Tải bản đầy đủ (.pdf) (17 trang)

TẠO NHỊP TIM – PHẦN 1 pps

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (211.08 KB, 17 trang )

TẠO NHỊP TIM – PHẦN 1

Tạo nhịp tim là dùng một thiết bị điện tử (máy tạo nhịp) phát xung điện 1
chiều có chu kỳ, thông qua dây điện cực kích thích cơ tim co bóp theo chu kỳ đó.
Có hai loại tạo nhịp là tạo nhịp tim tạm thời và tạo nhịp tim vĩnh viễn. Tạo nhịp
tim tạm thời được sử dụng để điều trị cấp cứu và chẩn đoán các rối loạn nhịp. Tạo
nhịp tim vĩnh viễn được sử dụng để điều trị các rối loạn nhịp chậm, gần đây người
ta đã bổ xung thêm một số chỉ định mới của tạo nhịp vĩnh viễn được như trong
điều trị suy tim, trong bệnh cơ tim phì đại có nghẽn đường ra thất trái, trong một
số rối loạn nhịp nhanh
I. SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ CỦA TẠO NHỊP TIM (PACEMAKER)
Năm 1952, Paul Zoll lần đầu tiên sử dụng thành công các xung điện thông
qua hai điện cực gắn vào hai kim được cắm vào ngực cho hai bệnh nhân bị ngừng
tim. Từ đó, phương pháp kích thích tim tạm thời để cấp cứu đã được áp dụng rộng
rãi trong lâm sàng đặc biệt là trong hồi sức, cấp cứu tim mạch. Cho đến nay, có
nhiều cách tạo nhịp tạm thời được áp dụng như kích thích tim qua thành ngực,
kích thích tim qua thực quản, kích thích thượng tâm mạc và kích thích nội tâm
mạc buồng tim, tuy nhiên kích thích nội mạc buồng tim qua đường tĩnh mạch
được áp dụng nhiều hơn cả.
Máy tạo nhịp cấy vào trong cơ thể là một phát minh của Winson Greatbatch
ở Hoa kỳ năm 1956. Đến tháng 10 năm 1958, Ake Sening (Thuỵ điển) đã tiến
hành cấy máy tạo nhịp lần đầu tiên trên thế giới, còn tại Hoa kỳ, trường hợp cấy
máy tạo nhịp tim đầu tiên do Chardack thực hiện thành công năm 1959. Với
những hiểu biết mới về điện sinh lý học, những tiến bộ vượt bậc về kỹ thuật điện
tử – y sinh, từ những thế hệ máy tao nhịp ban đầu hết sức đơn giản (V00), sau hơn
50 năm phát triển, hiện nay người ta đã chế tạo ra nhiều thế hệ máy hiện đại như
DDDR, máy tạo nhịp 3 buồng tim để trị suy tim (tạo nhịp đồng bộ 2 thất - CRT) ,
máy phá rung tự động cấy trong cơ thể (ICD) với nhiều phương thức tạo nhịp đáp
ứng được yêu cầu của lâm sàng, kích thước của máy cũng giảm dần từ vài trăm
gam xuống còn khoảng 20 – 30 g và đời sống của máy tạo nhịp tim cũng kéo dài
hơn (8 – 10 năm). Hiện nay, trên thế giới mỗi năm số lượng bệnh nhân cấy máy


