨNG.
Theo tiêu chuẩn chẩn đoán của STCĐTKBTT lần IV
A. Không có các triệu chứng như : ý nghó hoang tưởng rõ rệt, ảo giác, ngôn ngữ vô tổ chức
và hành vi vô tổ chức nặng nề hoặc căng trương lực.
B. Sự tồn tại dai dẳng của các yếu tố bệnh lý như là sự hiện diện của các triệu chứng âm
tính hoặc 2 hay nhiều hơn 2 triệu chứng có trong tiêu chuẩn A của bệnh tâm thần phân liệt
nhưng ở dạng nhẹ hơn (ví dụ các tín ngưỡng kỳ dò, các trò giác khác thường)
Theo tiêu chuẩn chẩn đoán của BPLQTBT lần 10.
(a). Những triệu chứng “âm tính” nổi bật lên, như : sự chậm chạp tâm lý, cảm xúc cùn mòn,
tính bò động, hoạt động kém, ngôn ngữ nghèo nàn về nội dung, nghèo nàn trong giao tiếp
14
không dùng lời như biểu hiện nét mặt, tiếp xúc bằng mắt, âm điệu lời nói và tư thế, kém
chăm sóc cá nhân và kém hoạt động xã hội.
(b). Trong tiền sử, có ít nhất một giai đoạn loạn thần rõ rệt, đáp ứng các tiêu chuẩn của
tâm thần phân liệt.
(c). Chẩn đoán loại trừ trạng thái mất trí hay bệnh lý thực tổn, trầm cảm.
Theo tiêu chuẩn chẩn đoán của BPLQTBT lần 10, bệnh nhân đã có một cơn loạn thần đáp
ứng tiêu chuẩn A Của Tâm thần phân liệt; hiện nay, các triệu chứng loạn thần không đủ để
chẩn đoán cơn loạn thần, và triệu chứng âm tính nổi bật.
4. BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT VÀ BỆNH CƠ THỂ KHÁC.
Trên lâm sàng, các bệnh cơ thể cũng thường gặp trong bệnh tâm thần phân liệt; người bệnh có
những rối loạn trong ăn uống nên dễ bò béo phì, đái tháo đường, tim mạch, v.v…; trong khi điều trò
với các thuốc chống loạn thần, một số các thuốc cũng có thể gây ra tình trạng đái tháo đường, tim
mạch, v.v…; một số bệnh cơ thể cũng có thể gây ra các triệu chứng loạn thần.
Vì vậy, các bệnh cơ thể cần được quan tâm và đánh giá trước khi điều trò.
4.1. BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT VÀ CÁC BỆNH CƠ THỂ KHÁC.
4.1.1. BÉO PHÌ:
Bệnh nhân Tâm thần phân liệt dễ bò béo phì, do người bệnh có rối loạn trong hành vi ăn uống
và thiếu vận động,
4.1.2. ĐÁI THÁO ĐƯỜNG:
Tại Hoa kỳ và Nhật bản, tỷ lệ đái tháo đường ở người bệnh tâm thần phân liệt cao hơn trong
cộng đồng; trong một nghiên cứu trên 95 bệnh nhân Tâm thần phân liệt tuổi từ 45 đến 74, tỷ
lệ bò đái tháo đường là 15,8% (95%, CI:12,1-19,5) cao hơn trong cộng đồng; kết quả trên cho
thấy, tình trạng đái tháo đường ở người bệnh Tâm thần phân liệt có tính chất toàn cầu, và
thường là loại II,
4.1.3. BỆNH TIM MẠCH:
Người bệnh Tâm thần phân liệt có các nguy cơ của bệnh tim mạch như: béo phì, đái tháo
đường, mở máu; vì vậy, người bệnh có thể chết vì bệnh tim mạch.
4.1.4. BỆNH NGHẼN PHỔI MẠN TÍNH:
Người bệnh dễ bò nghẽn phổi mạn tính vì họ thường hút thuốc lá.
4.2. THUỐC CHỐNG LOẠN THẦN VÀ BỆNH CƠ THỂ.
Một số bệnh cơ thể hạn chế việc sử dụng các thuốc hướng thần cần được chẩn đoán để tránh
những biến chứng do các thuốc hướng thần gây ra:
4.2.1. BỆNH PARKINSON:
- Thuốc chống loạn thần cũ: khoảng 30% bệnh nhân điều trò bằng thuốc chống loạn thần
cũ bò hội chứng Parkinson.
- Clozapine: mặc dầu được dùng để điều trò triệu chứng loạn thần ở người bệnh Parkinson,
tuy nhiên với liều 100 đến 250 mg/ ngày, có thể gây ra triệu chứng Parkinson.
- Risperidone: theo báo cáo của Janssen Pharmaceutica, trên 1.156 bệnh nhân tâm thần
phân liệt được điều trò bằng rispéridone, 0,4% người bệnh bò rối loạn vận động muộn
- Olanzapine: một nghiên cứu so sánh tác dụng phụ của Olanzapine với các thuốc chống
loạn thần cũ, tỷ lệ rối loạn vận động muộn của Olanzapine chỉ bằng 10% của thuốc chống
loạn thần cũ.
15
Kết luận: trong các thuốc chống loạn thần, thuốc chống loạn thần cũ dễ gây ra Parkinson
nhất, sau đó đến các thuốc chống loạn thần mới như Rispéridone và Olanzapine, cuối cùng là
Clozapine.
