Trường ðại học nông nghiệp Hà Nội Giáo trình Dâu tằm – Ong mật ………………
106
hoa các enzim invectaza. Men này có tác dụng chuyển hoá ñường saccaro thành ñường ñơn là gluco
và fructo ñồng thời những men khác do ong tiết ra biến ñổi một phần gluco thành axit gluconic. Vì
vậy mật luôn có phản ứng axit (mật ong chín có pH khoảng 3,9). Khi mật chín hàm lượng nước trong
mật ong chỉ còn 18- 20%, ong ñổ ñầy các lỗ tổ phía trên và vít nắp tổ bằng một màng sáp mỏng. Mật
chín có thể bảo quản ñược rất lâu. Quá trình chín của mật diễn ra khoảng từ 9- 10 ngày, tuỳ thuộc vào
nguồn hoa, thời tiết và thế ñàn ong. Ở ong A.cerana ñôi khi mật chín có tỉ lệ nước cao hơn ñạt 22 -
24%. ðường saccaro trong mật chín vào khoảng 1- 4%, ñường gluco và fructo tăng ñến 70- 75%.
Hàm lượng ñạm thấp 0,1- 0,4%, muối khoáng 0,2%, axit hữu cơ 0,1- 0,4%. Nếu quay mật nhiều lần
(3- 4 ngày một lần) khi mật chưa chín, hàm lượng nước rất cao từ 25- 28%. Mật này dễ bị lên men,
không bảo quản ñược lâu.
- Thu hoạch phấn.
Vào thời gian trong ñàn có nhiều ấu trùng, có khoảng 50% ong thu hoạch trở về tổ với các
viên phấn có màu sắc khác nhau. Màu của viên phấn phụ thuộc vào loài hoa (phấn ngô, bí ñỏ màu
vàng, phấn lúa vàng nhạt, phấn cỏ rác màu ñỏ, phấn mùi màu tím, phấn cà phê màu nâu sẫm ). Quan
sát màu của viên phấn do ong mang về người nuôi ong có thể biết sự nở hoa của các cây nguồn mật,
phấn khác nhau và bán kính bay của ong.
Khi thu hoạch phấn, ong dùng vòi và hàm trên ñể liếm hoặc cắn rách bao phấn dính vào các
lớp lông của cơ thể. Sau ñó nó dùng chân trước và chân giữa ñể chải phấn ở ñầu và cơ thể, rồi chuyển
ñến chân sau. Bàn chải chân sau vê phấn hoa thành những viên nhỏ. ðôi khi ong nhả ra một chút mật
hoa ñể làm cho phấn dính ñược rồi chuyển vào “giỏ ñựng phấn” ở mặt ngoài ñốt chày chân sau. Giỏ
ñựng phấn có một sợi lông cứng ở trung tâm có tác dụng giữ viên phấn ở ñúng vị trí.
Trọng lượng của viên phấn hoa mang về tổ phụ thuộc vào sự phong phú của phấn trên cây và
thời tiết. Trời lặng gió, một giỏ phấn hoa của ong A.mellifera là 16 - 20 mg, khi có gió là 8 - 12 mg.
Ong A.cerana lấy phấn cây mù tạt giỏ phấn 8 mg còn lấy phấn ngô là 19 mg (Naim và Bisht,1979).
Thông thường ong chỉ lấy một loại phấn và lấy phấn nhiều nhất vào buổi sáng từ 8- 11h. ða số ong
thu hoạch mang về tổ hoặc là mật hoặc là phấn. Tuy nhiên khi nguồn mật không phong phú, gần 1/ 2
số ong mang về tổ cả mật và phấn.Thời gian lấy một giỏ phấn thường nhanh hơn lấy một diều mật.
Trường hợp cây vừa có mật vừa có phấn, ong lấy mật hoa trộn với phấn ñể cho phấn hoa ẩm có thể
cho vào giỏ ñựng phấn. Có khi cây chỉ cho phấn (như ngô, lúa, cỏ rác ) ong phải hút một giọt mật tr-
ước khi rời tổ. Thời gian lấy ñầy một giỏ phấn từ 6 - 10 phút cho ñến 187 phút. Một ngày một con ong
có thể lấy từ 6 - 47 chuyến, nhưng ong thường thích lấy mật hơn là lấy phấn. Sau khi ñem phấn về ong
ñể phấn vào trong lỗ tổ . Các con ong khác trẻ hơn sẽ ép chặt phấn vào lỗ tổ. Nhờ ảnh hưởng của vi
sinh vật lên men lactic, một phần ñường thêm vào phấn hoa biến ñổi thành axit lactic. Do ñó phấn hoa
có thể bảo quản khá lâu. Phấn hoa là nguồn protein, lipit, muối khoáng và vitamin chủ yếu ñối với
ong. Khi thiếu phấn hoa, ong chúa giảm ñẻ , ong nuôi ấu trùng ít và ngừng tiết sáp xây tổ. Woyke
(1976) thấy rằng vào vụ mật ong A.cerana nuôi ñược 95% số trứng cho ñến khi vít nắp, nhưng khi có
nguồn hoa rải rác chỉ là 50%, và vào mùa thiếu thức ăn tỷ lệ này bằng không, là do khi thiếu phấn, ong
thợ ăn một phần hoặc toàn bộ ấu trùng. Có tập tính trên là do ong dự trữ và sử dụng lại lượng protein
trong mùa thiếu thức ăn.
Trường ðại học nông nghiệp Hà Nội Giáo trình Dâu tằm – Ong mật ………………
107
- Lấy nước.
Khi trong tự nhiên không có mật hoa, phải sử dụng mật ong dự trữ, ong lấy nước về ñể làm
loãng mật cho ấu trùng ăn. Khi trời khô hanh, ong lấy nước về ñể tăng ñộ ẩm khu vực nuôi ấu trùng.
Khi trời nóng nực, ong lấy nước về ñể làm mát tổ vì vậy vào tháng 6 tháng 7 có rất nhiều ong ñi lấy
nước.Một con ong có thể lấy ñược từ 50 - 100 chuyến trong một ngày. Ong cũng vận chuyển nước
trong diều mật; khi về tổ chúng trao cho một số ong tiếp nhận. Trong ñàn, ong không dự trữ nước vào
các lỗ tổ như dự trữ mật và phấn mà có một số ong dự trữ nước trong diều mật. Về mùa hè cần tạo cho
ong nguồn nước nhân tạo ở trong trại ñể ong lấy nước sạch, không phải bay xa, tiết kiệm ñược năng
lượng. Những ngày quá nóng có thể cho nước vào máng ñặt sẵn trong ñàn.
Ngoài việc thu hoạch mật, phấn hoa và nước ra, ong A. mellifera còn lấy cả các nhựa dính trên
chồi một số loại cây về chế biến thành keo ong ñể thu hẹp cửa tổ, bịt những chỗ hở của thùng. Ong A
cerana không lấy keo.
• ðời sống ong chúa.
+ Sự phát triển từ trứng ñến trưởng thành
Ong chúa cũng phát triển từ trứng thụ tinh như ong thợ nhưng sự phát triển của nó có một vài
sai khác. Theo nguồn gốc ra ñời của chúa có thể chia ra : chúa chia ñàn, chúa thay thế và chúa cấp tạo.
Các ấu trùng ong chúa chia ñàn và thay thế ñược phát triển trong nền mũ chúa xây dựng một cách ñặc
biệt, thường nằm ở rìa bên hoặc mép dưới của bánh tổ.Từ các nền mũ chúa theo sự lớn lên của ấu
trùng, ong thợ xây thành lỗ tổ chúa có hình hạt dẻ. Khi ñàn ong mất chúa ñột ngột, ong chọn một số lỗ
tổ ấu trùng non dưới 3 ngày tuổi, mở rộng các lỗ tổ này rồi xây dần lên thành mũ chúa.
Trong suốt giai ñoạn ấu trùng, ong thợ cho ấu trùng ăn bằng sữa chúa một cách dư thừa.Trong
khi ñó ở ong thợ từ khi mới nở ñến 2,5 - 3 ngày tuổi ấu trùng chỉ ñược ăn một lượng sữa vừa ñủ. Mặt
khác thành phần của sữa ong chúa cũng khác với sữa ong thợ. Hàm lượng ñường trong sữa ong chúa
là 34% và ñược duy trì từ 1 ngày ñến 4 ngày tuổi, còn ở sữa ong thợ là 12% và ñược ăn như vậy trong
1,25 ngày. (Shuel và Dixon 1959). Chính hàm lượng ñường cao này kích thích ấu trùng ong chúa ăn
nhiều thức ăn hơn và nó ảnh hưởng ñến hạch Corpora allata ở ñầu của ấu trùng. Hạch này tiết ra
hoocmon kích thích sâu non (Juvenile hoocmon) là neotenin. ðến ngày thứ 3 của giai ñoạn ấu trùng
mức ñộ neotenin cao sẽ dẫn ñến sự phân hoá thành ong chúa, còn nếu mức ñộ neotenin thấp sẽ dẫn
ñến thành ong thợ (Beetsma, 1979). Vì vậy người nuôi ong khi tạo chúa thường chọn ấu trùng dưới 1
ngày tuổi và tốt nhất từ 12- 18 h tuổi ñể ấu trùng ñược ăn sữa chúa. Qua 5 ngày ong thợ vít nắp mũ
chúa lại. Lúc ñó trong mũ chúa vẫn còn lượng thức ăn dư thừa, ấu trùng sẽ vừa kéo kén vừa ăn sau ñó
sẽ lột xác hoá nhộng. Ong nuôi dưỡng cho ấu trùng ong chúa ăn sữa ong chúa nhiều hơn so với ấu
trùng ong thợ là do lỗ tổ của ong chúa hướng xuống phía dưới. Nhộng của ong chúa sản sinh ra lượng
pheromon khá nhiều (30 µg) ñủ ñể hấp dẫn ong thợ ñến ủ ấm. Khi hoàn thành giai ñoạn phát triển,
ong chúa tự cắn nắp mũ chúa và chui ra ngoài.
+ Chúa tơ và chuyến bay giao phối.