tạo nhịp tăng dầnTại Hoa kỳ, năm 1993 có khoảng 1 triệu bệnh nhân được cấy
máy tạo nhịp vĩnh viễn, và hàng năm tỷ lệ bệnh nhân được cấy máy mới là
426/1triệu dân. Tỷ lệ này tăng theo sự gia tăng của tuổi thọ, cũng tại Hoa kỳ số
bệnh nhân >65 tuổi cấy máy tạo nhịp năm 1990 là 87100 (tỷ lệ 325,4/100000 dân
trên 65 tuổi), đến năm 2000 số bệnh nhân đã tăng lên 138100 (đạt tỷ lệ
504,4/100000 dân trên 65 tuổi).
Tại Việt nam, trường hợp cấy máy tạo nhịp đầu tiên được tiến hành năm
1973, tuy nhiên do điều kiện kinh tế, mãi đến những năm 1990 ký thuật cấy máy
tạo nhịp mới phát triển mạnh mẽ. Hiện nay, các trung tâm có khả năng cấy máy và
lập trình cho máy tạo nhịp tim đã tăng lên đáng kể như Viện tim mạch quốc gia
Việt nam, Bệnh viện TWQĐ 108 (ở miền Bắc), Bệnh viện TW Huế (ở miền
Trung) Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện 115, Bệnh viện Thống nhất (ở miền
Nam) với số lượng bệnh nhân được cấy máy tăng lên từng năm. Về kỹ thuật, hầu
hết các bệnh viện đã làm chủ được kỹ thuật cấy máy 1 và 2 buồng, một số bệnh
viện đã bước đầu triển khai cấy máy 3 buồng điều trị suy tim và máy phá rung tự
động (ICD).
II. TẠO NHỊP TIM TẠM THỜI TRONG CẤP CỨU TIM MẠCH
3.1. Sơ bộ về tạo nhịp tim tạm thời
Hệ thống tạo nhịp tim gồm có 2 phần chính: máy tạo nhịp (Pacemaker) và
dây điện cực (Electrode).
- Máy tạo nhịp (Pacemaker):
Máy tạo nhịp là bộ phận chính của tạo nhịp tim tạm thời. Máy tạo nhịp tạm
thời cũng gồm các bộ phận như tương tự như máy tạo nhịp vĩnh viễn nhưng pin
của máy tạo nhịp tạm thời thường sử dụng pin thông thường loại 9V hoặc sử dụng
dòng điện dân dụng (110V hoặc 220V). Những máy tạo nhịp tạm thời thường có
chương trình tương đối đơn giản như điều chỉnh cường độ và điện áp ra, tần số
kích thích, nhận cảm (sensitivity) với nhịp nội tại; một số máy có chương trình tạo
nhịp 1 buồng hoặc 2 buồng. Những máy tạo nhịp tạm thời hiện đại gần đây cho
phép điều chỉnh được độ rộng xung kích thích, thời gian trơ của nhĩ hoặc thất và
thời gian trễ của nhĩ – thất (A- V delay) và có cấu trúc tương đối gọn nhẹ.