4.2.2. ĐỘNG KINH:
- Thuốc chống loạn thần cũ: làm giảm ngưỡng kích thích của động kinh, có thể gây ra động
kinh.
- Clozapine: 5-10% bệnh nhân được điều trò bằng Clozapine có thể bò động kinh, tác dụng
phụ này có liên quan đến liều lượng, với liều trên 600mg/ngày, có thể gây ra động kinh.
Kết luận: các thuốc kể trên có thể gây ra động kinh, nhưng Clozapine dễ gây ra động kinh
nhất, sau đó đến các thuốc chống loạn thần cũ.
4.2.3. ĐÁI THÁO ĐƯỜNG.
- Clozapine: Trong một nghiên cứu của David Henderson trên 81 trong 5 năm, tỷ lệ bệnh
nhân bò đái tháo đường là 36.6%. Trong một báo cáo khác của Donna Wirshing trên 590
bệnh nhân Tâm thần phân liệt, kết quả nghiên cứu cho thấy bệnh nhân sử dụng clozapine
và olanzapine dễ bò tiểu đường.
- Olanzapine: trong một nghiên cứu hồi cứu trên 237 bệnh nhân Tâm thần phân liệt được
điều trò bằng Olanzapine bò đái tháo đường, có 80 bệnh nhân bò tình trạng ketosis, và 15
bệnh nhân bò tử vong; sau khi ngưng thuốc, vẫn còn 22% bệnh nhân bò đái tháo đường. Tại
Nhật bản, sau hai trường hợp tâm thần phân liệt bò đái tháo đường bò chết do sử dụng
Olanzapine; tại nước này, đái tháo đường là một chống chỉ đònh của việc sử dụng thuốc
Olanzapine.
Kết luận: Cả hai loại thuốc kể trên đều gây ra đái tháo đường.
4.2.4. BỆNH TIM MẠCH:
- Chống loạn thần cũ:
Những thuốc có hoạt lực thấp như chlorpromazine và thioridazine có thể gây những bất
thường trên điện tâm đồ như sóng QT và khoảng cách PR dài ra… gây ra loạn nhòp thất.
Theo FDA, các thuốc này chỉ dùng trong những trường hợp người bệnh kháng với các
thuốc chống loạn thần khác.
Các thuốc có hoạt lực thấp có thể gây hạ huyết áp tư thế, người bệnh lớn tuổi có thể bò ngã
và gãy xương đùi.
- Clozapine: có thể gây ra hạ huyết áp tư thế, viêm cơ tim; tỷ lệ tử vong của biến chứng
này có thể lên đến 40%.
4.2.5. BỆNH VỀ MÁU: bệnh mất bạch cầu hạt đa nhân.
- Chống loạn thần cũ: có thể làm giảm hoạt động tạo máu như mất bạch cầu hạt; tuy nhiên
biến chứng này thường rất hiếm, tỷ lệ khoảng 1/10.000 trường hợp
- Clozapine: cũng gây ra mất bạch cầu hạt đa nhân (agranulocytosis), mặc dầu tỷ lệ này
khá thấp; khoảng 0.73% trong năm đầu, và 0.07% trong năm thứ hai; gần đây nhất, theo số
liệu thống kê, mỗi năm chỉ có khoảng 0,038% bò rối loạn này.
4. DIỄN TIẾN.
Theo STCĐTKBTT lần IV, diễn tiến của bệnh có thể chia làm nhiều hình thức khác nhau:
Tiến triển từng cơn không có các triệu chứng di chứng giữa các giai đoạn (tiến triển từng cơn) :
Phân loại này được áp dụng khi bệnh triển thành từng cơn, trong mỗi cơn tiêu chuẩn A của bệnh
16
tâm thần phân liệt đều được thỏa mãn và không có các triệu chứng di chứng rõ rệt trên lâm sàng
giữa các giai đoạn.
Tiến triển từng cơn với các triệu chứng di chứng tồn tại giữa các giai đoạn ( tiến triển liên tục từng
cơn: Phân loại này được áp dụng khi bệnh tiến triển thành từng cơn, trong mỗi cơn tiêu chuẩn A
của bệnh tâm thần phân liệt đều được thỏa mãn và có các triệu chứng di chứng rõ rệt trên lâm sàng
giữa các giai đoạn. Có triệu chứng âm tính nổi bật hiện diện trong suốt các giai đoạn di chứng này.
Tiến triển liên tục. Phân loại này được áp dụng khi các triệu chứng đặc trưng của tiêu chuẩn A được
thỏa mãn (hoặc gần như thỏa mãn) xuất hiện trong diễn tiến bệnh. Có triệu chứng âm tính nổi bật
có thể cũng hiện diện.
Một cơn bệnh duy nhất và đang hồi phục một phần. Phân loại này được áp dụng khi đã có một cơn
bệnh duy nhất, trong cơn tiêu chuẩn A của bệnh tâm thần phân liệt đều được thỏa mãn và hiện
cũng đang tồn tại các triệu chứng di chứng có ý nghóa lâm sàng, có thể bao gồm các triệu chứng âm
tính nổi bật.
Một cơn bệnh duy nhất và đang hồi phục hoàn toàn: Phân loại này được áp dụng khi đã có một cơn
bệnh duy nhất, trong cơn này tiêu chuẩn A của bệnh tâm thần phân liệt được thỏa mãn và hiện
không có triệu chứng di chứng nào có ý nghóa lâm sàng.
