Hoài Thanh với Viện Văn học (Nhân
100 năm sinh Hoài Thanh (1909-
2009))
Điều có ý nghĩa đối với tôi: 100 năm sinh của Hoài Thanh
(+)
là cùng dịp, là
trùng hợp với 50 năm Viện Văn học. Năm 1959 - đó mới là năm chính thức khai sinh
Viện Văn học - trực thuộc Ủy ban Khoa học Nhà nước, và về sau là Ủy ban Khoa học
xã hội, rồi Viện Khoa học xã hội. Một Viện chuyên công việc nghiên cứu, phê bình,
lý luận văn học với dàn cán bộ sáng lập gồm những tên tuổi rất sáng giá, trong đó có
hai người, trước đó là Thầy của thế hệ chúng tôi ở Đại học; và vào lúc này, một
người là Viện trưởng - tức Đặng Thai Mai, một người là Phó Viện trưởng - tức Hoài
Thanh.
Từ 1959, và một vài năm sau đó, lần lượt đóng vai trò những người có công
đầu xây dựng Viện, là những tên tuổi rất quen thuộc của giới nghiên cứu - học thuật
Việt Nam như Hoàng Ngọc Phách, Cao Xuân Huy, Vũ Ngọc Phan - Hằng Phương,
Trần Thanh Mại, Nam Trân, Hà Văn Đại, Phạm Thiều, Nam Mộc, Vũ Đức Phúc,
Hoàng Trinh trong đó Đặng Thai Mai và Hoài Thanh là hai gương mặt được kính
nể nhất, một người mới ở tuổi 57, một người vừa chẵn 50.
Nhiều năm sau, và cho đến tận bây giờ, trong tôi, lúc nào cũng ủ ấp một niềm
sung sướng, có lúc thật là bâng khuâng về cái hạnh phúc quá lớn, là sinh viên tốt
nghiệp khóa thứ nhất Đại học Tổng hợp; một mình được phân công ngay về Viện,
làm một thành viên bé mọn nhất, như chuột sa chĩnh gạo, mà được cùng sinh hoạt với
những tên tuổi là bậc thầy, hoặc là những bậc thợ cả trên công trường văn chương
chữ nghĩa mà mình đã được biết, được quen thuộc, được ngưỡng mộ từ khi còn là học
sinh, sinh viên Đối với tôi, cho đến bây giờ, tôi vẫn luôn luôn nghĩ, không có nghề
nào không cần đến những bậc thầy, kể cả những nghề buộc phải có những tìm tòi
riêng, mang dấu ấn riêng, với “tính chủ thể” cao trong cá tính, phong cách, giọng
điệu - nói theo ngôn ngữ nghề nghiệp - như lao động văn chương Bởi theo đạo lý
của phương Đông, nếu “nửa chữ cũng là Thầy”, thì việc có một người Thầy ở bên
mình, để cho mình được tiếp xúc, quan sát và nghĩ ngẫm phải nói là một may mắn
lớn, vì nó giúp cho mình không những sớm tránh được sự chọn nhầm nghề, mà còn
rút ngắn được con đường đi, hoặc có thể đến được với những cái đích gần hoặc xa,
mà không để quá muộn. Và nói đến thầy, đúng với tư cách người thầy, trong cái
nghĩa đúng đắn và sâu sắc nhất của từ này, ở giới chúng ta, theo tôi hiểu, đó là sức
hút và sức tỏa từ hai phía: nhân cách và tri thức; cả hai phải là cân bằng, không
nghiêng lệch về mặt nào; cả hai cùng nương dựa, bổ sung cho nhau; và tìm được sự
thể hiện ở cả hai phương diện: vừa là qua các công trình, vừa là trong cách sống;
những công trình đạt đến tầm chuyên gia, và cách sống phải là sự gương mẫu, hoặc ít
nhất cũng phải là người tử tế. Không hiểu có là liều lĩnh hay không khi tôi nói: thật
hiếm có một đơn vị cơ quan hoặc trường học nào hội được nhiều tên tuổi đáng
ngưỡng mộ như Viện Văn học vào nửa đầu những năm 60 (thế kỷ XX) - những tên
tuổi để lại dấu ấn rất sâu cho một thanh niên học việc như tôi, ngay từ khi vào đời và
vào nghề; và tôi nghĩ - nếu như cho đến bây giờ, tôi có được ít nhiều dấu ấn nghề
nghiệp thì cái nguyên cớ đầu tiên là được hưởng bầu không khí học thuật của Viện;
và nhận được những bài học cơ bản về nghề, một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, từ hai
bậc Thầy, trong nghĩa hẹp và nghĩa rộng của nó, là Đặng Thai Mai và Hoài Thanh.