- Dây điện cực (Electrode) và các phương pháp kích thích tim tạm thời:
Dây điện cực tạo nhịp tạm thời có cấu trúc tuỳ thuộc vào kiểu kích thích
qua qua thành ngực, kích thích tim qua thực quản, kích thích thượng tâm mạc hay
kích thích nội tâm mạc buồng tim.
Với kích thích nội tâm mạc (điện cực tĩnh mạch) thì dây điện cực được có
phần dây dẫn điện làm bằng hợp kim và được bọc ngoài bằng polyurethane hoặc
silicon, gốc dây điện cực có 2 đầu nối với điện cực âm và dương của máy tạo nhịp
ngoài, đầu dây điện cực có 2 điện cực để truyền xung động điện tới tổ chức cơ tim,
đầu dây điện cực tạm thời không có các dụng cụ cố định điện cực như trong tạo
nhịp vĩnh viễn.
Trong trường hợp kích thích qua đường thực quản, dây điện cực có cấu tạo
gần giống với điện cực tĩnh mạch nhưng trên đó có thể có tới 6 điện cực và có tới
6 đầu nối với điện tim và máy tạo nhịp ngoài.
Khi tạo nhịp thượng tâm mạc, đầu dây điện cực được khâu đính vào lá tạng
của màng ngoài tim (thường sử dụng khi tạo nhịp tạm thời trong phẫu thuật tim).
Tạo nhịp qua da hiện nay ít được sử dụng, đầu của điện cực trong trường
hợp này chính là các bản điện cực dán (patch) của các máy phá rung kết hợp kích
thích tim dùng trong cấp cứu tim mạch, kích thích qua da đòi hỏi năng lượng, biên
độ, cường độ và độ rộng của xung kích thích lớn.
Tạo nhịp qua thành ngực sử dụng các kim điện cực cắm trực tiếp qua thành
ngực thẳng vào cơ tim để kích thích tim. Phương pháp này đã được áp dụng từ hơn
30 năm nay, mặc dù kỹ thuật hết sức nhanh chóng và đơn giản trong cấp cứu
nhưng vẫn còn nhiều tranh cãi và hiện nay ít được ứng dụng trong lâm sàng.
Hiện nay, phần lớn tạo nhịp tạm thời trong cấp cứu tim mạch đều sử dụng
phương pháp kích thích qua đường tĩnh mạch với đường vào chủ yếu là tĩnh mạch
đùi hoặc tĩnh mạch dưới đòn. Tạo nhịp thượng tâm mạc chủ yếu được sử dụng
trong phẫu thuật tim. Các phương pháp khác ít được sử dụng trên lâm sàng.
3.2. Chỉ định của tạo nhịp tim tạm thời
Chỉ định tạo nhịp tạm thời được chia là 2 loại là cấp cứu và chỉ định chọn
lọc. Hiện nay, vẫn chưa có sự thống nhất tuyệt đối trong chỉ định tạo nhịp tạm thời

do chưa có những thử nghiệm lâm sàng lớn, tuy nhiên các người ta cũng đã đưa ra
một số chỉ định như sau:
- Chỉ định trong cấp cứu tim mạch: Tạo nhịp tạm thời được chỉ định cho
tất cả các tình trạng rối loạn huyết động cấp tính do căn nguyên nhịp chậm và/hoặc
các tình trạng vô tâm thu.
+ Nhồi máu cơ tim cấp có thêm:
. Nghẽn nhĩ – thất hoàn toàn ở bệnh nhân có NMCT thành trước; ở
bệnh nhân có NMCT thành sau không đáp ứng với thuốc Atropine; ở bệnh
nhân có tụt huyết áp.
. Ngừng xoang, vô tâm thu.
. Nhịp chậm có triệu chứng: Nhịp chậm xoang có tụt HA, nghẽn nhĩ
– thất độ 2 kiểu Mobitz I có tụt HA và không đáp ứng với thuốc Atropine.
. Nghẽn hai nhánh (nghẽn luân phiên hai nhánh hoặc nghẽn nhánh
phải kết hợp với nghẽn phân nhánh trái trước trên hoặc nghẽn phân nhánh
trái sau dưới).
. Xuất hiện nghẽn mới hai nhánh và nghẽn nhĩ – thất độ 1.
. Nghẽn nhĩ – thất độ 2 kiểu Mobitz II.
+ Nhịp chậm:
. Vô tâm thu.
. Nghẽn nhĩ – thất độ 2 hoặc 3 mà bệnh nhân có rối loạn huyết động
hoặc ngất khi nghỉ hoặc có phức bộ QRS rộng và tần số tim <50 lần/phút.
. Rối loạn nhịp chậm trong hội chứng nút xoang bệnh lý mà tần số
tim dưới 40 lần/phút và điều trị bằng thuốc nâng tần số tim không có hiệu
quả.
. Rối loạn nhịp nhanh thứ phát sau một nhịp chậm (thí dụ xoắn đỉnh
hậu quả của nhịp tim quá chậm).
- Chỉ định chọn lọc: Tạo nhịp tạm thời được chỉ định một cách chọn lọc
cho những trường hợp bệnh nhân có nguy cơ có rối loạn nhịp chậm nặng trong khi
phẫu thuật hoặc phải chịu các thủ thuật can thiệp nhất là phẫu thuật hoặc can thiệp
tim mạch.