Sau khi vũ hoá việc ñầu tiên của ong chúa tơ là ñi tìm các mũ chúa già khác, dùng hàm trên
cắn vào vách mũ chúa rồi dùng ngòi ñốt ñể tiêu diệt các con ong chúa sắp vũ hoá nằm trong ñó. Nếu
ong chúa ñược tạo ñể chuẩn bị chia ñàn thì ong thợ bâu kín xung quanh mũ chúa ñể ong chúa vũ hoá
trước ñó không giết ñược.Vào ngày ñầu tiên ong chúa có xu tính âm với ánh sáng. Nó thường lẩn
Trường ðại học nông nghiệp Hà Nội Giáo trình Dâu tằm – Ong mật ………………
108
tránh ánh sáng ở cửa tổ. Vài giờ ñầu sau khi chúa vũ hoá, ong thợ hầu như không ñể ý tới chúa tơ. Sau
ñó chúng dùng râu chạm vào ong chúa, chải chuốt cho nó, cho chúa ăn rồi có những hoạt ñộng quấy
rầy, xâm kích ong chúa như rung lưng, lắc cánh. Hoạt ñộng xâm kích càng tăng lên làm cho ong chúa
hoạt ñộng hơn, nhanh nhẹn hơn. Nó tỏ ra tức giận, trèo qua ong thợ, thậm chí ñốt chết cả ong thợ.
Bằng những việc làm này ong chúa ñã thiết lập vai trò thống trị của nó (Werver,1980) hơn nữa việc
tập luyện sẽ làm ong chúa khoẻ hơn, có khả năng bay tốt. Khi ñược 3- 5 ngày tuổi, nó có xu tính
dương với ánh sáng, bò ra ngoài cửa tổ và bay ñịnh hướng lần ñầu trong vòng vài phút. Những lần bay
về sau lâu hơn ñến 30 phút. Ong chúa thường bay ñi giao phối vào những ngày trời nắng ấm, nhiệt ñộ
không khí cao hơn 20
oC
, trời ít gió. Ong chúa thường bay giao phối cách tổ khoảng 2 km, ít khi xa hơn
5 km (Crane 1990) và mỗi chuyến bay giao phối kéo dài từ 22,5 - 30 phút. Ong chúa A.cerana thường
bay ñi giao phối, sau khi vũ hoá là 5 - 7 ngày và ñẻ sau khi vũ hoá là 8- 12 ngày, còn ở ong
A.mellifera là 6 - 9 ngày và 8- 13 ngày. Thời gian bay ñi giao phối nhiều nhất của ong A.cerana gần
giống như của ong A.mellifera (A.cerana là 13h - 14h, ong A.mellifera là 12h30 - 13h30 .Verma
1986). Nhưng theo Mardan, ong A.cerana giao phối nhiều nhất vào khoảng 15 h là khi mặt trời ở ñúng
góc ñộ là 45
o
. Nếu như thời tiết xấu, sự giao phối của ong chúa chậm lại ñôi khi tới 30 - 35 ngày như-
ng ong chúa giảm khả năng ñẻ và tuổi thọ ngắn. Khi bay giao phối, ong chúa tiết pheromon ñể hấp
dẫn ong ñực và nó sẽ giao phối với những con ong ñực ñuổi kịp nó. Ong chúa thường giao phối 1 - 3
lần. Một ong A.mellifera giao phối với 8 - 10 ong ñực (Trjasko 1956;Woyke 1955 Ruttner 1985) như-
ng một ong chúa A.cerana giao phối với khoảng 15 - 30 ong ñực (Woyke 19755 Koeniger và
Punchihewa 1994), do lượng tinh dịch ở ong ñực A.cerana ít hơn. Một ong ñực A.cerana phóng ñược
khoảng 0,35 ml tinh dịch chứa 1,20 triệu tinh trùng nghĩa là ít hơn ở một ong ñực A.mellifera từ 5 - 6
lần.( Verma, 1990). Muốn thụ tinh nhân tạo cho ong chúa A.cerana phải lấy tinh trùng từ 40 - 60 ong
ñực (Woyke 1972) vì thế các chương trình chọn lọc giống ong A.cerana cần phải tiến hành bằng cách
giao phối tự nhiên ở khu vực cách li về ñịa lí.
Sau khi giao phối 1 - 4 ngày, ong chúa bắt ñầu ñẻ trứng. Khi ñẻ, ong chúa tìm các lỗ tổ trứng
ñã ñược dọn vệ sinh ñể ñẻ. Nó chui ñầu vào lỗ tổ kiểm tra và ñưa hai chân trước ra ño lỗ tổ (Koeniger,
1970). Bằng cách này ong chúa biết ñược ñấy là lỗ tổ ong thợ hay lỗ tổ ong ñực mà ñẻ trứng thụ tinh
hay không thụ tinh. Nếu là lỗ tổ ong thợ, van túi trữ tinh mở ra, và một trong những tinh trùng ñược
nhả ra sẽ thụ tinh cho trứng. Nếu là lỗ tổ ong ñực van túi trữ tinh sẽ ñóng lại, trứng sẽ không ñược thụ
tinh, và chỉ nở ra ong ñực. Khả năng ñẻ trứng của ong chúa phụ thuộc vào tuổi của ong chúa, thế ñàn,
dự trữ thức ăn, số lỗ tổ trứng và ñiều kiện mật phấn bên ngoài. Ong chúa càng già sức ñẻ trứng của nó
càng giảm, tỷ lệ trứng không thụ tinh cao. ðôi khi một số chúa chưa già nhưng giao phối vào lúc thời
tiết không thuận lợi nên nhận ñược ít tinh trùng thì sức ñẻ trứng cũng giảm nhanh.
• ðời sống của ong ñực.
+ Sự phát triển từ trứng ñến trưởng thành.
Khác với ong chúa và ong thợ, ong ñực ñược phát triển từ trứng không thụ tinh. Cũng giống
như ở ong thợ, trong 2,5 - 3 ngày ñầu tiên ấu trùng ong ñực ñược ăn bằng thức ăn ấu trùng nhưng
thành phần có khác gọi là “sữa ong ñực”. Sữa ong ñực cho ấu trùng 1 - 2 tuổi ăn có hàm lượng ñường
7,5 % và khi ấu trùng ñược 3 - 5 ngày tuổi là 24,9%. (Haydak 1957). Sau 3 ngày tuổi, ấu trùng ong
ñực ñược ăn thêm mật và phấn hoa. Giai ñoạn ấu trùng ong ñực kéo dài 7 ngày nên tiêu tốn thức ăn
Trường ðại học nông nghiệp Hà Nội Giáo trình Dâu tằm – Ong mật ………………
109
gấp 2 lần ấu trùng ong thợ và kích thước của nó cũng tăng lên nhiều hơn. Tuy nhiên tỷ lệ chết của ong
ñực ở giai ñoạn ấu trùng cao hơn tỷ lệ chết của ong thợ rất nhiều. Theo Woyke 1977:
Tỷ lệ chết ấu trùng ong thợ ong ñực
mùa xuân 11% 13%
mùa hè 19% 25%
mùa thu 33% 47%
Theo Levenet (1956) ñể nuôi 1000 ong ñực A. mellifera từ trứng ñến trưởng thành cần 750 gr
mật ong và 450 gr phấn hoa, và trong suốt cuộc sống của mình, số ong ñực trên tiêu thụ hết khoảng
6,32 kg mật ong. Theo tính toán của những người nuôi ong, ñể tạo 1000 ong ñực trong ñàn thì giảm
mất 7 kg mật. Tuy nhiên theo số liệu tính toán ngày nay số lượng mật ong tiêu tốn cho 1 ấu trùng còn
lớn hơn nhưng thực tế những ñàn ong có nhiều ong ñực năng suất mật vẫn không giảm, bởi vì trong
ñàn ong có nhiều mối tương tác mà chúng ta vẫn chưa hiểu hết.
Sau 7 ngày, ong nuôi dưỡng ngừng cho ăn và vít nắp lỗ tổ lại. Lỗ tổ ong ñực thường nằm ở
các góc phía dưới của bánh tổ. Nắp vít lỗ tổ ong ñực nhô cao hơn so với nắp vít của ong thợ. Sau khi
vít nắp lỗ tổ ñược 2 - 3 ngày trên nắp vít lỗ tổ ong ñực A. cerana xuất hiện 1 lỗ thủng nhỏ ở chính giữa
do ong thợ lấy bớt sáp ñi. Lý do hình thành lỗ nhỏ ñó còn chưa ñược rõ (Ruttner, 1988). Thời gian
phát triển từ trứng ñến trưởng thành của ong ñực là 24 ngày ñối với ong A. mellifera và 22 - 23 ngày
ñối với ong A. cerana. Giai ñoạn phát triển của ong ñực dài hơn so với ong chúa và ong thợ vì giai
ñoạn nhộng kéo dài hơn. ðiều ñó làm cho các pha ấu trùng ve Varroa phát triển thuận lợi trên ấu
trùng ong ñực.
Ong ñực lưỡng bội: Ong ñực ñược sản sinh từ những trứng không thụ tinh. ðó là những con
ong ñực ñơn bội, nghĩa là chúng chỉ có mẹ, không có bố và chỉ có một nửa số nhiễm sắc thể là 16 chứ
không phải là 32 nhiễm sắc thể như ở con cái. (Ong chúa và ong thợ là những con ong cái lưỡng bội vì
có cả bố và mẹ). Ở những ñàn ong mà chúa giao phối cận huyết có những con ong ñực lưỡng bội phát
triển từ trứng thụ tinh mà ong chúa ñẻ ở lỗ tổ ong thợ. Khi dưới 1 ngày tuổi, ấu trùng của chúng tiết ra
chất pheromon, ñó là “chất ăn”. Những ong chúa cận huyết ở ong A.cerana cũng ñẻ ra trứng và ấu
trùng ong ñực lưỡng bội nhưng những ấu trùng này tiết ra ít “ chất ăn” hơn và chúng chỉ bị ăn thịt ở 1 -
4 ngày tuổi (Woyke 1977, 1980). “Chất ăn” sản sinh ra khi ấu trùng còn rất nhỏ ,có tác dụng ñể ñàn
ong khỏi lãng phí thức ăn nuôi chúng. Ỏ ong mật không có nhiễm sắc thể giới tính riêng biệt. Theo
Woyke (1976) giới tính của ong ñực xác ñịnh bởi 12 alen ở locus giới tính X, kí hiệu là Xa, Xb.Xc
Con cái phát triển từ trứng thụ tinh lưỡng bội dị hợp tử ở locus X. Ong ñực phát triển từ trứng không
thụ tinh thì phát triển bình thường. Trứng thụ tinh ở trạng thái lưỡng bội ñồng hợp tử ở locus X sẽ nở
thành ong ñực lưỡng bội. Hiện tượng này xảy ra khi ong chúa giao phối với ong ñực cận thân.
+ Ong ñực trưởng thành và sự bay giao phối.