Tiến triển khác hoặc tiến triển không đặc hiệu. Phân loại này được áp dụng khi xuất hiện một tiến
triển khác hoặc một tiến triển không đặc hiệu.
Theo số liệu thống kê của Viện sức khỏe tâm thần Hoa kỳ, sau khi điều trò với thuốc chống loạn
thần cũõ, cũng có 80% bệnh nhân không làm việc được, số bệnh nhân này có diễn tiến tiến triển
liên tục từng cơn và 10% mất khả năng lao động vónh viễn, số bệnh nhân này có diễn tiến liên tục;
số liệu trên cho thấy, phần lớn bệnh nhân có diễn tiến liên tục từng cơn.
5. BỆNH NGUYÊN- BỆNH SINH.
5.1. DI TRUYỀN.
5.1.1. TRONG GIA ĐÌNH.
Kết quả nghiên cứu trên những người có liên hệ cấp độ I với người bệnh Tâm thần phân liệt
cho thấy loại rối loạn này có tính chất gia đình.
Bảng 11: Di truyền của Tâm thần phân liệt.
TTPL Chứng
Tác giả SN TTPL Tỷ lệ SN TTPL
Tỷ lệ
P
r ± SD
Tsuang, 1980
a
362
20 5.5 475
3 0.6 0.00002 0.36 ± 0.04
Baron, 1985 329
19 5.8 337
2 0.6 0.0001 0.37 ± 0.04
Kendler, 1985
a
703
26 3.7 931
2 0.2 8 × 10
-8
0.38 ± 0.03
Frangos, 1985 478
26 5.4 536
6 1.1 0.0001 0.28 ± 0.04
Coryell, 1988 72 1 1.4 160
0
b
0 NS 0.23 ± 0.12
Gershon, 1988 97 3 3.1 349
2 0.6 0.038 0.25 ± 0.09
Kendler, 1992 276
18 6.5 428
2 0.5 4E-06 0.41 ± 0.04
Maier, 1993
c
435
17 3.9 320
1 0.3 0.001 0.36 ± 0.04
17
Taylor, 1993 335
9 2.7 264
0
b
0 3E-06 0.33 ± 0.04
Parnas, 1993
c,d
192
31 16.2 101
2 1.9 0.0001 0.41 ± 0.04
Erlenmeyer-
Kimling, 1995
c,d
54 6 11.1 93 0
b
0 0.002 0.53 ± 0.08
Năm 1993, trong một nghiên cứu của Taylor, trên 335 người có mối liên hệ cấp độ I với 264
người của nhóm chứng, tỷ lệ Tâm thần phân liệt ở người có liên hệ ở cấp độ I là 2,7% cao
hơn tỷ lệ 0% ở nhóm chứng. Trong một nghiên cứu khác của Parnas, trên 192 người có mối
liên hệ ở cấp độ I với người bệnh Tâm thần phân liệt và 101 người của nhóm chứng, tỷ lệ
Tâm thần phân liệt ở nhóm có liên hệ ở cấp độ I là 16,2% cao hơn tỷ lệ 1,9% ở nhóm chứng
(P:0,0001).
Kết quả các công trình nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ Tâm thần phân liệt ở người có liên hệ ở cấp
độ I thay đỗi trong khoảng 1.5%- 16% cao hơn tỷ lệ ở nhóm chứng là 0- 1,5%. Kết quả này
cho thấy Tâm thần phân liệt mang tính chất gia đình.
5.1.2. CẶP SONG SINH.
Nhiều nghiên cứu về các cặp song sinh cho thấy Tâm thần phân liệt có tính chất di truyền.
Bảng 12: Tỷ lệ Tâm thần phân liệt trong những cặp song sinh.
Cùng trứng Khác trứng
Tác giả Quốc gia Năm Tỷ lệ % Tỷ lệ % R ± SD
Luxenburger Germany 1928 14/22 64 0/13 0
b
Rosanoff et al.
USA
1934
24/41
50/66
61
76
7/53
14/60
13
23
0.84 ± 0.26
0.63 ± 0.26
Essen-Mưller Sweden 1941 7/11 64 4/27 15 0.87 ± 0.36
Kallmann USA 1946 191/245 78 59/318 19 0.90 ± 0.13
Slater England 1953 28/41 68 11/61 18 0.73 ± 0.21
Inouye Japan 1963 33/55 60 2/11 18 0.66 ± 0.35
Kringlen Norway 1967 31/69 45 14/96 15 0.61 ± 0.20
Fischer Denmark 1973 14/23 61 12/43 28 0.41 ± 0.29
Gottesman, Shields England 1972 15/26 58 4/34 12 0.86 ± 0.32
Tienari Finland 1975 7/21 33 1/42 14 0.53 ± 0.33
Kendler, Robinette USA 1983 60/194 31 18/277 6 0.71 ± 0.04
c
Onstad et al. Norway 1991 15/31 48 1/28 4 0.87 ± 0.08
c
Cannon et al. Finland 1998 40/87 46 18/195 9 0.83 ± 0.09
Năm 1946, Kallman có báo cáo một công trình nghiên cứu trên 245 cặp song sinh cùng trứng
và 318 cặp khác trứng; trong 245 cặp cùng trứng, 191 người còn lại bò Tâm thần phân liệt, tỷ
lệ 78%; trong 318 cặp khác trứng, chỉ có 59 người còn lại bò Tâm thần phân liệt, tỷ lệ 19%.