+ Dự phòng trong các trường hợp phẫu thuật hoặc thủ thuật can thiệp có
khả năng gây ra các rối loạn nhịp chậm nặng.
+ Trong phẫu thuật ở những bệnh nhân có:
. Nghẽn nhĩ – thất độ 2 hoặc độ 3.
. Nghẽn nhĩ – thất từng cơn.
. Nghẽn nhĩ – thất độ 1 kết hợp nghẽn 2 nhánh bó His.
. Nghẽn nhĩ – thất độ 1 kết hợp nghẽn nhánh trái.
+ Trong phẫu thuật tim:
. Phẫu thuật van động mạch chủ, van ba lá.
. Phẫu thuật đóng lỗ thông liên thất, thông liên nhĩ lỗ thứ nhất.
+ Trong can thiệp tim mạch:
. Trong thông tim, sinh thiết cơ tim ở bệnh nhân có nghẽn nhánh trái hoặc
can thiệp động mạch vành nhất là động mạch vành phải.
. Shock điện phá rung ở bệnh nhân có hội chứng nút xoang bệnh lý hoặc
kích thích vượt tần số điều trị cơn nhịp nhanh thất hoặc trên thất.
3.3. Biến chứng của tạo nhịp tim tạm thời
Biến chứng của tạo nhịp tạm thời có liên quan đến việc chọc tĩnh mạch, tác
động cơ học và điện học của điện cực đối với tim, nhiễm trùng và huyết khối tắc
mạch Biến chứng trong tạo nhịp tạm thời chiếm khoảng 14 – 20% tổng số bệnh
nhân tuỳ theo từng trung tâm và các triệu chứng chính thường gặp là tiếng cọ
màng ngoài tim, rối loạn nhịp thất và tình trạng nhiễm trùng.
- Các biến chứng liên quan đến việc chọc tĩnh mạch: các biến chứng có
thể gặp khi chọc tĩnh mạch dưới đòn là tràn khí màng phổi và tràn máu màng phổi.
các biến chứng này thường gặp ở những trung tâm và ở những thủ thuật viên ít
kinh nghiệm. Do vị trí giải phẫu của mạch máu dưới đòn khá thay đổi nên khó có
thể khẳng định có thể tránh hoàn toàn được biến chứng này. Biện pháp tốt nhất là
nên chọn đường vào là tĩnh mạch khác để chọc, thí dụ như tĩnh mạch bẹn Một
biến chứng khác có thể gặp khi chọc tĩnh mạch là chọc nhầm vào động mạch.
- Các biến chứng liên quan đến tác động cơ học của điện cực: ở một số
bệnh nhân đặc biệt là bệnh nhân NMCT cấp, việc đặt điện cực vào thất phải có thể