Sau khi vũ hoá ong ñực thường ñậu trên các cầu bánh tổ có ấu trùng, nơi có nhiệt ñộ cao 35
oC
ñể thúc ñẩy sự hình thành tinh tử. Suốt 3 - 4 ngày ñầu tiên nó không tự lấy thức ăn ñược mà ñược ong
thợ nuôi dưỡng bằng phấn hoa và mật ong. Dần dần nó có thể tự lấy thức ăn trong các lỗ tổ không vít
nắp. Ong ñực dành 70 – 80% thời gian ñể nghỉ ngơi hoàn toàn, thời gian còn lại bò ñi ñây ñó trong tổ.
Khi ñược 6 - 10 ngày tuổi, ong ñực thực hiện những chuyến bay ñầu tiên ñể bài tiết và ñịnh hướng vị
Trường ðại học nông nghiệp Hà Nội Giáo trình Dâu tằm – Ong mật ………………
110
trí tổ, ở ngày thứ 12 – 14 sau vũ hoá ong ñực thành thục về mặt sinh dục và sẽ bay ñi giao phối vào
tuổi 15 - 16 ngày (Hestmnamek, 1962).
+ Sự giao phối giữa ong chúa và ong ñực.
Khi ong chúa tơ bay tới ñiểm hội tụ ong ñực, rất nhiều ong ñực bay theo nó giống như một cái
ñuôi sao chổi ở sau ong chúa. Cuối cùng một trong số ong ñực sẽ ñuổi kịp ong chúa, dùng chân trước
và chân giữa ôm lấy lưng còn chân sau ôm lấy bụng của ong chúa. Tiếp theo nó cong bụng lộn cơ
quan giao cấu vào buồng ngòi ñốt ñã mở của ong chúa, rồi nó trở nên tê liệt, chân rời ra, cánh không
vẫy nữa, cuối cùng nó lật về phía sau. Ong chúa tiếp tục bay mang theo ong ñực bị tê liệt. Lúc này tinh
trùng sẽ ñi vào ống dẫn trứng chung và ñôi ống dẫn trứng ñơn. Sau ñó ong ñực rời ra, nhưng ñể lại các
nút hình thành từ phần còn lại của dương vật và chất nhày của ong ñực ñông lại khi gặp không khí,
ngăn không ñể tinh trùng thoát ra. Chỉ vài giây sau con ong ñực khác lại bám vào ong chúa ñể giao
phối như con ong ñực trước và tất nhiên nó phải gạt bỏ chất nhầy do con ong ñực trước ñể lại. Các ong
ñực sau khi giao phối sẽ bị chết.
Khi thấy ñã ñủ lượng tinh trùng, ong chúa bay về tổ với dấu hiệu do ong ñực ñể lại gọi là “dấu
hiệu giao phối”. Nó tự bỏ dấu hiệu giao phối trong vòng 3 - 5 phút bằng cách bò trên bánh tổ ñể thành
lỗ tổ gạt vào dấu hiệu giao phối làm nó tụt ra. ðôi khi ong thợ giúp chúa loại bỏ dấu hiệu giao phối
này. Khoảng 1 - 4 ngày sau giao phối, ong chúa bắt ñầu ñẻ trứng.
• Cấu trúc tổ ong.
Tổ ong là nơi bảo vệ ong khỏi các kẻ thù và mưa gió. Trong tự nhiên ong A.mellifera và
A.cerana thường làm tổ trong hốc cây, hốc ñá.
+ Cấu tạo và sự sắp xếp bánh tổ: Tổ ong A.mellifera và ong A.cerana gồm có vài bánh tổ xếp thẳng
ñứng và song song với nhau (5 - 8 bánh tổ). Chiều dày bánh tổ chỗ nuôi ấu trùng là 20 – 21 mm và
chỗ chứa mật là 25 - 30 mm. Khoảng cách giữa hai bánh tổ kề nhau “ khoảng cách con ong” là 7,5
mm. Giữa các bánh tổ có vách chung từ ñó có các lỗ tổ ñi về hai phía ngược chiều nhau. Lỗ tổ ong có
hình lục giác ñều, ñáy lỗ tổ nằm ở vách chung ñồng thời lại là ñáy của 3 lỗ tổ ở phía ñối diện. Cấu tạo
như vậy tạo nên ñộ bền của tổ rất cao và lỗ tổ có sức chứa lớn nhất, tiết kiệm ñược nhiều sáp xây dựng
nhất. Trên bánh tổ có các lỗ tổ ong thợ, ong ñực, ong chúa và lỗ tổ ñựng mật. Số lượng lỗ tổ ong thợ là
nhiều nhất. Kích thước lỗ tổ phụ thuộc vào loài ong và nòi ong mà khác nhau. ở ong A.mellifera dao
ñộng từ 4,7- 5,4mm. ở ong A.cerana là từ 4,2 – 4,87 mm. Ong A.cerana ở phía Bắc nước ta có ñường
kính là 4,6 mm còn ong A.cerana ở phía nam là 4,3 mm, ong ñực ở phía bắc là 5,4 mm ong ở phía
nam là 5,1 mm. Các lỗ tổ có xu hướng chếch lên phía trên một chút. Các lỗ tổ ñựng mật có ñộ chếch
lớn hơn. Các lỗ tổ ong ñực thường nằm ở phía dưới và thường chỉ xuất hiện vào mùa chia ñàn. Trong
mùa phát triển, 3/ 4 số lỗ tổ ñược dùng ñể nuôi ấu trùng, 1/ 4 dành ñể chứa mật phấn. Các lỗ tổ ong
thợ ñược vít nắp phẳng còn lỗ tổ ong ñực lồi lên thành hình nón. Vào mùa mật, số lỗ tổ nuôi ấu trùng
giảm xuống còn số lỗ tổ ñựng mật ñược tăng thêm.
Việc nghiên cứu cấu tạo tổ các loài ong có ý nghĩa rất quan trọng trong việc chế tạo ra các loại
thùng ong thích hợp. ðặc biệt dựa vào khoảng cách giữa hai bánh tổ ñể ñịnh chiều rộng xà trên của
thanh xà và khung cầu, ño thể tính tổ ong tự nhiên, diện tích bánh tổ ñể quy ñịnh kích thước thùng ong
cho thích hợp. Ví dụ xà cầu ong A.mellifera cần phải to hơn, thể tích thùng phải lớn hơn ong A.cerana.
Trường ðại học nông nghiệp Hà Nội Giáo trình Dâu tằm – Ong mật ………………
111
Hình 6.6 - Bánh tổ ong.
+ Sự già hoá của bánh tổ và
hoạt ñộng xây dựng bánh tổ
mới.
Bánh tổ mới xây,
mềm dẻo có màu trắng hoặc
vàng sáng, sau một thời gian
nuôi dưỡng ấu trùng, màu của
bánh tổ sẫm ñi do các áo kén,
chất cặn bã trước khi ấu trùng
hoá nhộng thải ra. Vách tổ
hẹp lại, bánh tổ trở nên già cứng, không có mùi thơm như trước. Theo Mikhailop,(1927) ñường kính
lỗ tổ ong thợ có 17 - 21 thế hệ ong ra ñời hẹp hơn 5 - 6% về thể tích. Khi lỗ tổ có 68 thế hệ ra ñời thì
khối lượng ong thợ ra ñời từ ñó giảm ñi 18,8%. Ong A.cerana không thích các bánh tổ quá cũ vì có
mùi hôi, ong chúa không thích ñẻ trứng, sâu ăn sáp dễ xâm nhập. Ở một số ñàn ñông quân, ong thợ
cắn bỏ các lỗ tổ cũ cho ñến tận lớp ñáy rồi xây lại các lỗ tổ mới. Do ong A.cerana dọn vệ sinh ở ñáy
thùng kém, lớp sáp vụn do ong cắn ra lại hấp dẫn bướm sâu ăn sáp ñến ñẻ trứng. Từ ñó sâu non lại nở
ra, ăn sáp rồi bò vào các bánh tổ khác. Nếu số lượng sâu ăn sáp nhiều có thể làm ñàn ong bỏ tổ bốc
bay. Vì vậy cần phải thường xuyên dọn vệ sinh ñáy tổ và thay khoảng 1/ 2 số bánh tổ trên các ñàn ong
của trại trong một năm.
Quá trình xây tổ mới do ong non ñảm nhiệm, sáp ñược tiết ra từ các tuyến sáp ở 4 ñốt bụng
cuối cùng của ong thợ. Trong 3 ngày ñầu tiên của cuộc sống, các tế bào tiết sáp ñược tăng dần về kích
thước và ñạt cực ñại vào lúc ong ñược 12 - 18 ngày tuổi. Sau ñó hoạt ñộng của tuyến sáp ngừng lại.
Việc tiết sáp xây tổ phụ thuộc vào tình hình ñàn ong và nguồn mật phấn trong tự nhiên. Người ta ước
tính rằng ñể sản xuất ra ñược 453 g sáp ong phải tiêu tốn 3,8 kg mật ong. Khi xây tổ, ong hình thành
nên các dây ong ở chỗ xây tổ. Chúng dùng các cựa ở chân sau lấy sáp ra khỏi gương sáp chuyển lên
chân trước rồi ñưa lên hàm nhai, nghiền trộn với nước bọt. Sau vài phút sáp trở nên có hình tròn nhỏ,
nó ñược ñặt lên bánh tổ. Cục sáp có thể nằm ở ñó hoặc lại ñược ong thợ khác lấy ñi nghiền lại. Trong
thực tế ñể xây ñược một lỗ tổ phải có sự tham gia của hàng trăm con ong, mà mỗi một con chỉ tham
gia chưa ñến 1 phút. Từ các dây ong hình thành nên các miếng bánh tổ nhỏ, dài mà ong tiếp tục xây
dài ra và nối lại với nhau thành bánh tổ mới. Ong xây bánh tổ tích cực nhất ở chỗ bánh tổ có nhiều ấu
trùng mở nắp do ở ñó có nhiều ong non. Chúng ăn nhiều phấn ñể phát triển tuyến tiết sữa, nên tuyến
sáp của chúng cũng phát triển mạnh.
ðể giúp ong xây tổ nhanh và nhận ñược bánh tổ vững chắc có nhiều lỗ tổ ong thợ, người nuôi
ong sử dụng tầng chân nhân tạo. Cần lưu ý sử dụng tầng chân có kích thước ñúng với lỗ tổ tự nhiên
của ong. Nếu kích thước lớn hơn lỗ tổ tự nhiên , ong sẽ xây nhiều lỗ tổ ong ñực.
Trng i hc nụng nghip H Ni Giỏo trỡnh Dõu tm Ong mt
112
+ S ủiu ho nhit m ủ trong t.