18
Trong một nghiên cứu khác của Kendler, trên 194 cặp song sinh cùng trứng và 277 cặp song
sinh khác trứng; trong 194 cặp cùng trứng, có 60 người còn lại bò Tâm thần phân liệt, tỷ lệ
31%; đối với 277 cặp song sinh khác trứng, chỉ có 18 người bò Tâm thần phân liệt, tỷ lệ 6%.
Kết quả các công trình nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ Tâm thần phân liệt ở các cặp song sinh
cùng trứng thay đổi trong khoảng 31- 78% cao hơn tỷ lệ ở các cặp song sinh khác trứng là 4-
28%. Kết quả này cho thấy Tâm thần phân liệt có tính chất di truyền.
5.1.3. BẢN ĐỒ GEN.
Khi nghiên cứu bản đồ gene ở những gia đình có nhiều người bệnh tâm thần phân liệt, người
ta nhận thấy có 9 gene liên quan đến tâm thần phân liệt, các gene này là 1q, 5q, 6p, 6q, 8p,
10p, 13q, 15q, and 22q.
5.1.4. NHẬN XÉT:
Như vậy, có một số trường hợp tâm thần phân liệt mang tính chất di truyền; tuy nhiên khi
phân tích các số liệu nói trên, tỷ lệ Tâm thần phân liệt ở người có liên hệ ở cấp độ I, cũng
như tỷ lệ Tâm thần phân liệt trên những cặp song sinh cùng và khác trứng, di truyền không
theo đònh luật của Mendel (di truyền đơn gen: single major locus), có thểø theo di truyền đa
gen (multiple interacting loci); kết quả này phù hợp với bản đồ gen.
5.2. SINH HỌC.
5.2.1. CHẤT DẪN TRUYỀN THẦN KINH.
5.2.1.1. Hệ thống Dopamine.
Các thử nghiệm lâm sàng của các thuốc chống loạn thần cũ và các phương pháp sinh hóa
não cho thấy vai trò của hệ Dopamine.
Các nghiên cứu so sánh hiệu quả điều trò của thuốc chống loạn thần cũ với các giả dược
trên các triệu chứng dương tính, được đánh giá bằng các thang BPRS, PANSS… cho thấy
thuốc chống loạn thần cũõ các loại có thể điều trò được triệu chứng dương tính, các thuốc
này ức chế thụ thể dopamine hậu tiếp hơp, làm giảm hoạt động của hệ thống Dopamine; vì
vậy, theo một số tác giả, triệu chứng dương tính có liên quan đến gia tăng hoạt động của
hệ thống Dopamine.
Trong các thử nghiệm trên chuột, Arvid Carlsson nhận thấy trên những con chuột uống
thuốc chống loạn thần cũ như Haloperidol và Chlorpromazine, hoạt động biến dưỡng của
hệ Dopamine bò rối loạn. Trong một nghiên cứu của Solomon Snyder ở Johns Hopkins
University và Philip Seeman ở đại học Toronto vào giữa những năm 1970, dùng phương
pháp kết nối để theo dõi hoạt động của hệ Dopamine ở người bệnh TTPL khi được điều trò
với thuốc chống loãn thần cũõ, kết quả cho thấy, hiệu quả điều trò của các thuốc trên triệu
chứng loạn thần có liên quan đến độ kết nối với thụ thể D
2
. Một số nghiên cứu khác cho
thấy, thuốc chỉ có hiệu quả khi kết nối với 80% thụ thể D
2
trong hệ dopamine
mesolimbique. Khi so sánh hoạt động của Dopamine, bằng cách dùng chất đồng vò phóng
xạ [
11
C]N-methylspiperone và [
11
C]raclopride trên người bệnh TTPL và người bình
thường, kết quả cho thấy, mật độ của thụ thể Dopamine D
2
hậu tiếp hợp ở người bệnh Tâm
thần phân liệt cao hơn ở người bình thường, kết quả còn cho thấy khả năng nối kết
(binding capacity: B
max) của
thụ thể Dopamine D
2
hậu tiếp hợp ở người bệnh tâm thần phân
liệt cao hơn ở người bình thường.
Khi nghiên cứu giải phẫu thần kinh của hệ thống dẫn truyền thần kinh Dopamine, các tác
giả nhận thấy hệ thống này có 3 thành phần.
19
1. Nigrostriatal: hệ thống này liên quan đến rối loạn vận động như trong bệnh
Parkinson, rối loạn ngoại tháp trong các thuốc chống loãn thần cũ.
2. Mesocorticolimbic: hệ thống này cũng gồm có hai hệ thống mesolimbic và
mesocortical.
- Hệ thống meso limbic có liên quan đến triệu chứng dương tính của TTPL
như hoang tưởng, ảo giác.
- Hệ thống mesocortical có liên quan đến triệu chứng âm tính, như cảm xúc
thờ ơ, tư duy nghèo nàn.
3. Tuberohypophyseal: điều hòa sự tiết prolactin, có liên quan đến tác dụng
tiết sữa của thuốc chống loạn thần cũ.
5.2.1.2. Hệ thống Serotonine.
Các thử nghiệm lâm sàng so sánh hiệu quả điều trò của các thuốc chống loạn thần mới với
thuốc chống loạn thần cũ trên những trường hợp kháng thuốc, triệu chứng âm tính; kết quả
cho thấy các thuốc chống loạn thần mới có hiệu quả hơn hẳn thuốc chống loạn thần c
trong điều trò triệu chứng dương và âm tính, TTPL kháng thuốc, và trên sinh hoạt của
người bệnh.