gây ra các ngoại tâm thu thất và đôi khi gây ra rối loạn nhịp thất kéo dài. Biến
chứng này có thể khắc phục được bằng cách thay đổi vị trí điện cực, tuy nhiên nếu
bệnh nhân phụ thuộc hoàn toàn vào tạo nhịp tạm thời thì việc thay đổi vị trí điện
cực sẽ có nhiều khó khăn và nguy hiểm cho bệnh nhân.
Điện cực dùng trong tạo nhịp tạm thời thường nhỏ (5F hoặc 6F) và cứng
nên đôi khi có thể chọc thủng thành thất phải là cho ngưỡng kích thích tăng lên có
thể gây tràn máu màng ngoài tim và ép tim cấp. Trong trường hợp này, có thể chỉ
cần rút điện cực ra khỏi vị trí đã đặt và đặt lại điện cực và theo dõi dịch màng
ngoài tim bằng siêu âm tim. Một số trường hợp nặng hơn, có tràn máu màng ngoài
tim nhiều hoặc có ép tim thì cần phải điều trị chọc hút hoặc dẫn lưu màng ngoài
tim cấp cứu.
- Các biến chứng liên quan đến tác động điện học của điện cực: thông
thường, ngưỡng kích thích của tạo nhịp tạm thời thay đổi tuỳ theo bệnh lý của
bệnh nhân và những thuốc mà bệnh nhân đang sử dụng. Người ta thường kiểm tra
ngưỡng kích thích hàng ngày sau tạo nhịp tạm thời, biên độ kích thích thường gấp
đôi ngưỡng kích thích. Khi biên độ kích thích phải tăng lên trên 5V thì cần phải
kiểm tra lại vị trí đặt điện cực hoặc đặt lại điện cực. Khi kích thích bị mất dẫn đột
ngột, cần phải kiểm tra đầu nối với máy tạo nhịp tạm thời, tình trạng dây điện cực,
pin của máy tạo nhịp còn hay hết và kiểm tra xem có hiện tượng tăng nhận cảm
hay không. Nếu trên điện tim đồ vẫn quan sát thấy gai kích thích nhưng không dẫn
nhịp thì có hể tăng biên độ kích thích, thay đổi vị trí đầu điện cực hoặc thay điện
cực khác. Theo một nghiên cứu đã công bố, có khoảng 37% bệnh nhân bị rối loạn
nhận cảm và rối loạn kích thích sau tạo nhịp tạm thời qua đường tĩnh mạch 48 giờ.
- Các biến chứng liên quan đến nhiễm trùng và huyết khối tắc mạch: nếu
vị trí chọc tĩnh mạch được vô trùng tốt thì việc sử dụng kháng sinh là không cần
thiết, tuy nhiên nếu có bất cứ dấu hiệu nhiễm trùng nào đều phải hay điện cực. Với
những bệnh nhân có tạo nhịp tạm thời trên 7 ngày hoặc sử dụng đường vào là tĩnh
mạch bẹn thì việc sử dụng kháng sinh là chỉ định bắt buộc. Đa số nhiễm trùng liên
quan đến tạo nhịp tạm thời là do tụ cầu da (Staphylococcus epidermidis) hoặc trực
khuẩn coli gây ra nhất là khi chọc tĩnh mạch đùi vì vậy không nên sử dụng đường

tĩnh mạch đùi khi bệnh nhân có suy giảm miễn dịch.
Huyết khối tắc mạch thường gặp ở tĩnh mạch đùi với các triệu chứng của
huyết khối tĩnh mạch đùi sâu. Tạo nhịp tạm thời qua đường tĩnh mạch đùi khá là
đơn giản và thuận tiện, nhưng nên tránh sử dụng khi phải tạo nhịp kéo dài hoặc
trên bệnh nhân có nhiều nguy cơ huyết khối tắc mạch.
III. TẠO NHỊP TIM VĨNH VIỄN TRONG ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN NHỊP VÀ
DẪN TRUYỀN TIM
3.1. Những khái niệm cơ bản về tạo nhịp tim vĩnh viễn
3.1.1. Sơ bộ hệ thống tạo nhịp tim
Hệ thống tạo nhịp tim gồm có 2 phần chính: máy tạo nhịp (Pacemaker) và
dây điện cực (Electrode), ngoài ra còn có thêm máy lập trình (Programmer).
- Máy tạo nhịp (Pacemaker):
Máy tạo nhịp là bộ phận chính của tạo nhịp tim, máy bao gồm:
- Pin: chiếm 1/2 đến 2/3 thể tích của máy tạo nhịp, hiện nay pin của máy
tạo nhịp thông thường là pin Lithium – Iodine, có khả năng đảm bảo năng lượng
cho máy hoạt động trong khoảng thời gian từ 8 – 10 năm.
- Bộ vi sử lý (microprocessor), bộ nhớ và mạch điện tử (hybrid circuits) có
khả năng lưu trữ chương trình, đảm bảo các chức năng hoạt động của máy tạo
nhịp.
- Đầu nối với điện cực: làm bằng nhựa Epoxy, có các lỗ cắm để gắn các dây
điện cực. Mỗi lỗ cắm có thể nhận một hay hai cực. Thông thường, mỗi lỗ cắm đều
có một vít để vặn chặt đầu điện cực.
Tất cả pin, bộ vi sử lý và mạch điện tử được bao bọc bởi vỏ máy làm bằng hợp
kim có tính chất sinh hợp (biocompatible). Vỏ máy còn làm chức năng của cực
dương khi kích thích đơn cực (Unipolar).
- Dây điện cực (Electrode):
Dây điện cực là thành phần rất quan trọng của tạo nhịp tim. Dây điện cực
gồm 3 phần: gốc dây điện cực gắn với máy tạo nhịp, thân dây điện cực và phần
đầu dây điện cực gắn với nội tâm mạc. Trong tạo nhịp vĩnh viễn người ta thường
sử dụng dây điện cực tĩnh mạch, tuy nhiên cũng có thể sử dụng dây điện cực