Tt c cỏc loi ong mt ủu cú kh nng to ra v duy trỡ nhit ủ trong t mc ủ khụng
ủi. ong A.mellifera nhit ủ khu vc nuụi u trựng luụn n ủnh trong khong 32 - 34
oC
. õy l
nhit ủ thớch hp nht cho u trựng phỏt trin, nu cao quỏ hoc thp quỏ ủu nh hng ủn s phỏt
trin ca u trựng , lm gim sc sng hoc kộo di s phỏt dc.
S ủiu ho nhit ủ do ong th ủm nhim, ủn ong cng ủụng thỡ kh nng ủiu ho nhit
ủ cng tt. Khi nhit ủ khụng khớ xung thp, ong t tp li trờn bỏnh t thnh chựm, ủụng ti mc
lm cho chỳng to ra nhit ủ cao trờn mt din tớch nht ủnh ch cú u trựng. Nhit ủ cng thp
thỡ ong cng dy ủc hn, chỳng tiờu th mt ong cng nhiu ủ to ra nng lng cn thit. n ong
A.mellifera chu ủc nhit ủ thp 40
oC
, cũn cỏc ủn A.cerana ch chu ủc nhit ủ 0
oC
. Tuy
nhiờn Nht Bn ong A.ceranajaponica li chu ủng nhit ủ lnh 20
oC
tt hn l ong nhp ni
A.mellifera (Sakai,T 1989). Xột v mt cỏ th ong A. cerana chu lnh tt hn, Qung ụng Trung
Quc ong A.cerana bt ủu ủi lm khi nhit ủ khụng khớ ngoi tri l 7
oC
. Ngc li ong A.mellifera
khụng th ri t nhit ủ ủú, nu nú bay ra nú s b cht (Liu, 1984).
Khi nhit ủ khụng khớ cao trờn 34
oC
, ủ lm mỏt t, ong tin hnh thụng giú. Chỳng ủu
ngoi ca t vy cỏnh to ra dũng khụng khớ ủy vo t. Ong A.mellifera quay ủu vo ca t khi qut
giú, ngc li ong A.cerana quay ủu ra. Nu s thụng giú vn cha ủ, ong dn rng ra khp t v t
tp li thnh chựm di ủỏy thựng. Nh vy, nhit ủ trong t ủc gim xung. Khi tri quỏ núng
ong ủi ly nc v t, ủt git nc lờn trờn np vớt l t nhng, hoc treo lờn phn trờn phớa ngoi l
t cú u trựng. Nc bc hi lm gim nhit ủ v tng m ủ trong ủn. Bng cỏch ny ong duy trỡ
m ủ khụng khớ trong t luụn luụn khong 65 - 80%, l m ủ thớch hp cho s phỏt trin ca u
trựng.
Câu hỏi ôn tập chơng 6.
1. Đặc điểm của 2 giống ong đợc nuôi phổ biến ở Việt nam : A. mellifera và A. cerana.
2. Thành phần đàn ong và các chức năng, hoạt động của chúng.
3. Cấu trúc tổ ong và sự điều hoà nhiệt ẩm độ trong tổ ong.
Trng i hc nụng nghip H Ni Giỏo trỡnh Dõu tm Ong mt
113
Chng VII:
CâY NGUN MT PHN V S TH PHN
CâY TRNG BNG ONG MT
Chơng 7 đề cập đến tầm quan trọng cây nguồn mật, khai thác cây nguồn mật nuôi ong
7.1. Vai trũ ca cõy ngun mt phn ủi vi ong.
Ong ủi ly thc n t ngun t nhiờn l mt v phn hoa. Mt hoa v phn hoa cú th cung
cp tt c cỏc nng lng cn thit cho ong. Trong thnh phn ca mt ong cú nhiu cỏc loi ủng
saccaro, gluco, fructo l ngun nng lng c bn cn thit cho u trựng, cho cỏc cỏ th ong v cho
c ủn ong. Ong thng s dng v nuụi u trựng bng mt hoa mi ly v, ủng thi ch bin mt
phn cũn li thnh mt hoa. Phn hoa l ngun cung cp protein, cht bộo, vitamin, mui khoỏng
cho u trựng v ong non. Khi thiu phn ủn ong khụng nuụi dng u trựng v ngng xõy t, vỡ th
ni no cú ngun mt phn di do quanh nm thỡ ong phỏt trin mnh v cho nng sut cao. Tuy
nhiờn khụng phi tt c cỏc loi thc vt cú hoa ủu cho mt v phn hoa, ủu cú giỏ tr ủi vi ong
nh nhau. Nhng thc vt cung cp cho ong mt hoa v phn hoa ủc gi l cõy ngun mt. Nhng
thc vt cho mt nhng ớt hoc khụng cho phn cng ủc xp vo nhúm ny. Cũn nhng thc vt
m trờn cỏc bụng hoa ca nú, con ong ch ly ủc phn hoa gi l cõy ngun phn (ngụ, lỳa, trinh n,
hoa hng, thuc phin ). Cỏc cõy ngun phn ny cú vai trũ rt quan trng ủi vi ngi nuụi ong,
ủc bit khi ủn ong nuụi nhiu u trựng, chun b quõn cho v mt. Mt khỏc khi con ong ủi ly phn
trờn nhng bụng hoa nú li ủem phn hoa th phn cho nhu hoa to kh nng hỡnh thnh qu v ht.
Vỡ vy nng sut cỏc loi thc vt trờn li ph thuc ủỏng k vo hot ủng ca cỏc con ong. Mi liờn
quan hu c ny l c s kinh t ủ s dng ong trong th phn cõy trng nụng nghip.
Cng nh cỏc nc nhit ủi khỏc, chỳng ta cú thm thc vt rt ủa dng, cú nhiu loi cõy n
hoa nhng s lng khụng nhiu. Din tớch ca vựng trng trt cú mt vi loi cõy trng trờn din tớch
ln nh cao su, tỏo, nhón, chụm chụm l nhng vựng nuụi ong rt tt. Cũn nhng vựng khỏc, khú cú
th ủt ong vi s lng ln. Vỡ th nhng ni nuụi ong c ủnh, ngi nuụi ong cn phi trng
thờm mt s cõy ngun mt phn b sung. Tuy nhiờn nu ch trng cõy phc v cho ong thỡ s khụng
kinh t m vic trng trt ny cn kt hp vi vic trng cỏc cõy n qu, cõy trng nụng nghip, lõm
nghip, cõy cụng viờn búng mỏt
Do tm bay ca ong A.cerana khụng xa nờn vic tỡm ra vựng cú ngun mt phn phong phỳ l
yu t quan trng nht ủ nuụi ong thnh cụng
+ S tit mt hoa ca thc vt
Mt hoa l cht lng cú ủng ủc tit ra t tuyn mt hoa ca thc vt nhm hp dn cụn
trựng ủn th phn.
Tuyn mt hoa thng thy trờn ủi hoa, cỏnh hoa, nh ủc v nhu, ủa s nm gc bu v
nhu. Tuyn mt ca hoa nụng, sõu cú nh hng trc tip ủn kh nng ly mt ca ong. Nhng
chng ong cú chiu di vũi hỳt ln, cú kh nng thu mt tt cỏc loi cõy cú tuyn mt sõu nh c
lo, cỳc qu. Vỡ th ong ni thu mt c lo kộm hn ong í. Tuyn mt ngoi hoa thng nm trờn cỏc
c quan sinh dng ca cõy nh cung lỏ, thõn lỏ, lỏ kốm v lỏ bc gi l mt lỏ. Mt lỏ thng cú
cỏc cõy cao su, bụng, ủay, tru, keo tai tng. cõy cao su, mt lỏ xut hin thi k cõy thay lỏ. Cỏc
Trường ðại học nông nghiệp Hà Nội Giáo trình Dâu tằm – Ong mật ………………
114
lá non có khả năng tiết mật. Cây ñay tiết mật trong thời kỳ sinh trưởng mạnh (tiết nhiều nhất khi ñạt ñộ
cao 80 - 200 cm). Khi không có mật hoa, ong mới lấy mật lá. Mật ong ñược lấy từ mật lá có hương vị
kém hơn là mật ong lấy từ mật hoa, nên giá bán rẻ hơn.
Trong mật hoa có chứa một hỗn hợp axit hữu cơ, các muối khoáng và các este. Chính các este
này làm cho hoa có mùi thơm. Hàm lượng ñường trong mật hoa biến ñộng rất lớn từ 25 - 60% tuỳ
thuộc vào loài cây và các yếu tố ngoại cảnh khác mà lúc ñặc lúc loãng. Ví dụ mật hoa nhãn miền Bắc
có hàm lượng ñường bình quân 50%, hoa vải thiều 23%, ñay cách 27%. ðộ ñặc của mật hoa có ảnh
hưởng lớn ñến sự thu hoạch của mật ong. Nếu mật ñặc quá, (lớn hơn hoặc bằng 70%) ong khó hút vào
diều mật. Nếu loãng quá thì ong không thích lấy vì phải tốn nhiều năng lượng vận chuyển mật hoa về
tổ và chế biến nó thành mật ong. Ong thích lấy mật hoa nhất khi nồng ñộ ñường là 50%, dưới 5% ong
không lấy. Khi có nhiều loại cây cùng nở hoa một lúc, thì ong sẽ lấy ở những bông hoa nào có lượng
mật hoa nhiều, nồng ñộ ñường ñặc lại tiêu tốn năng lượng ít nhất cho một chuyến ñi lấy, ñể có hiệu
quả kinh tế cao nhất. Ví dụ hoa nhãn và hoa vải cùng nở một lúc, tuy hoa nhãn có lượng mật hoa ít
hơn hoa vải một chút (2,5 mg so với 3,3 mg) nhưng tỷ lệ ñường lại cao hơn nhiều (50% so với 23%)
nên ong thường bỏ hoa vải ñể lấy mật hoa nhãn.
7.2. Những ñiều kiện ảnh hưởng ñến sự tiết mật của cây.
Thực vật thường xuyên chịu tác ñộng của ñiều kiện ngoại cảnh như nhiệt ñộ, ẩm ñộ, ánh
sáng, lượng mưa vì thế các ñiều kiện ngoại cảnh này cũng ảnh hưởng lớn ñến sự tiết mật hoa.
a . ¶nh hưởng của nhiệt ñộ không khí.
ðể tiết ñược mật hoa thực vật cần nhiệt ñộ ấm áp . Nhiệt ñộ tối thấp ñể ña số các loài thực vật
tiết mật là 10
oC
. Khi nhiệt ñộ tăng thì sự tiết mật tăng và thích hợp nhất là ở 20 - 25
oC
. Tuy nhiên một
số cây như bạch ñàn, sú vẹt lại tiết mật nhiều ở nhiệt ñộ cao 35 - 38
oC
. Một số cây như nhãn, vải thiều,
bí ñao, ñay, mật tiết nhiều vào ban ñêm nhưng loãng hơn nên buổi sáng ong ñi làm ít. Khi nhiệt ñộ
tăng nước trong mật hoa bốc hơi ñặc lại, ong ñi làm mạnh hơn.
b. ¶nh hưởng của ẩm ñộ không khí.