Trong một nghiên cứu mù đôi, so sánh hiệu quả điều trò của Olanzapine và Haloperidol
trên 1.966 bệnh nhân TTPL, đánh giá bằng thang BPRS, hiệu quả điều trò của Olanzapine
cao hơn của Haloperidol (P<0,02); trong đó các triệu chứng dương tính (P<0.03), các triệu
chứng âm tính (P<0,003); trong một thử nghiệm lâm sàng, so sánh hiệu quả điều trò của
Clozapine và Chlorpromazine trên 248 người bệnh kháng thuốc, trong 6 tuần lễ, tỷ lệ
thuyên giảm của Clozapine là 30% cao hơn tỷ lệ 4% của chlorpromazine, đến tháng thứ
sáu, tỷ lệ thuyên giảm của Clozapine là 60%.
5.2.1.3. Hệ thống GABA.
Giả thuyết này đề cập đến khả năng ức chế của chất dẫn truyền thần kinh Ỵ³-aminobutyric
acid (GABA), dựa trên hai nhận xét:
Trong một số bệnh nhân Tâm thần phân liệt, hình ảnh não cho thấy thùy hải mã bò thoái
hóa, tế bào của thùy này thøng tiết GABA; GABA được coi như là có khả năng ức chế
hoạt động của hệ Dopamine, và sự tiêu hủy của nhóm tế bào này làm tăng họat động của
hệ Dopamine, gây ra các triệu chứng loạn thần.
Các công trình thử nghiệm cho thấy, phối hợp giữa thuốc chống loạn thần và thuốc điều
hóa khí sắc có hiệu quả hơn phối hợp giữa thuốc chống loạn thần và giả dược, thuốc điều
hòa khí sắc tác dụng trên hệ thống GABA.
6. ĐIỀU TRỊ.
6.1. CƠN LOẠN THẦN.
6.1.1. HÓA DƯC:
Lựa chọn thuốc hướng thần tùy thuộc vào tình trạng bệnh, tình trạng sức khỏe, và sinh hoạt
của người bệnh.
20
6.1.1.1. Tình trạng bệnh.
A. Cơn loạn thần đầu tiên.
- Haloperidol: trong một nghiên cứu so sánh hiệu quả điều trò của Haloperidol với
Rispéridone, tỷ lệ thuyên giảm của cơn loạn thần đầu tiên là 56%.
- Risperidone: trong nghiên cứu so sánh hiệu quả điều trò của risperidol với
haloperidol trên 183 bệnh nhân Tâm thần phân liệt bò cơn loạn thần đầu tiên, kết quả
cho thấy tỷ lệ thuyên giảm của Rispéridol là 63%.
- Olanzapine: kết quả của nghiên cứu so sánh hiệu quả điều trò của Olanzapine đối
với các cơn loạn thần, cho thấy tỷ lệ thuyên giảm ở cơn loạn thần đầu tiên là 65%
cao hơn tỷ lệ 40%ở các cơn loạn thần sau.
- Trong các nghiên cứu so sánh hiệu quả điều trò của Rispéridone và Halopéridol,kết
quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ thuyên giảm của hai loại thuốc này tương đương nhau;
nhưng trong nghiên cứu so sánh hiệu quả điều trò của Olanzapine và Halopéridol, tỷ
lệ thuyên giảm của Olanzapine cao hơn của Halopéridol.
Kết luận: đối với cơn loạn thần đầu tiên, các thuốc Halopéridol, Rispéridone,
Olanzapine đều có hiệu quả; tuy nhiên, khi so sánh các thuốc kể trên, thuốc Olanzapine
có hiệu quả hơn Halopéridol và rispéridol.
B. Kháng thuốc.
- Chlorpromazine: trong một nghiên cứu so sánh hiệu quả điều trò của
Chlorpromazine và Clozapine trên bệnh nhân Tâm thần phân liệt kháng thuốc, tỷ lệ
thuyên giảm của thuốc Chlorpromazine là 4%.
- Halopéridol: trong nghiên cứu so sánh hiệu quả điều trò của Halopéridol và
Rispéridol trên bệnh nhân Tâm thần phân liệt kháng thuốc, trong 4 tuần, tỷ lệ thuyên
giảm của Halopéridol là 10%.
- Clozapine: theo một báo cáo của John Kane trong một nghiên cứu đa trung tâm trên
bệnh nhân Tâm thần phân liệt kháng thuốc, khoảng 35% bệnh nhân kháng thuốc
thuyên giảm sau 6 tuần lễ điều trò; sau 5- 6 tháng điều trò, tỷ lệ này là 60%. (Một
nghiên cứu khác so sánh hiệu quả điều trò của)
- Rispéridone: trong một nghiên cứu tại Hoa kỳ, so sánh hiệu quả điều trò của
Rispéridol và halopéridol, trong 4 tuần; tỷ lệ thuyên giảm Risperidol là 25%,
- Trong các nghiên cứu so sánh hiệu quả điều trò của Clozapine với haloperidol trên
bệnh nhân Tâm thần phân kháng thuốc, kết quả cho thấy Clozapine hiệu quả hơn
Haloperidol. Trong một nghiên cứu do FDA và nhà bào chế thuốc so sánh hiệu quả
điều trò của Clozapine với chlorpromazine phối hợp với benztropine (Cogentin) trên
268 bệnh nhân kháng thuốc, trong 6 tuần, tỷ lệ thuyên giảm của Clozapine là 30%
cao hơn tỷ lệ 4% của nhóm điều trò bằng Chlorpromazine, và sau 6 tháng, tỷ lệ
thuyên giảm của nhóm Clozapine là 60%
Trong một nghiên cứu so sánh hiệu quả điều trò của Rispéridone và Halopéridol, trên
bệnh nhân Tâm thần phân liệt kháng thuốc; tỷ lệ thuyên giảm của Rispéridone là
25% cao hơn tỷ lệ 10% của haloperidol ( P = .02). Trong một nghiên cứu đa trung
tâm tại Bỉ, so sánh hiệu quả điều trò của risperidone với haloperidol trên 44 bệnh
nhân kháng thuốc, kết quả nghiên cứu cho thấy, hiệu quả điều trò của risperidol cao
hơn của haloperidol.