thượng tâm mạc trong tạo nhịp vĩnh viễn cho trẻ em.
+ Gốc dây điện cực: có phích cắm vào máy tạo nhịp, ngày nay tất cả các
dây điện cực đều có phích cắm theo tiêu chuẩn IS-1 với đường kính phích cắm 3,2
mm. Đặc điểm này cần chú ý khi chúng ta thay máy tạo nhịp, với những máy đã
được cấy từ nhiều năm trước, đầu phích cắm của điện cực có thể có kích thước
khác với tiêu chuẩn IS-1 do đó phải có đầu nối (Adaptor) để chuyển đổi đầu dây
cho thích hợp. Dây điện cực có thể có 1 hay 2 dây dẫn điện, dây dẫn điện ở đầu
phích rỗng để có thể luồn dây dẫn (guidewire) vào để có thể lái đầu điện cực vào
mỏm tim hoặc vào tiểu nhĩ khi cấy máy. Đầu dây điện cực có 1 dây dẫn điện (đơn
cực) thường có chức năng là điện cực âm khi kích thích, khi dây điện cực có 2 dây
dẫn điện (hai cực) thì đầu dây là điện cực âm còn một vòng kim loại ở gần đàu dây
là điện cực dương.
+ Thân dây điện cực: thân dây điện cực được làm bằng silicon hay
polyurethane. Dây dẫn điện được làm bằng hợp kim Nickel. Trong trường hợp dây
hai cực thì có hai dây dẫn điện đồng tâm, xung quanh hai dây này có chất silicon
hay polyurethane làm chất cách điện. Thân dây điện cực cũng rỗng ở giữa để có
thể luồn dây dẫn (guidewire) vào để có thể lái đầu điện cực.
+ Đầu dây điện cực: bao gồm đầu điện cực và phương tiện cố định đầu điện
cực.
. Phương tiện cố định đầu điện cực: vì đầu điện cực cần phải bám chắc vào
nội tâm mạc để dẫn truyền điện cho cơ tim nên cần phải có phương tiện cố định
điện cực. Có 2 loại cố định điện cực: cố định thụ động (passive fixation) và cố
định chủ động(active fixation). Cố định thụ động là sử dụng có đầu móc gắn vào
các cột cơ trong buồng tim, theo thời gian các mô xung quanh đầu điện cực sẽ xơ
hoá và cố định chặt đầu điện cực. Cố định chủ động là sử dụng đầu điện cực có
gắn đầu vít xoắn bắt vít chặt vào nội tâm mạc, loại cố định chủ động có lợi vì có
thể cố định đầu điện cực vào bất kỳ vị trí nào của buồng tim, ít có hiện tượng tuột
điện cực sau cấy máy và có thể tháo điện cực ra khi cần nhưng cũng có những yếu
điểm là làm tổn thương nội mạc tim nên ngưỡng kích thích có phần cao hơn điện
cực cố định thụ động.