Phần lớn các thực vật tiết mật nhiều khi ẩm ñộ không khí trên 60%, thấp hơn thì ít tiết mật.
Tuy nhiên có một số thực vật có thể tiết mật khi ẩm ñộ không khí thấp hơn (bạch ñàn ). Nhìn chung
khi ẩm ñộ không khí tăng, quá trình tiết mật tăng nhưng hàm lượng ñường trong mật sẽ giảm một
cách tương ứng và ngược lại. Vì vậy vào những ngày ẩm ñộ quá khô, có gió Lào, cây tiết mật kém,
mật hoa khô nhanh nên ong ít hoặc không ñi làm.
c. ¶nh hưởng của ánh sáng mặt trời.
Thực vật cần ánh sáng mặt trời ñể quang hợp, ñồng hoá cacbonic của không khí thành tinh bột
và ñường. Do ñó, ánh sáng ñủ sẽ xúc tiến quá trình tiết mật hoa. Vì vậy những ngày mùa ñông, mây
mù, cây tiết mật kém. Những cây, bụi, cỏ có mật hoa trong rừng rậm cho mật ít hơn so với các loại
cây gỗ có tán rộng, mọc ở chỗ trống, ñược chiếu sáng ñủ.
d. ¶nh hưởng của mưa gió.
Mưa kéo dài nhiều ngày có ảnh hưởng xấu ñến sự tiết mật do không ñủ ánh sáng xúc tiến cho
sự quang hợp. Mưa làm ñộ ẩm không khí tăng, mật hoa loãng. Mưa còn làm rửa trôi mật hoa. Mưa to
Trường ðại học nông nghiệp Hà Nội Giáo trình Dâu tằm – Ong mật ………………
115
còn làm rụng các loại hoa như hoa nhãn, hoa vải, bạch ñàn Tuy nhiên nếu thời hạn hoa nở ngắn, cây
còi cọc ít hoa và tiết mật kém.Trước và ñầu vụ mật có mưa, cây sinh trưởng tốt và tiết mật nhiều.
Khi trời gió to, tuyến mật co lại, sự tiết mật giảm ñi, ñộ ñặc tăng lên. Khi có gió mùa ñông bắc,
trời lạnh, ẩm ñộ khô cây tiết mật kém, ong ít ñi làm. Gió to còn ảnh hưởng ñến việc ñi làm của ong
trên hoa. làm trôi dạt ong và ong tốn nhiều năng lượng ñể bay về tổ nhất là khi nguồn mật ở ngược
chiều với hướng gió thổi.
e. ¶nh hưởng của ñất ñai và chế ñộ canh tác.
Nhìn chung cây tiết mật tốt khi ñược trồng trên ñất phì nhiêu, màu mỡ, ñủ ẩm ñộ. Các cây
ñược bón phân tưới nước ñầy ñủ thì tiết mật nhiều hơn. Nhãn trồng ở vùng ñồi núi Lai Châu - Sơn La
(Hoà Bình) tiết mật kém hơn là nhãn ñược trồng ở vùng ñồng bằng hoặc bãi bồi có phù sa. (Hưng
Yên, Hà Nam Ninh). Táo ghép ñược cắt cành hàng năm, tưới nước và bón phân ñầy ñủ cho nhiều mật
hơn là táo không ñốn, chăm sóc kém. Tuy nhiên một số cây như bạch ñàn lá liễu, chân chim, sau sau
dù mọc ở ñất cằn cỗi ,vẫn tiết mật tốt.
g. ¶nh hưởng của tuổi cây, tuổi hoa và thời kì nở hoa.
Mật hoa và lá ñược tiết nhiều hơn ở các cây ñang thời kì sung sức như cao su sau 8 năm, bạch
ñàn sau 6 - 7 năm, keo tai tượng 4 - 7 năm. Cây non hoặc già cỗi thì tiết mật kém hơn, thời gian nở
hoa ngắn hơn.
Mật hoa ñược tiết nhiều hơn ở những bông hoa ñã nở hoàn toàn, chuẩn bị cho việc thụ phấn.
Một số hoa họ cúc như cúc quì, cỏ lào, càng cua thuộc loại hoa tự, ñầu trạng thì khi những vành hoa
ngoài nở xong, hoa hơi héo thì mới tiết mật nhiều. Vào nửa ñầu của sự nở hoa của một bông hoa, mật
hoa ñược tiết ra nhiều hơn so với nửa cuối. Tuy nhiên có một số hoa tiết mật cả sau khi hoa ñã nở
xong như chân chim, hoặc khi hoa ñã rụng như: cau, dừa
7.3. Các cây nguồn mật chính ở Việt Nam.
Nước ta có rất nhiều loại cây cung cấp mật và phấn cho ong mà chúng ta vẫn gọi là cây nguồn
mật. Tuy nhiên không phải bất cứ có sự nở hoa của cây nguồn mật nào, ñàn ong cũng có thể tích luỹ
ñược lượng mật dư thừa cho con người khai thác. Những cây nguồn mật chỉ cung cấp ñủ lượng mật
phấn cho ñàn ong phát triển gọi là cây nguồn mật duy trì hỗ trợ, ví dụ: chè (trà), bí ñao, cam, chanh,
doi (mận) Cây nguồn mật duy trì có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển ñàn, chuẩn bị cho vụ
khai thác. Còn cây nguồn mật chính là những cây tiết nhiều mật, số cây nhiều, tập trung và khi các cây
ñó nở hoa, ong có thể thu hoạch và dự trữ ñược mật trong bánh tổ của chúng. Cây nguồn mật chính
quyết ñịnh sản lượng mật thu ñược trong năm. Tuỳ theo vùng ñịa lí, khí hậu và ñiều kiện canh tác mà
có các cây nguồn mật chính khác nhau. Ở các tỉnh phía Bắc các cây nguồn mật chính bao gồm: vải
thiều, nhãn, bạch ñàn, ñay, vẹt, táo, bạc hà dại, cỏ lào, chân chim, keo tai tượng Phần lớn mật ong lấy
từ các cây nguồn mật chính trên có chất lượng tốt, trong và thơm ngon. Do diện tích các loại cây trên
không nhiều, thời tiết không ổn ñịnh nên có năm thu ñược nhiều, có năm thu ñược ít, chỉ phù hợp với
việc nuôi ong gia ñình và giống ong nội A. cerana.
Ở phía Nam, cao su là cây nguồn mật quan trọng nhất. Mật cao su chiếm tới 3/ 4 tổng sản
lượng mật ong của nước ta. Sau cao su là chôm chôm, nhãn, cỏ lào, tràm, cúc quì và hoa dừa. Dừa ở
Bến Tre nở hoa quanh năm nên những người nuôi ong ở ñó cũng thu mật ñược quanh năm (trừ những
Trường ðại học nông nghiệp Hà Nội Giáo trình Dâu tằm – Ong mật ………………
116
ngày mưa kéo dài). Các cây nguồn mật phía Nam nhất là ở các tỉnh ðồng Nai, Lâm ðồng, Gia Lai
KonTum, ðăclăc rất phù hợp với nuôi ong ngoại A. mellifera.
Lịch nở hoa của các cây nguồn mật.
Lịch nở hoa của các cây nguồn mật giúp cho người nuôi ong biết ở ñịa phương mình có
những cây nguồn mật gì, thời gian nở hoa gần ñúng, ñộ dài nở hoa, thứ tự nở hoa ra sao, ñể có biện
pháp kĩ thuật quản lí ñàn ong thích hợp nhất, cho hiệu quả kinh tế cao nhất.
ðể lập ñược lịch nở hoa ở mỗi ñịa phương, người nuôi ong cần căn cứ vào thời kì nở hoa của
các cây nguồn mật phấn. Ghi chép tỉ mỉ các cây ong ñến lấy mật và phấn chủ yếu là các cây có diện
tích lớn, số lượng nhiều, mật ñộ cao, trong phạm vi ong bay có hiệu quả (ong nội dưới 1/ 2 km). Ghi
chép ngày bắt ñầu nở hoa khi có 10% số hoa nở, thời kì nở rộ (25 – 75%) kết thúc nở rộ (75% số hoa
nở) và kết thúc nở hoa (sự nở của những bông hoa cuối cùng). Qua số liệu ghi chép nhiều năm có thể
dự ñoán gần ñúng thời kì nở hoa của mỗi một loại cây.
ðặt các ñàn ong mạnh trên cân, theo dõi sự tăng giảm trọng lượng của ñàn, ghi chép việc cho
ăn, các vòng quay mật. Qua các số liệu trên biết ñược ở ñịa phương mình có những vụ mật chính vào
thời gian nào, năng suất mật của mỗi ñàn là bao nhiêu. Tránh chuẩn bị ong quá muộn, khi ñàn ong
phát triển cực ñại thì vụ mật ñã kết thúc, số ong này ăn hết nhiều thức ăn dự trữ mà không có tác dụng
gì. Trừ một số nơi như vùng dừa ở Bến Tre, và một số vùng rừng núi còn rừng nguyên sinh như ở Lai
Châu, Sơn La hoa nở bốn mùa gối nhau, không phải cho ong ăn lại quay mật ñược quanh năm. Còn
ở các vùng khác chỉ có từ 2 - 3 vụ mật chính. Ngoài thời gian vụ mật chính là thời gian có nguồn mật
duy trì và thời kỳ thiếu thức ăn dài ngắn khác nhau. Ở các tỉnh phía Nam vụ thiếu thức ăn thường xảy
ra vào mùa mưa từ tháng 5- 9. Còn ở các tỉnh phía Bắc thì có 2 vụ thiếu thức ăn. Vụ hè thu vào tháng
7- 8 và vụ ñông xuân tháng 1- 2. Vào vụ ñông tuy có cây nguồn mật phấn nở nhưng do mưa phùn gió
bấc nên mật bị rửa trôi và trời lạnh nên ong không ñi làm ñược. Vào vụ thức ăn thiếu, ñàn ong phát
triển kém, dễ dàng bỏ tổ bốc bay. Vì vậy người nuôi ong phải bớt lại vòng mật cuối cùng ñể cho ong,
hoặc cho ăn bổ sung nước ñường, chất bổ sung phấn hoa hoặc là di chuyển ong ñến vùng có cây
nguồn mật phấn.
(Bảng phụ lục. Các cây nguồn mật phấn ở Việt Nam).