21
Một nghiên cứu của Alan Breier so sánh hiệu quả điều trò của Olanzapine với
haloperidol trên bệnh nhân tâm thần phân liệt kháng thuốc, thuốc olanazapine có
hiệu quả điều trò cao hơn của thuốc Haloperidol.
- Một nghiên cứu tại Châu u, so sánh hiệu quả điều trò của Clozapine và
risperidone trên bệnh nhân Tâm thần phân liệt kháng thuốc, hiệu quả của hai thuốc
tương tự nhau, một nghiên cứu khác so sánh hiệu quả điều trò của Risperidone với
Clozapine trong 8 tuần lễ cũng cho kết quả tương tự ; một nghiên cứu khác cho thấy
tỷ lệ thuyên giảm của bệnh nhân Tâm thần phân liệt kháng thuốc của nhóm điều trò
bằng risperidone là 60% tương đương với tỷ lệ 56% ở nhóm điều trò bằng Clozapine.
- Olanzapine: trong một nghiên cứu mù đôi so sánh hiệu quả điều trò của thuốc
Olanzapine với Clozapine trên 180 bệnh nhân Tâm thần phân liệt kháng thuốc; kết
quả nghiên cứu cho thấy, hiệu quả điều trò của hai loại thuốc này tương đương nhau.
Kết luận: Các thuốc chống loạn thần mới có hiệu quả hơn các thuốc chống loạn thần cũ,
trong các thuốc chống loạn thần mới, cả 3 loại Risperidol, Olanzapine và Clozapine có
hiệu quả tương đương đối với trường hợp kháng thuốc.
C. Tự tử.
Bệnh nhân Tâm thần phân liệt có tỷ lệ tự tử cao hơn ở người bình thường, ước tính có
10% bệnh nhân Tâm thần phân liệt chết vì tự tử.
- Clozapine: một báo cáo của Herbert Meltzer cho thấy khi người bệnh thay đổi
thuốc khác qua Clozapine, tỷ lệ tự tử có chiều hướng giảm xuống.
- Một công trình so sánh hiệu quả điều trò trên triệu chứng tự tử của Clozapine và
olanzapine trên 980 bệnh nhân có nguy cơ tự tử, kết quả nghiên cứu cho thấy
Clozapine có hiệu quả hơn Olanzapine trong điều trò tự tử; FDA đã chứng nhận
Clozapine trong điều trò tự tử vào tháng 12, năm 2002.
Kết luận: hiện nay, chưa có nhiều công trình nghiên cứu về điều trò triệu chứng tự tử,
nhưng qua một số ít các công trình kể trên, thuốc Clozapine thường được dùng trong
trường hợp tự tử.
D. Hiệu quả điều trò.
- Nghiên cứu của NIMH: khi nghiên cứu hiệu quả điều trò thuốc chống loạn thần cũ
trên triệu chứng dương tính, 60% bệnh nhân thuyên giảm hoặc thuyên giảm một
phần các triệu chứng dương tính, bao gồm hoang tưởng và ảo giác.
Bác cáo của PORT dựa trên nhiều thử nghiệm lâm sàng, cũng đưa ra nhận xét, tỷ lệ
thuyên giảm của thuốc chống loạn thần cũ là 70%.
- Clozapine: hiện nay, vẫn chưa có công trình nào so sánh hiệu quả điều trò của
Clozapine với giả dược.
- Risperidone: trong một nghiên cứu so sánh hiệu quả điều trò của Rispéridone và
Halopéridol, tỷ lệ thuyên giảm của Rispéridol là 53%.
- Olanzapine: một nghiên cứu mù đôi so sánh hiệu quả điều trò của Olanzapine với
giả dược; kết quả nghiên cứu cho thấy, Olanzapine hiệu quả hơn giả dược
- Một nghiên cứu so sánh hiệu quả điều trò của Clozapine với Chlorpromazine trên
bệnh nhân Tâm thần phân liệt, kết quả cho thấy Clozapine có hiệu quả hơn
Chlorpromazine. John Davis khi phân tích các công trình nghiên cứu so sánh hiệu
quả điều trò của thuốc Risperidone với thuốc chống loạn thần cũ với liều trên
22
6mg/ngày, tỷ lệ thuyên giảm của Risperidone là 53% cao hơn tỷ lệ 40% của thuốc
chống loạn thần cũ (P <.001). Một nghiên cứu mù đôi so sánh hiệu quả điều trò của
Olanzapine với haloperidol, kết quả nghiên cứu cho thấy, hiệu quả của Olanzapine
tương đương với haloperidol.