Từ những hiểu biết và cảm xúc như trên, tôi muốn trình bày, trước hết, nhân
dịp này, về Hoài Thanh, trong tư cách người Thầy và người lãnh đạo Viện Văn học
trong 10 năm ông công tác ở Viện (1959-1969).
*
Ở tuổi 50 về Viện Văn học giúp Viện trưởng Đặng Thai Mai trong cương vị
cấp Phó, Hoài Thanh vừa có đủ uy tín học thuật, kinh nghiệm và sự từng trải trong
nghề nghiệp, vừa có năng lực bao quát và sâu sát trong công việc quản lý hành chính
cơ quan - điều mà Viện trưởng Đặng Thai Mai phải “hàm ơn”. Mười năm ông góp
công chủ yếu khởi động và thúc đẩy công việc nghiên cứu và phê bình văn học của
một Viện lớn trong Uỷ ban Khoa học Nhà nước, và về sau là Viện Khoa học xã hội;
và không hẳn chỉ là trong Ủy ban Khoa học hoặc Viện Hàn lâm mà còn là trong giới
nghiên cứu và giảng dạy văn học cả nước nói chung. Hãy nghe Đặng Thai Mai viết
sau ngày Hoài Thanh qua đời: “Tôi muốn nói ngay rằng nếu như trong thời kỳ chúng
tôi được Đảng giao phó cho công tác phụ trách cơ quan, công việc có phần nào trôi
chảy và hoạt động của Viện có ghi được ít nhiều thành tích thì phần lớn công lao phải
nói là của đồng chí Hoài Thanh. Tinh thần làm việc cần cù, tính đảng vững chắc, óc
tổ chức rộng rãi và chu đáo, vốn tri thức phong phú và đặc biệt thái độ điềm đạm của
anh thật sự đã đóng góp nhiều vào bước trưởng thành đầu tiên của Viện ”
(1)
.
Trong Bản Tự thuật Hoài Thanh viết ngày 21-5-1970, ở phần khai Quá trình
hoạt động cách mạng
(2)
thời kỳ 1959-1969, ông ghi như sau: “Trong 10 năm làm
Viện phó Viện Văn học” đã “góp phần xây dựng Viện, góp phần xây dựng tinh thần
đoàn kết giữa Viện trưởng và Viện phó, giữa các cán bộ trong Viện, giữa Viện và các
trường Đại học”. Còn “vấn đề đoàn kết giữa một số anh em ở Viện và một số anh em
ở Hội Nhà văn” thì “chưa thành công lắm, nhưng tôi luôn luôn cố gắng làm sao giảm
bớt những sự va chạm vô ích”.
Có lẽ những “chuyện phiền”, thậm chí là chuyện “bị vu cáo, bị nói oan”
(3)
mà
ông đã gặp trong phê bình có liên quan ít nhiều đến mối quan hệ này, tất nhiên không
phải chỉ riêng với ông, mà còn cả với một đội ngũ cốt cán của Viện, vào một thời
Viện được giao chuyên công việc phê bình. Ấy là thời có khẩu hiệu “Toàn Viện làm
Tạp chí”, tờ Tạp chí ra hàng tháng, duy nhất làm nhiệm vụ nghiên cứu, phê bình văn
học trên miền Bắc; ngay trong chiến tranh, số phát hành có lúc lên mỗi kỳ hơn một
vạn bản.
Trong tư cách Thư ký Toà soạn (tức Tổng biên tập) Tạp chí Văn học, ông viết:
“Tạp chí Văn học được xuất bản đều đặn và không phạm sai lầm nào nghiêm trọng.
Do đó đã góp phần thúc đẩy công tác nghiên cứu, lý luận, phê bình. Với cách làm
việc cần cù, thận trọng, cách góp ý kiến tỉ mỉ với từng bài, có khi với từng câu, từng
chữ, tôi đã góp phần đào tạo và bồi dưỡng nhiều cây bút trẻ về nghiên cứu, lý luận,
phê bình”.