. Đầu điện cực: đầu điện cực được làm bằng hợp kim, tiếp xúc với thành
tim và đóng vai trò điện cực âm khi kích thích. Khi kích thích nội tâm mạc, tại vị
trí đầu điện cực tiếp xúc với nội mạc cơ tim có hiện tượng viêm và lâu ngày xung
quanh đầu điện cực sẽ bị xơ hoá làm cho ngưỡng kích thích tăng lên. Một số biện
pháp có thể hạn chế được hiện tượng này là sử dụng đầu điện cực có tẩm steroid
để chống viêm, thiết kế đầu điện cực bằng hợp kim có tính chất sinh hợp
(biocompatible) và có cấu tạo đặc biệt (phủ chất Irridium dưới dạng những hạt nhỏ
để tăng tiếp xúc).
- Máy lập chương trình (Programmer): dùng để kiểm tra các thông số hoạt
động của máy tạo nhịp như ngưỡng kích thích, ngưỡng nhận cảm, điện trở của
máy tạo nhịp, điện trở của điện cực, biên độ kích thích, độ rộng của xung kích
thích, sự tiêu hao của pin và lập chương trình hoạt động cho máy tạo nhịp sao
cho hợp lý và tiết kiệm năng lượng. Máy lập chương trình thực chất là một máy
tính có cài sẵn chương trình phần mềm riêng biệt được nối với một đầu lập
chương trình và một máy in. Đầu lập chương trình có gắn nam châm và các mạch
điện tử để liên lạc với máy tạo nhịp qua sóng điện từ hay từ trường.
3.1.2. Ký hiệu của máy tạo nhịp tim
Máy tạo nhịp hiện nay tương đối đa dạng về chức năng và chương trình, để
nhận biết các loại máy này, năm 1974 Hội tạo nhịp và điện sinh lý học Bắc Mỹ và
nhóm điện sinh lý học Anh (NASPE/BPEG) đã đưa ra bảng ký hiệu của máy tạo
nhịp gồm 3 chữ cái, sau đó đến năm 2002 đã điều chỉnh lại thành 5 chữ cái. Trong
bảng ký hiệu này, chữ cái đầu tiên chỉ vị trí buồng tim được tạo nhịp, chữ cái thứ 2
chỉ vị trí buồng tim nhận cảm, chữ cái thứ 3 chỉ dạng đáp ứng với nhận cảm, chữ
cái thứ 4 để chỉ khả năng lập trình và chữ cái thứ 5 chỉ chức năng chống nhịp
nhanh.
Ký hiệu của máy tạo nhịp tim (NASPE/BPEG Generic code)
Chữ thứ nhất Chữ thứ hai Chữ thứ ba Chữ thứ tư Chữ thứ năm
Buồng tạo
nhịp
Buồng nhận

cảm
Dạng đáp ứng Khả năng lập
trình và điều
biến tần số
Chức năng
chống nhịp
nhanh
O: không
A: nhĩ
V: thất
O: không
A: nhĩ
V: thất
O: không
T: khởi kích
I: ức chế
O: không
P: có khả năng
lập trình đơn
giản
O: không
P: bằng tạo
nhịp
S: bằng shock
D: cả hai (A
và V)
S: đơn (A
hoặc V)
D: cả hai (A
và V)

S: đơn (A
hoặc V)
D: cả hai (T
và I)

M: có khả
năng lập trình
đa chức năng
C: có khả
năng kết nối
từ xa
R: có khả
năng điều biến
tần số kích
thích
điện
D: cả hai (P và
S)


Thí dụ:
- Máy VVI: kích thích ở thất, nhận cảm ở thất và đáp ứng nhận cảm theo
phương thức ức chế.
- Máy VVIR: kích thích ở thất, nhận cảm ở thất và đáp ứng nhận cảm theo
phương thức ức chế và có đáp ứng tần số.
- Máy DDD: kích thích ở cả nhĩ và thất, nhận cảm ở cả nhĩ và thất và đáp
ứng nhận cảm theo cả 2 phương thức ức chế và khởi kích.



×