- Một nghiên cứu so sánh hiệu quả điều trò của Clozapine với risperidone, trong 6
tuần lễ, kết quả nghiên cứu cho thấy, hiệu quả của hai thuốc này tương đương nhau,
nhưng thuốc Risperidone có nhiều tác dụng ngoại tháp hơn. Một nghiên cứu so sánh
hiệu quả điều trò của risperidone và clozapine trên 59 bệnh nhân cấp tính trong 28
ngày, kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả của hai loại thuốc này tương tự nhau.
Kết luận: các thuốc chống loạn thần bao gồm cả nhóm cũ và mới đều có hiệu quả trong
điều trò cơn loạn thần, nhưng trong các nghiên cứu so sánh hiệu quả điều trò giữa các
loại thuốc kể trên, các thuốc chống loạn thần mới có hiệu quả hơn các thuốc cũ; và
trong nhóm chống loạn thần mới, cả 3 loại thuốc Rispéridone, Clozapine và Olanzapine
có hiệu quả điều trò tương đương nhau.
E. Triêu chứng dương tính.
Triệu chứng dương tính bao gồm triệu chứng hoang tưởng và ảo giác.
- Perphénazine: một nghiên cứu mù đôi so sánh hiệu quả điều trò của risperidol với
perphenazine, tỷ lệ thuyên giảm đối với triệu chứng dương tính của perphenazine là
73%.
- Rispéridone: một nghiên cứu mù đôi so sánh hiệu quả điều trò của risperidol với
perphenazine, tỷ lệ thuyên giảm đối với triệu chứng dương tính của risperidol là 69%
- Olanzapine: kết quả của nhiều nghiên cứu cho thấy Olanzapine có hiệu quả trong
điều trò triệu chứng dương tính.
- Một nghiên cứu mù đôi so sánh hiệu quả điều trò của risperidone với perphenazine,
đối vối triệu chứng dương tính, tỷ lệ thuyên giảm của nhóm risperidol là 69% tương
đương với tỷ lệ 73% của nhóm perphenazine.
Kết luận: các thuốc chống loạn thần bao gồm cả nhóm cũ và mới đều có hiệu quả trong
điều trò triệu chứng dương tính, và trong các nghiên cứu so sánh hiệu quả điều trò giữa
các loại thuốc kể trên, hiệu quả điều trò của các nhóm này cũng tương đương nhau.
F. Triệu chứng âm tính.
- Perphénazine: trong nghiên cứu so sánh hiệu quả điều trò của risperidol với
perphenazine, tỷ lệ thuyên giảm đối với triệu chứng âm tính của Perphenazine là
53%.
- Rispéridone: trong nghiên cứu so sánh hiệu quả điều trò của risperidol với
perphenazine, tỷ lệ thuyên giảm đối với triệu chứng âm tính của Risperidol là 76%.
- Trong nghiên cứu so sánh hiệu quả điều trò của risperidone với perphenazine, tỷ lệ
thuyên giảm đối với triệu chứng âm tính của nhóm điều trò bằng Risperidone là 76%
cao hơn tỷ lệ 53% của nhóm Perphenazine ( P <.05), một nghiên cứu khác so sánh
hiệu quả điều trò của risperidone với haloperidol trên triệu chứng âm tính, kết quả
nghiên cứu cho thấy hiệu quả điều trò của risperidone cao hơn ở nhóm điều trò bằng
haloperidol, kết quả nghiên cứu cho thấy Olanzapine hiệu quả hơn haloperidol trong
điều trò triệu chứng âm tính.
23
Kết luận: các thuốc chống loạn thần bao gồm cả nhóm cũ và mới đều có hiệu quả trong
điều trò cơn loạn thần, nhưng trong các nghiên cứu so sánh hiệu quả điều trò giữa các
loại thuốc kể trên, các thuốc chống loạn thần mới có hiệu quả hơn các thuốc cũ; và
trong nhóm chống loạn thần mới, cả 3 loại thuốc Rispéridol, Clozapine và Olanzapine
có hiệu quả điều trò tương đương nhau.
H. Nhận xét.
Bảng hiệu quả điều trò của thuốc chống loạn thần cho thấy hiệu quả của thuốc trên các
triệu chứng loạn thần, kháng thuốc, v.v…
Bảng này giúp cho việc lựa chọn thuốc phù hợp với bệnh tâm thần; thí dụ: thí dụ: một
bệnh nhân tâm thần phân liệt có hoang tưởng bò tội, và đã dùng dao cắt mạch máu ở cổ
tay, được biết cơn loạn thần này là cơn đầu tiên.
Khi phân tích trường hợp này, người bệnh có trục I là bệnh tâm thần phân liệt, trục V là
các triệu chứng hoang tưởng (điểm số 21-40), tự tử (điểm số 1-20).
Bảng hiệu quả điều trò của thuốc chống loạn thần cho thấy các thuốc chống loạn thần
mới có hiệu quả điều trò là 50-55% cao hơn hiệu quả 40% của thuốc chống loạn thần cũ;
như vậy, trong trường hợp này, các thuốc chống loạn thần mới đều có thể được sử dụng
trong điều trò.
Nếu chọn lựa thuốc theo triệu chứng tự tử, hoang tưởng, thuốc Clozapine có hiệu quả
trên triệu chứng tự tử (thứ 1), và hoang tưởng (thứ 1).