Tôi thấy cần thiết phải dừng lại ở đây để nói về phong cách làm việc cẩn thận,
chu đáo ở Hoài Thanh đối với tất cả mọi người viết cho Tạp chí Văn học, đặc biệt đối
với lực lượng trẻ của Viện, cũng như ở ngoài cơ quan. Có thể nói, không bài viết nào
của lớp trẻ chúng tôi – những người mới về Viện ở tuổi ngoài 20, lại không nhận
được trên trang bản thảo của mình những nét gạch nhỏ, có lúc chi chít ở bên lề, để,
sau cuộc gặp với ông mà nhận ra những vụng về hoặc sai sót về ý và lời; để với
trường học viết văn đó mà trưởng thành trong nghề viết của mình. Những nét gạch
nhỏ như những gạch nối (trait d’union) ấy là đặc trưng cho cách duyệt bài của Hoài
Thanh, chứ ít khi là sự thò bút để gạch xoá và viết thay. Phần tôi, là một người học
việc bình thường không có gì xuất sắc, trong mười năm đầu về Viện, tôi đã có cái
may mắn, qua sự nghiêm khắc của bậc thầy Hoài Thanh mà thấy rõ cái vụng dở và
lủng củng trong câu chữ; cái lù mù sương khói của ý tưởng; cái lối làm văn vô duyên
mà dần dần nhập môn được cái quy trình phải viết đúng, viết không nhàm lặp – ý và
lời, viết mà phải biết mình đang viết gì trước khi có văn, chưa nói đến văn hay.
Nghĩa là muốn có văn hay trước hết phải viết đúng, và đúng và hay thường là đồng
nghĩa với sự trong sáng và giản dị - nó là phong cách viết rất đặc trưng của Hoài
Thanh.
Như vậy là về phần tôi – tôi không dám nói đến các anh chị đồng nghiệp khác
cùng thế hệ – tôi đã là người học nghề vụng về và chăm chỉ trước các chỉ dẫn cụ thể
và nghiêm khắc của Hoài Thanh. Đồng thời là một người đọc rất mực chuyên cần các
bài viết của ông; đọc để học có lúc gần như thuộc nhiều đoạn văn trong các bài của
ông về Truyện Kiều, về Từ ấy, về Thi nhân Việt Nam, và còn là để tạo hứng thú mỗi
khi bắt tay vào một bài viết mới. Đọc Hoài Thanh, ngẫm nghĩ về câu văn Hoài
Thanh, tôi hiểu vì sao người rất dụng công trong nghệ thuật viết, nhằm sao cho đạt
cái đẹp của ngôn từ phê bình, hẳn đã không ít lần phải khó chịu và khổ tâm đối với sự
viết nhàm, viết ẩu, viết lấy được, viết không chút công phu, có thể nói là tràn lan
trong thế giới chữ nghĩa. Cái nỗi khổ tâm ông từng nói đến, từ rất sớm, năm 1935,
trong bài Phê bình văn: “Ở xã hội bây giờ mỗi lần có thể viết một câu văn nhảm mà
không viết, tôi cho là làm một việc đại nghĩa, vì công chúng ngày nay đã phải xem
nhiều văn nhảm quá rồi, không nên làm người ta mất thêm thì giờ nữa”
(4)
.
Tưởng chẳng khó khăn gì trong việc so sánh tình hình ấy với thực trạng văn
chương bây giờ.
Ở bản Tự thuật đã nói trên, trong phần khai quá trình công tác ở Viện, ông có
nêu một khuyết điểm: “Chưa thật chủ động và tích cực trong vấn đề lịch sử văn học”.
Chính do yêu cầu viết lịch sử văn học đặt ra cho một Viện nghiên cứu mà từ
giữa năm 1969, ông được chuyển sang Hội Nhà văn, làm Chủ nhiệm báo Văn
nghệ cho đến khi nghỉ hưu. Công việc của ông ở Viện được giao cho ba vị Viện phó,
và Tạp chí Văn học từ 1970, chuyển sang hai tháng một kỳ.
Nghĩ cũng lạ, người từng tham gia viết Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam từ
nửa sau những năm 50 với Nhóm Văn Sử Địa, cùng Văn Tân, Nguyễn Hồng Phong,
Nguyễn Đổng Chi lúc này lại tránh, hoặc quay lưng với công việc viết văn học sử.
Còn những người tiếp tục sau ông thì, sau một bộ sử chỉ mới có Tập Một, vào năm
1980 cho đến nay đã gần 30 năm, vẫn còn ngổn ngang nhiều bề