7.4. Xác ñịnh số ñàn ong nuôi trong một vùng.
Muốn bắt ñầu nuôi ong hoặc xây dựng một trại ong ở một vùng nào ñó, người nuôi ong cần
phải tiến hành ñiều tra thành phần, số lượng diện tích các cây nguồn mật có trong vùng. Thông thường
ong Ý ñi làm trong bán kính 2 km còn ong nội ñịa là 1,3 km. Như vậy ñối với trại ong Ý, cần khảo sát
1250 ha và ong nội là 452,16 ha. Nếu ở ñịa phương nào ñó, trong diện tích ñiều tra có các cây nguồn
mật phấn nở gối tiếp nhau quanh năm hoặc ñược 9 - 10 tháng thì có thể ñể ong cố ñịnh ñược . Nếu ở
ñịa phương ñó, chỉ có 1 hoặc 2 loại cây nguồn mật chính thì không thể ñể cố ñịnh, mà chỉ ñặt ong vào
thời ñiểm có cây nguồn mật chính nở mà thôi. Dù là nuôi ong cố ñịnh hoặc nuôi di chuyển người nuôi
ong cũng nên ñặt ong vào chính giữa hoặc rất gần khu vực có cây nguồn mật. Trước khi ñặt ong cần
phải tính toán số lượng ñàn ñặt ở vùng ñó cho hợp lí. Tránh ñặt ong quá nhiều mà cây nguồn mật có
diện tích ít, ong không lấy ñược mật. ðể khắc phục hiện tượng này các hội nuôi ong của nhiều nước
phân chia ñiểm ñặt cho người nuôi ong. Họ qui ñịnh mỗi nơi chỉ ñặt 30 - 40 ñàn ong. Trại ong này
Trường ðại học nông nghiệp Hà Nội Giáo trình Dâu tằm – Ong mật ………………
117
phải ñặt các trại ong khác ít nhất là 1 km, ñối với mỗi cây nguồn mật nhất ñịnh. Ai vi phạm sẽ phải
nộp phạt và phải chuyển ong ñi nơi khác. Nhờ biện pháp này họ sử dụng hợp lý nguồn mật tự nhiên,
lại giảm ñược lượng ñường cho ăn.
Cơ sở ñể tính toán việc ñặt một số lượng ñàn ong với các cây nguồn mật là do các cơ quan
nghiên cứu tiến hành. Bằng cách ño ñếm số lượng mật hoa có trong một bông hoa, số bông hoa trên
một cây, số cây trên 1 ha người ta tính toán ñược khả năng cho mật 1 ha của cây nào ñó. Trừ ñi 50%
do tổn thất mật hoa do côn trùng khác lấy, thời tiết bất thuận có thể tính toán về lí thuyết số lượng
ñàn ong ñặt ñược ở một vùng có cây nguồn mật nhất ñịnh.
+ Tính trữ lượng mật hoa / ha của 1 loại cây nguồn mật.(Z)
Z = A.B.C. Trong ñó :A:lượng mật hoa/ bông hoa.
B: số hoa / cây.
C: số cây / ha.
+ Trữ lượng mật hoa trong một vùng (Q):
Q= n
1
.za + n
2
.zb + n
3
.zc +
Trong ñó : za, zb, zc là sản lượng mật hoa / ha của từng loại cây nguồn mật a,b,c…
n
1
, n
2
, n
3
là diện tích của từng loại cây a, b, c…
Bán kính ñi làm của ong Ý là 2 km, còn ong nội là 1,3 km. Như vậy ñối với trại nuôi ong Ý
cần khảo sát trong vùng có diện tích 1250 ha và ong nội là 452,16 ha tính theo vòng tròn.
+ Số ñàn ong nuôi trong một vùng: (C):
Q - R
C =
V +h
Trong ñó: Q: trữ lượng mật hoa/ vùng
R: lượng mật vô hiệu (do rửa trôi, bốc hơi hoặc côn trùng khác lấy) (R = 50% Q)
V: Chi phí mật/ ñàn ong/ năm.
h: lượng mật con người khai thác/ ñàn/ năm.
Trung bình một ñàn ong ý một năm tiêu thụ hết 90 kg mật, con người khai thác 30 kg. ðàn ong nội
tiêu thụ 30 kg/ ñàn/ năm và lượng mật khai thác 10 - 15 kg/ ñàn/ năm.
Bảng 1.7- Khả năng cung cấp mật của một số cây nguồn mật.
(Lê Triệu Thảo và cộng sự ).
Tên cây
Mật hoa, lá
(mg/ hoa, lá)
ðường tổng số
(mg/ hoa, lá)
Mật lý thuyết
(kg/ ha)
Khả năng khai thác
(kg/ ha): 50% lý thuyết
Vải chua
Vải thiều
Nhãn
Bạch ñàn
ðay cách
Táo
Vẹt
Cao su
2,60
5,60
3,96
24,17
2,14
3,35
3,14
3,14
0,93
0,97
1,23
4,33
0,56
0,28
1,28
1,16
50 - 60
240 - 280
200 - 250
200 - 300
50 - 100
40 - 50
40 - 50
140 - 150
25 - 30
120 - 140
100 - 125
100 - 150
25 - 50
20 - 25
20 - 25
70 - 75
Trường ðại học nông nghiệp Hà Nội Giáo trình Dâu tằm – Ong mật ………………
118
Người nuôi ong dựa vào số liệu tham khảo trên và tình hình cụ thể của năm: số cây ra hoa,
lượng hoa trên một cây, thời tiết mà tăng giảm ñàn ong. Nói chung, nên ñặt số lượng ñàn ong ít hơn so
với lý thuyết thì ong sẽ phát triển tốt hơn và thu ñược nhiều mật hơn. Ở nước ta các trại ong nội, ong
ngoại ñều ñặt quá dày như vùng cao su ở ðồng Nai có những ñiểm cao su gần với cà phê, người ta ñặt
5 - 6 ngàn ñàn ong Ý. Nhiều nơi vào vụ dưỡng ong hay ñầu vụ mật, nhiều ñàn ong Ý và ong nội ñặt
cùng một ñiểm, vụ tháng 7- 8 ở Mộc Châu (Sơn La), vải chua tháng 1-2 ở Thanh Oai (Hà Tây) dẫn
ñến tình trạng ong Ý cướp mật của ong nội, làm các ñàn ong nội bị tổn thất nặng nề. Nhìn chung
khoảng cách giữa các trại ong với nhau còn quá gần, số ñàn trên một trại lại quá lớn. Ong Ý từ 100
ñến 2 - 3 nghìn ñàn, ong nội từ 100 ñến 200 ñàn cho nên năng suất mật không cao, lại phải cho ăn
nhiều ñường. Vì vậy nên ñặt số lượng ñàn vừa phải mới có hiệu quả kinh tế cao.
7.5. Sử dụng ong mật thụ phấn cho cây trồng.
a. Sự thụ phấn và thụ tinh của thực vật có hoa.
Quá trình chuyển hạt phấn từ nhị ñực ñến nhuỵ hoa ñược gọi là sự thụ phấn. Hạt phấn rơi vào
ñầu nhuỵ sẽ nảy mầm thành dạng ống và ñâm vào bên trong bầu. ở ñó xảy ra quá trình hoà hợp giữa tế
bào sinh dục ñực và tế bào sinh dục cái gọi là sự thụ tinh, từ ñó hình thành nên quả và hạt.
b. Sự tự thụ phấn và thụ phấn chéo.
Nếu hạt phấn rời bao phấn ñến noãn của chính bông hoa ñó hoặc bông hoa khác của cùng một
cây gọi là sự tự thụ phấn: ví dụ ñậu xanh, ñậu Hà Lan. Trường hợp hạt phấn rơi vào bông hoa khác
cùng loài khác cây gọi là sự thụ phấn chéo. Có tới 80% thực vật có hoa cần thụ phấn chéo vì nhờ sự
thụ phấn chéo hình thành bầu lớn hơn.Từ ñó,
cho quả và hạt lớn hơn và từ những hạt lớn ñó sẽ
mọc lên những cây có sức sống cao hơn.
Trong các cây thụ phấn chéo có một số
cây vẫn giữ ñược khả năng tự thụ phấn. Vì lí do
nào ñấy sự thụ phấn chéo không xảy ra thì chúng
vẫn có khả năng tự thụ phấn nhng quả và hạt sẽ
nhỏ hơn. (Ví dụ: hướng dương, ngô, lúa, mạch
ñen ). Trong quá trình thụ phấn chéo, hạt phấn
cần ñược vận chuyển, có thể ở khoảng cách rất
lớn. Sự thụ phấn này có thể nhờ gió, nước, chim,
dơi nhưng chủ yếu là nhờ côn trùng, nhờ gió.
Các cây thụ phấn nhờ gió như lúa, ngô, mạch
ñen có hoa nhỏ và hạt phấn nhẹ, tơi xốp với số
lượng rất nhiều ñược ñưa vào không khí và rơi
vào nhuỵ, nhưng phần lớn hạt phấn bị lãng phí.
Hình 1 7- Cơ chế ong mật thụ phấn cho hoa.
Các
cây thụ phấn nhờ côn trùng có số hạt phấn tương ñối ít, kích thước to, ñộ dính lớn nên
không bay ñược trong gió. Tuy nhiên hoa của chúng lại có sự hấp dẫn côn trùng. Chúng tiết ra mật
Trường ðại học nông nghiệp Hà Nội Giáo trình Dâu tằm – Ong mật ………………
119
hoa có vị ngọt và mùi thơm. Nhiều loại còn có vành hoa sặc sỡ. Nếu hoa nhỏ thì chúng lại tập trung
thành từng chùm (dạng hoa tự) ñể côn trùng từ xa có thể nhìn thấy rõ và ñến ñược hoa nhanh hơn. Khi
côn trùng ñậu xuống lấy mật và phấn hoa, chúng sẽ mang những hạt phấn dính vào cơ thể, bay từ hoa
này sang hoa khác thụ phấn cho nhuỵ hoa. Do ñậu xuống nhiều hoa nên côn trùng mang hỗn hợp
phấn hoa của các cây. Từ ñó, hạt phấn ñảm bảo cho sự thụ tinh tốt nhất ñược nảy mầm, hình thành
ñược quả và hạt tốt hơn.
c. Vai trò của ong mật trong thụ phấn cây trồng.