Nếu lựa chọn theo tình trạng bệnh là cơn loạn thần đầu tiên, thuốc Olanzapine có hiệu
quả đối với cơn loạn thần đầu tiên, như vậy, thuốc này được lựa chọn trong điều trò.
Bảng13: Hiệu quả điều trò của một số thuốc chống loạn thần.
CLT cũ Rispéridone
Clozapine
Olanzapine
Cơn loạn thần đầu tiên 56% 63% 65%
Kháng thuốc 4-10% 25-60% 35-60% 1
Tự tử 1 2
Thuyên giảm 40% 53%
Tr/c dương tính 73% 69% 1 1
Tr/c âm tính 53% 76% 1 1
Tùy vào tiêu chuẩn lựa chọn, các thuốc được lựa chọn cũng khác nhau; tuy nhiên, trong
trường hợp này, người bệnh có triệu chứng tự tử, nên thuốc được lựa chọn là Clozapine.
6.1.1.2. Bệnh cơ thể.
Các thuốc chống loạn thần còn tác dụng trên các cơ quan khác, nên có thể gây ra một số
biến chứng như đái tháo đường, loạn nhòp tim; vì vậy, các thuốc này không được dùng
trong một số bệnh cơ thể; khi lựa chọn thuốc, cần cân nhắc các loại bệnh cơ thể này.
Để đánh giá chung tác dụng phụ của các thuốc hướng thần, tỷ lệ tử vong được coi là một
chỉ số tổng hợp của các tác dụng này, có tác giả còn dùng khái niệm “độ an toàn”
24
A. Tỷ lệ tử vong.
- Chống loạn thần cũ: có nhiều báo cáo cho thấy thuốc chống loạn thần cũ có thể gây
ra tình trạng chết đột ngột; nguyên nhân có thể là tim đập loạn nhòp, co giật, nghẹt
thở, hội chứng ác tính; tuy nhiên, vẫn chưa có số liệu chính thức về tử vong do quá
liều.
- Risperidone: chưa có một báo cáo nào về tỷ lệ tử vong khi dùng thuốc Risperidone
quá liều, chỉ có một trường hợp tử vong ở người đàn ông trên 45 tuổi, uống hàng trăm
viên Risperidone liều 1mg, nồng độ thuốc trong máu cao gấp 500 lần ở người điều trò
với liều thông thường.
- Clozapine: tỷ lệ mất bạch cầu hạt khi dùng Clozapine trong năm đầu là 0.73%,
trong năm thứ hai là 0.07%. báo cáo gần đây nhất, tỷ lệ này là 0,0038%.
Đối với giảm bạch cầu, trong năm đầu, tỷ lệ là 2.32%, trong năm thứ hai 0.69 %
(Bạch cầu đa nhân trung tính là <500/ mm
3
hoặc WBC <1,000 cells/mm
3
)
Mất bạch cầu hạt có thể gây ra tử vong cần được lưu ý.
Kết luận: vẫn chưa có số liệu nào so sánh tỷ lệ tử vong của các thuốc chống loạn thần,
tuy nhiên, thuốc Clozapine được coi là thuốc nguy hiểm nhất, sau đó đến thuốc chống
loạn thần cũ và cuối cùng là thuốc Rispéridone và Olanzapine,
B. Thần kinh.
1. Parkinson:
- Thuốc chống loạn thần cũ:
Khoảng 30% bệnh nhân được điều trò bằng thuốc chống loạn thần cũ bò hội chứng
Parkinson.
- Clozapine được dùng để điều trò triệu chứng loạn thần ở người bệnh Parkinson
do dùng thuốc kháng Parkinson, tuy nhiên với liều cao, 100 đến 250 mg/ ngày, có
thể gây ra triệu chứng Parkinson. Clozapine ít gây triệu chứng ngoại tháp so với
các thuốc chống loạn thần khác, với liều điều trò thông thường, chỉ khoảng 6%
người bệnh bò trạng thái bồn chồn, 6% bò run, 3% bò cứng tay chân, vẫn chưa ghi
nhận được trường hợp loạn trương lực cơ cấp, rối loạn vận động muộn, có một vài
trường hợp bò hội chứng loạn thần ác tính.
- Risperidone: trong các nghiên cứu so sánh tác dụng phụ của Risperidone với
haloperidol, kết quả nghiên cứu cho thấy, Risperidone ít gây ra tác dụng ngoại
tháp so với thuốc chống loạn thần cũ (P <.05). Theo báo cáo của Janssen
Pharmaceutica, trên 1.156 bệnh nhân tâm thần phân liệt, với liều điều trò thông
thường, trong 1 năm, chỉ có 0,4% bò rối loạn vận động muộn, thấp hơn 5% ở các
thuốc chống loạn thần cũ.
- Olanzapine: một nghiên cứu so sánh tác dụng phụ của Olanzapine với các thuốc
chống loạn thần cụ, tỷ lệ rối loạn vận động muộn của Olanzapine chỉ bằng 10%
của thuốc chống loạn thần cũ.
Kết luận: các thuốc chống loạn thần đều có thể gây ra hội chứng Parkinson, nhưng tỷ
lệ biến chứng này thấp nhất ở Clozapine, sau đó đến Rispéridone, Olanzapine và
thuốc chống loạn thần cũ.
Ở người bệnh Parkinson, nên sử dụng thuốc Clozapine trong điều trò.
2. Động kinh: