Tải bản đầy đủ (.pdf) (4 trang)

Hoài Thanh với Viện Văn học (Nhân 100 năm sinh Hoài Thanh (1909-2009)) pptx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (191.71 KB, 4 trang )

Hoài Thanh với Viện Văn học
(Nhân 100 năm sinh Hoài Thanh
(1909-2009))










Từ 1970 cho đến 1976, trước khi nghỉ hưu vào Thành phố Hồ Chí Minh, theo
tôi nhớ, ông rất ít trở lại địa chỉ 20 Lý Thái Tổ.
Những năm cuối đời, ông có tâm trạng buồn. Buồn vì sức khoẻ. Vì xa công
việc. Vì muốn làm việc, muốn sống có ích mà không có việc. Tâm trạng này ông gửi
gắm vào thư từ gửi các con và bè bạn; và một đôi khi, cả vài nơi cần gửi, để mong
tìm một việc làm, hoặc một khoản trợ cấp chính đáng. Nhưng ngoài cái buồn vì sức
khoẻ và công việc còn cái buồn cả về nhân tình thế thái. Chẳng hạn thư đi thư lại cho
một địa chỉ đến ba lần trong nửa năm mà vẫn không có hồi âm. Cái địa chỉ, đối với
ông vốn là rất quen biết; còn với người nhận tuy bận “trăm công nghìn việc”, nhưng
lại có cả một hệ thống người giúp việc. Thư cuối cùng, sau ba thư đã gửi, ông dành
chỉ để nói lại chuyện đó: “Các anh đều có thư ký riêng. Sao các anh không giao trách
nhiệm cho thư ký? Nếu thư ký thứ nhất cũng bận không trả lời được thì thư ký thứ
hai, thứ ba trả lời”
(5)
Hoặc việc làm một bộ Hợp tuyển thơ sau 1945 ông đã có thư
gửi tới nhiều người, nhiều cơ quan ngay từ giữa năm 1977, với năm đề nghị cụ thể
nhưng không nơi nào trả lời.
Những chuyện buồn như vậy đã đến với ông hơi sớm, khi vừa vào tuổi nghỉ


hưu; - có lẽ cũng là chuyện quen thuộc với nhiều người; một người từng trải như ông
chắc là biết, nhưng vẫn làm ông sửng sốt.
*
Ngoài tình Thầy - trò, tình đồng nghiệp trong cùng cơ quan, tôi muốn nói thêm
một ít về tình bạn - là điều tôi thường hay quan tâm và ao ước cho mình - đó là tình
bạn giữa Đặng Thai Mai và Hoài Thanh, trong những năm hai người có cùng một
nhiệm sở 20 Lý Thái Tổ. Theo nhận thức và cảm tưởng của tôi lúc ấy: Họ đã sống và
ứng xử với nhau trong sự quý mến và tôn trọng lẫn nhau, không phải chỉ vì cả hai là
đồng hương mà chủ yếu là vì họ cùng có nhiều điểm tương đồng trong tư cách của
những trí thức chân chính, của Kẻ Sỹ xứ Nghệ. Không chỉ là sự tôn trọng, mà dường
như họ còn có cả sự bổ sung và hô ứng cho nhau. Trong kháng chiến chống Pháp,
một người Giảng văn “Chinh phụ ngâm”, một người Nói chuyện thơ kháng chiến;
một người viết Chủ nghĩa nhân văn dưới thời kỳ văn hóa Phục hưng, một người
viết Quyền sống con người trong “Truyện Kiều”. Từ sau ngày về Viện, một người
phụ trách văn học cổ điển, một người chuyên lo văn học hiện đại và phê bình. Khỏi
phải nói thêm hiện tượng Phan Bội Châu - nhà chí sĩ yêu nước xứ Nghệ, như là điểm
giao thoa và tiếp tục giữa hai người; một người soạn Văn thơ Phan Bội Châu trước
khi về Viện, một người viết truyện danh nhân Phan Bội Châu sau khi nghỉ hưu
Sự giống nhau hoặc “đồng điệu” giữa hai người còn có thể nhận ra ở cả những
gì là “thái quá” hoặc “bất cập”, nó là hiện tượng diễn ra có tính phổ biến trong giới trí
thức văn nghệ sĩ nói chung, sau một bước ngoặt lịch sử như Tháng Tám 1945, mà cả
hai vẫn không thể là ngoại lệ. Người say sưa với văn học cổ điển trong Giảng văn
“Chinh phụ ngâm” cũng là người từng khe khắt với lịch sử văn học dân tộc: “Ta
chưa có một nền văn học cao cấp vì ta chưa hề có một nền văn học bình dân”
(6)
.
Người say đắm Thơ mới rồi sẽ là người kết án rất sớm và rất gay gắt Thơ mới:
“Những câu thơ buồn nản hay vẩn vơ cũng đều là bạn đồng minh của giặc”
(7)
.

Được đọc rồi được tiếp xúc, được học việc rồi được công tác với những người
mình yêu mến, kính trọng và ngưỡng mộ; tôi nghĩ đó là hạnh phúc không dễ lúc nào,
thời nào cũng có được; và càng là không dễ, trong những năm tháng sống hôm nay.
*
Về sự nghiệp phê bình của Hoài Thanh, một sự nghiệp dài trên 50 năm, tính từ
những bài viết đầu tiên của ông đăng trên các báo Le Peuple, Phổ thông, Sông
Hương, Tràng An trong đó đáng chú ý nhất là bài Thơ mới, đăng trên Tiểu thuyết
thứ Bảy (số 31; 29-12-1934) cho đến Tuyển tập (2 Tập) năm 1982, cũng là năm ông
qua đời ở Thành phố Hồ Chí Minh, tôi đã hai lần có cơ hội được đề cập. Lần thứ
nhất, với bản Đề dẫn trong Hội thảo kỷ niệm 10 năm ngày mất Hoài Thanh và 50
năm cuốn sách Thi nhân Việt Nam, do Viện Văn học phối hợp với một số cơ quan tổ
chức
(8)
, diễn ra trong suốt cả ngày 27-3 năm 1992 ở địa chỉ 20 Lý Thái Tổ. Lần thứ
hai, kỷ niệm 90 năm sinh của ông do Hội Nhà văn Việt Nam phối hợp với một số cơ
quan tổ chức, vào ngày 1-7 năm 1999, tuy không có mặt ở Hà Nội, nhưng nhân cơ
hội này, tôi đã hoàn thiện bài viết Hoài Thanh: sự nghiệp phê bình; với tôi, đây là bài
tôi ưng ý nhất, và cảm thấy, cho đến nay vẫn chưa có gì phải thêm bớt, hoặc sửa
chữa, với Phần I: Hoài Thanh trước 1945 - Con đường đi đến “Thi nhân Việt Nam”,
và Phần II: Hoài Thanh sau 1945: Vui buồn nghề nghiệp. Ý tưởng cơ bản và xuyên
suốt trong cả hai lần viết, cách nhau 7 năm, tôi muốn dẫn lại như sau: “Có thể nói mà
không phân vân: Ông đã chân thành và trung thực đến cùng trong yêu mê và say Thơ
mới; và ông cũng đã chân thành và trung thực đến cùng trong phủ định Thơ mới
và Thi nhân Việt Nam, khi đã nhận ra một chân lý nào đó. Có điều chân lý ông tìm ra
có khớp được với chân lý khách quan của cuộc sống hay không, lại là chuyện khác.
Ông đã bị thời đại quy định nghiệt ngã, cũng như tất cả chúng ta, cũng như rộng ra
khỏi chúng ta”
(9)
“Người chủ trương chuyên đi tìm cái hay để bình, chứ không phê;
và bình với lối viết nhỏ nhẹ, tinh tế và tài hoa, đầy chất văn lại là người đã trải những

sóng gió bên trong, thậm chí là những phủ định bản thân gay gắt, quyết liệt. Cũng là
người đã phải chịu những áp lực bên ngoài, dẫu là vô hình và âm thầm, nhưng không
thể nói là dễ chịu; và ông đã chịu đựng được trong một kiên tâm không dễ dãi. Cũng
có thể hình dung ông là người kiên trì con đường đi tìm chân lý trong văn chương-
học thuật; chân lý đó trong thế kỷ XX đầy những sự kiện, những biến động, những
đổi thay, những cách mạng là không dễ dàng tìm kiếm, và do vậy mà không thể dứt
điểm một lần. Với Hoài Thanh, thật đúng cái định nghĩa: chân lý, kể cả chân lý trong
văn chương- học thuật là cả một quá trình. Quá trình của khách quan, thông qua trải
nghiệm chủ quan. Một chủ quan không chút dễ dãi mà phải trải bao trăn trở, kiếm
tìm. Có điều cuối cùng, trong kiếm tìm, Hoài Thanh đã không tự đánh mất bản thân,
và ông vẫn là ông”
(10)
.
Hành trình nghề nghiệp của Hoài Thanh như tôi hiểu là hành trình tiêu biểu, và
có ý nghĩa điển hình cho giới trí thức Việt Nam thế kỷ XX

×