Có khoảng trên 60 % cây trồng nông nghiệp cần sự thụ phấn hoa. Trên hoa của chúng có thể
gặp rất nhiều loại côn trùng, ong ñơn ñộc, ong nghệ, ong bò vẽ, ruồi, bọ cánh cứng, bọ trĩ, rệp, kiến và
các loài bướm khác nhau. Phần lớn các loài côn trùng hoang dại này có tác dụng thụ phấn yếu vì
chúng ñậu trên hoa không thường xuyên. Nhiều loại côn trùng có bề mặt cơ thể trơn nhẵn, phấn hoa
không bám dính ñược. Nhiều loại là sâu hại cây trồng nông nghiệp cần phải tiêu diệt. So với các loại
côn trùng trên, ong mật có tác dụng thụ phấn ưu việt nhất. Trên cơ thể ong có rất nhiều lông nhỏ, dễ
dàng bám dính các hạt phấn hoa. Số lượng cá thể của một ñàn ong rất lớn từ vài nghìn ñến vài chục
nghìn cá thể. Ong thường ñến lấy mật hoặc phấn từ một loài cây, ít thay ñổi, hơn nữa ñể lấy ñược ñầy
diều mật hoặc 2 giỏ phấn ong phải thăm từ 100 - 150 bông hoa. Như vậy trong một ngày ñêm, ong có
thể tới thăm từ 40 - 60 triệu bông hoa. ðiều quan trọng nhất là loài ong A.mellifera và A.cerana lại
ñược nuôi dưỡng trong các thùng có thể di chuyển ñến bất cứ chỗ nào cần thụ phấn, với số lượng cần
thiết. Qua thụ phấn bằng ong, người ta thấy năng suất của các cây lấy quả và lấy hạt tăng lên 20 –
30%, có khi tới 50%. Ở Ý giá trị những sản phẩm thu ñược từ ong là 2 tỷ lia còn lợi ích do ong thụ
phấn cho cây trồng là 140 tỷ lia. Ở Mỹ ước tính giá trị tăng sản phẩm của các cây trồng nhờ ong thụ
phấn là 19 tỷ ñôla tức là gấp 143 lần tổng giá trị thu ñược từ mật ong và sáp ong (Levin, 1983 – theo
trích dẫn của Crane, 1990).
Các nước ở vùng ôn ñới (Châu Âu, Châu Mỹ) và một số nước nhiệt ñới (Nhật, Isaren ) ong
ñược sử dụng một cách rộng rãi ñể thụ phấn cho các cây ăn quả, cây rau và một số cây lấy dầu, cây
thức ăn gia súc Năm 1994 ở Canada ñể thụ phấn cho dưa chuột trong nhà kính, người trồng vườn
phải trả cho người nuôi ong 50 ñôla một ñàn ong, còn thụ phấn cho vườn táo là 18 ñôla/ ñàn. Ở Mỹ
thụ phấn cho cây ăn quả phải thuê 9,5 – 30 ñôla/ ñàn. Ở Israel trước ñây 20 năm không người làm vư-
ờn nào thuê ong thụ phấn cả, nhưng ñến nay việc thuê ong thụ phấn ñã trở thành phổ biến. Những
người trồng rau giống, quả trong nhà kính ñã thuê tới 100 ñôla / ñàn ong trong thời gian 2 tháng ñể thụ
phấn cho dưa, hành tây và 20 - 30 ñôla cho thụ phấn dưa hấu, lựu ngoài ñồng. Gần 50% lợi nhuận
của nhiều người nuôi ong ở Israel là thu ñược từ tiền cho thuê ong ñể thụ phấn.
Nước ta cũng như nhiều nước nhiệt ñới khác, nền nông nghiệp chủ yếu dựa vào các cây ngũ
cốc là cây thụ phấn nhờ gió. Mặt khác nhiều cây ăn quả, cây lấy hạt, lấy dầu, rau lại trồng phân tán,
diện tích nhỏ nên việc thụ phấn nhờ ong chưa ñược chú ý. Thậm chí một số người làm vườn còn chưa
hiểu ñược giá trị thụ phấn của ong , cho là ong về lấy hết mật, phấn làm quả không kết trái ñược. Một
số người còn hiểu sai là ong làm thui một số loại quả như bầu, bí, mướp. Tuy nhiên có nhiều người ñã
hiểu rõ ñược vai trò thụ phấn của ong, sẵn sàng cho người nuôi ong ñặt nhờ hoặc tự nuôi một vài ñàn
ong ñể thụ phấn. Sự phát triển của nền nông nghiệp theo hướng tập trung hoá và thâm canh hoá cây
Trường ðại học nông nghiệp Hà Nội Giáo trình Dâu tằm – Ong mật ………………
120
trồng, trong tương lai không xa việc thuê ong ñể thụ phấn là yêu cầu tất yếu của người trồng trọt nước
ta.
d. Quản lí ong thụ phấn cho cây trồng.
ðể thụ phấn có hiệu quả, người nuôi ong phải ñảm bảo ñược những yêu cầu cơ bản sau: chỉ
ñem những ñàn ong mạnh, có nhiều ấu trùng ñi thụ phấn. Chuyển ong ñến khu vực thụ phấn ngay từ
khi hoa bắt ñầu nở, có ñủ số ñàn theo yêu cầu trên diện tích ñược thụ phấn và ñặt ong ở khoảng cách
thích hợp ñể ñảm bảo thụ phấn hết. Những ñàn ong mạnh có nhiều ấu trùng mới có nhu cầu lấy phấn
nhiều nên khả năng thụ phấn tốt. Có thể ñặt gạt phấn trước cửa tổ, hoặc lấy bớt các cầu phấn ñể kích
thích ong ñi lấy phấn nhiều hơn. Khi hoa nở, cần phải chuyển ong ñến ngay vì những hoa này ñã cần
thụ phấn, nếu chậm những lứa hoa ñầu dễ bị hỏng.
Các cây trồng nông nghiệp, cây ăn quả khác nhau thì có nhu cầu về số lượng ñàn ong ñến thụ
phấn khác nhau.
Bảng 2.7- Số ñàn ong cần thụ phấn cho cây (ñàn / ha) .
(Trích dẫn từ Crana 1990)
Loại cây Số ñàn ong / ha Loại cây Số ñàn ong / ha
Xoài
Táo tây
Mơ, mận
Cam, chanh
Nho
Lê
8 -15 ñàn
2 ñàn
2,5 ñàn
2 ñàn
1 ñàn
1- 5 ñàn
Dưa chuột
bầu bí
dưa hấu
hướng dương
bông
10 ñàn
1 - 4 ñàn
0,5- 3 ñàn
1- 4 ñàn
0,5- 12 ñàn.
Số liệu trên là của ong A.mellifera, với ong A.cerana do tụ ñàn nhỏ hơn cần ñặt số lượng ñàn
nhiều hơn. Theo Sakai và Matsuka (1982) ở Nhật Bản có ñến 64,5% số ñàn ñược thuê ñi thụ phấn là
sử dụng cho cây dâu tây trong nhà kính. Mỗi nhà ñặt một ñàn từ 4 - 6 cầu. Người nuôi ong cho thuê
một ñàn 4 cầu với giá 11.000 yên, và một ñàn 6 cầu với giá 15.000 yên.
Nếu cây trồng cần thụ phấn với diện tích lớn thì phải chia trại ong thành các nhóm nhỏ ñể
phần xa nhất của cánh ñồng không quá 500 – 700 m. Thông thường ở các nước, người ta ñặt 1 ñiểm
từ 50 - 60 ñàn, cách nhau 500 m. Với các cây không có mật chỉ có phấn, cần phải cho ong ăn thêm
nước ñường ñể ñàn ong phát triển mạnh. Nếu thụ phấn trong nhà kính, một số ong bị chết khi ñi làm
do không biết ñường quay về tổ mà cố bay vào kính, phải chuẩn bị một ñàn dự bị ñể 10 - 15 ngày thay
một lần, ñổi cho ñàn thụ phấn trước ra ngoài ñể dưỡng ñàn, tăng quân số. Ong ñi thụ phấn rất dễ bị
nguy cơ của thuốc sâu cho nên trong thời kỳ thụ phấn người làm vườn không ñược dùng thuốc trừ
sâu. Ngoài ra người nuôi ong cần tính ñến cả hướng gió ñể ñặt ñàn ong thụ phấn cho có hiệu quả.
Ngoài việc dùng ong mật thụ phấn cho cây trồng, ở các nước nông nghiệp phát triển người ta
còn sử dụng cả ong nghệ Anthophorids (bumble bee), ong ăn lá (Megachile rotudata F), tò vò
Osima.cornifrons Rad và một số ong ñơn ñộc khác thụ phấn cho một số cây trồng ñặc biệt.
Trng i hc nụng nghip H Ni Giỏo trỡnh Dõu tm Ong mt
121
Câu hỏi ôn tập chơng 7.
1.Vai trò của cây nguồn mật phấn với ong, và các yếu tố ảnh hởng đến quá trình tiết mật của cây
2.Các loại cây nguồn mật phấn chính ở Việt nam và phơng pháp xác định số đàn ong nuôi trong
một vùng.
3.Vai trò và phơng pháp sử dụng ong thụ phấn cho cây trồng.
Chng 8:
K THUT NUễI, TO CHA, NHN N V
CHN GING ONG.
Chơng 8 đề cập đến các kỹ thuật nuôi ong cơ bản,cách tạo chúa, nhân đàn, chọn giống ong nhằm đạt
năng suất, chất lợng sản phẩm cao, tăng hiệu quả kinh tế của nghề nuôi ong.
8.1 K thut nuụi ong.
a. Tri nuụi ong v cỏch b trớ cỏc ủn ong trong ủim ủt ong.
Tri nuụi ong.
Tri nuụi ong l ni ủt nuụi s ủn ong ca mt ngi hoc mt nhúm ngi nuụi ong (gm
2 - 3 ngi) hay ca mt trung tõm sn xut ong ging. ú l vựng hot ủng ca ong cú bỏn kớnh
khong 1500 m tr li (c tớnh 700 ha).
im ủt ong l ni ủt cỏc thựng ong. Nú ch bao gm mt din tớch ủt ủ s ủn ong vi
khong cỏch thớch hp. im ủt ong thng l cỏc vn cõy, sõn nh hc gúc rng cõy.
Nuụi ong ch yu da vo ngun thc n thiờn nhiờn cho nờn tri nuụi ong tt s ủm bo mi
kt qu v thu sn phm v nhõn ging ong. Tri nuụi ong tt giỳp ngi nuụi qun lớ ủn ong thun
li v ong ớt bnh tt.
Khi chn ni ủt tri nuụi ong cn phi chỳ ý cỏc ủc ủim sau:
- Tri ong cn phi cú ủ ngun hoa ủ nuụi s ủn ong hin cú v s nhõn ra. c bit chỳ ý trc
ht trong vựng ong hot ủng phi cú cõy ngun mt chớnh ủ ủm bo cho vic thu hoch mt, phi
cú ngun hoa ph ủ gim bt lng ủng cho n trong cỏc v nhõn ủn, qua ủụng, qua hố. Tri ong
rt cn cú cõy ngun phn bi vỡ cú phn thỡ ủn ong mi phỏt trin tt, n ủnh, ớt bc bay. Mt tri
nuụi ong cú vi v mt (2 - 3 cõy ngun mt chớnh), ủ ngun mt ph v ngun phn quanh nm l
mt tri nuụi ong lớ tng, song trờn thc t rt khú tỡm mt tri ong cú hoa n quanh nm m thng
thỡ mt tri ong cú hoa n 8 - 9 thỏng. Cỏc thỏng khỏc phi cho ong n hoc chuyn ủi ngun hoa
khỏc, hoc ủt phõn tỏn ủ tn dng ngun phn mt ớt i phõn tỏn quanh tri. Núi chung s lng cõy
ngun mt cng nhiu, vt yờu cu ca tri ong thỡ ong cng phỏt trin tt.
- im ủt ong phi trung tõm ngun hoa : Vỡ ong ni ủi thu mt tt nht trong vựng bỏn kớnh di
500 m - xa hn l 700 m (Ong í di 1,5 km). Ngun hoa gn, ong tng s ln mang mt hoa, phn
hoa v t. Ngun hoa xa ong bay tn nng lng phi n mt d tr trc khi ct cỏnh v nu xa
quỏ thỡ hiu qu cỏc chuyn bay bng khụng vỡ chỳng tiờu th ht s mt ly ủc trờn ủng bay.
nhng vn cõy n qu hoc cõy rng rm rp ong bay lờn khú khn nờn khụng chn lm ủim ủt
ong, hoc trong rng bch ủn rt núng, ủn ong mt n ủnh cng khụng nờn ủt.
Trường ðại học nông nghiệp Hà Nội Giáo trình Dâu tằm – Ong mật ………………
122
- ðiểm ñặt ong cần ấm áp về mùa ñông, mát về mùa hè thuận lợi cho ong hoạt ñộng và phòng tránh
bệnh. Ở miền núi ñặt ong ở sườn ñồi phía nam hoặc ñông nam. ðặt ong quá thấp, ñất ẩm ướt ong dễ
mắc bệnh. ðặt ong trên cao vừa bị lộng gió vừa cản trở ñường bay của ong vì khi xuống thấp lấy mật
trở về ong mang nặng lại phải bay lên cao tốn nhiều năng lượng. Nếu ñặt ong ở phía Bắc hoặc ðông
bắc thì ñàn ong bị rét về mùa ñông, ñặt hướng tây thì bị nóng về mùa hè. Ở ñồng bằng cũng cần chọn
nơi cao ráo, có vườn cây che mát và không ñặt ong ở nơi lộng gió.
- ðiểm ñặt ong gần nơi có nguồn nước nhng không gần sông, ao hồ lớn.
Ong cần nước ñể làm mát tổ, hoà loãng mật ñể nuôi ấu trùng. Ong thường lấy nước sạch ở các
con suối nhỏ, ruộng nước, ao bèo Khi bay nếu ong phải qua các ao hồ, sông lớn thì rất dễ bị chết ñuối
khi trở về tổ gặp gió lộng. ðặc biệt ong chúa ñi giao phối cũng dễ bị rơi xuống sông hồ nên nếu ñặt
ong cạnh ao hồ lớn, tỷ lệ ong chúa giao phối bị mất rất cao.
- ðiểm nuôi ong không gần nơi thường xuyên sử dụng các hoá chất ñộc như thuốc trừ sâu, thuốc diệt
côn trùng khác. ðiểm nuôi ong không nên gần các nhà máy hoá chất, nhà máy hoặc lò nấu ñường, nơi
sản xuất bánh kẹo, do ong lấy ñường cặn hoặc các phế thải dễ bị ngộ ñộc,ñặc biệt là trong mùa ñông
vì những chất này khó tiêu hoá ong dễ mắc bệnh. Không ñặt ong ở vùng hay bị chấn ñộng vì mỗi lần
chấn ñộng là ong chui vào tổ hút mật. Bị chấn ñộng nhiều ong dễ bốc bay. ðiểm ñặt ong không ñể
trâu bò thường xuyên qua lại, tránh những nơi hoạt ñộng vui chơi công cộng của người. ðiểm ñặt ong
cố ñịnh cần ñược rào dậu chắc chắn ñể bảo vệ ñàn ong.
Ngoài ra những trại nuôi ong lớn cần chọn nơi có ñường giao thông thuận lợi cho việc vận
chuyển ñàn ong và các sản phẩm nuôi ong.
• Các bước tiến hành tìm ñịa ñiểm nuôi ong.
ðiều tra cơ bản : Muốn nuôi ong trước hết phải nắm vững cây nguồn mật về số lượng và thời
gian nở hoa của cây, phải khảo sát về khí hậu và tập quán canh tác của ñịa phương, phải thống kê ñ-
ược số ñàn ong ñã nuôi trong vùng và tìm hiểu xem ñàn ong ñã ñặt phát triển thế nào và thu bao nhiêu
mật, còn có khả năng ñặt ñược bao nhiêu ñàn ong nữa, bằng cách tính số cây cần cho một ñàn ong.
ðặc biệt chú ý trong vùng ñã có nuôi giống ong khác hoặc ñàn ong ñang bị bệnh thì không chuyển
ong ñến. Ở những nơi hoàn toàn chưa nuôi ong mà chưa nắm vững ñược từng loại cây nguồn mật thì
ñặt số ñàn ong từ ít ñến nhiều ñể thăm dò trước khi chính thức xây dựng trại nuôi ong.
• Cách ñặt ong trong ñiểm nuôi.
ðối với ong Ý có thể ñặt ong theo hàng ñơn hoặc hàng kép. Các hàng ong xít nhau ñể nâng
cao hiệu suất làm việc, nhưng ong nội dễ bị bốc bay và chia ñàn tự nhiên, dễ ăn cướp mật của nhau và
cần có vật ñịnh hướng ñể nhận biết tổ cho nên ñặt ñàn ong nội cần chú ý:
- ðặt thùng ong ở dưới gốc cây, hiên nhà hoặc sàn nhà, cửa quay ra nơi quang ñãng, mùa hạ tránh
hướng Tây,mùa ðông tránh hướng Bắc và ñông Bắc. Những ñàn ong có chúa tơ cần “ưu tiên” ñặt nơi
quang ñãng, ongchúa giao phối về dễ nhận biết tổ. Cần tạo dựng vật che mát và chống rét tự nhiên
như tường, hiên nhà, bóng cây, rừng cây
- Các thùng ong cách nhau ít nhất 1m nếu chuẩn bị chia ñàn phải ñặt xa hơn. Cửa thùng quay ra nhiều
hướng ñể chống ong ăn cướp mật và quản lí ong thuận lợi. Không nên ñặt ong gần chuồng trâu, bò,
gà, lợn, cửa thùng không quay ra ñường chỗ người và gia súc ñi lại. Phải ñặt cách trại nuôi ong ngoại
ít nhất 5 km ñể ñề phòng ong ñến cướp mật.
Trường ðại học nông nghiệp Hà Nội Giáo trình Dâu tằm – Ong mật ………………
123
Trại ong giống cần giao phối cách li ,thì các trại ong cách nhau 15 km, ở thung lũng thì cũng
phải cách nhau 10 km ðặt thùng ong cách mặt ñất 35 - 40 cm ñể tránh cóc ăn ong, cần ñặt thùng ong
thăng bằng ñể khi cho ăn ,không làm chảy nước ñường ra khỏi máng.
• Nguồn ong giống.
Tuỳ theo ñiều kiện tự nhiên mà quyết ñịnh mua ong giống cho phù hợp, tăng hiệu quả kinh tế.
Nếu nguồn hoa rải rác, không tập trung với số lượng nhiều nên chọn mua giống ong nội A.cerana vì
giống ong này có tập tính cần cù, có khả năng tận dụng nguồn mật khan hiếm. Nếu ở vùng có cây
nguồn mật tập trung, số lượng phong phú hoặc nuôi ong theo phương thức di chuyển nên chọn mua
giống ong ngoại A.mellifera. Giống ong này có tính tụ ñàn cao, khả năng khai thác mật lớn, nên năng
suất, sản lượng mật cao. Ngoài ra cần chú ý ñến chất lượng ñàn ong, thể hiện qua các ñiểm sau:
- ðàn ong phải có chúa trẻ dưới 6 tháng tuổi. Chúa ñẻ tốt, vòng ñẻ trứng rộng, có nhiều lông (nếu ñã
rụng lông là ong chúa già). Khi nhấc cầu kiểm tra ong chúa vẫn hoạt ñộng bình thường.
- Bánh tổ mới màu sáp vàng, xây kín mặt cầu, không có lỗ ong ñực ở giữa, vít nắp nhộng phẳng,
không lỗ chỗ. Nếu lỗ chỗ là do ong chúa giao phối cận huyết hoặc ấu trùng ong bị bệnh ,bị ong thợ
loại bỏ.
- ðàn ong phải ñủ cầu con (ñặc biệt nhộng vít nắp), cầu trứng, cầu thức ăn dự trữ.
- ðàn ong không bị bệnh, không có ong thợ ñẻ trứng trước ñó. Thùng nuôi ong phải ñúng tiêu chuẩn
về kích thước.
b. Kiểm tra ñàn ong.
• Mục ñích kiểm tra.
Kiểm tra ñàn ong bao gồm cả quan sát bên ngoài và mở thùng kiểm tra bên trong ñàn ong.
Mục ñích của kiểm tra nhằm nắm vững tình hình ñàn ong, dự ñoán khả năng phát triển hoặc sa sút của
ñàn ong trong thời gian tới ñể xử lí ñàn ong kịp thời như: thấy lượng ong ñông có khả năng xây tầng
thì cho thêm cầu dự trữ hoặc tầng chân mới. Nếu thấy mất chúa thì giới thiệu chúa mới, thấy thưa
quân thì loại bớt cầu. Cuối cùng là nắm tổng quát tình hình ñàn ong trong cả trại ñể quyết ñịnh những
biện pháp kỹ thuật như di chyển, nhân ñàn, thu mật ở trước các thời vụ quan trọng. Tài liệu của các
lần kiểm tra cũng giúp cho việc dự ñoán và xử lí kịp thời ñàn ong ở cùng thời kì vào các năm sau.
Nguyên tắc và yêu cầu kiểm tra ñàn ong.
Ong mật sống kín ñáo và yên tĩnh, mở thùng ong nhiều, bị chấn ñộng ong rúc vào lỗ tổ hút
mật vì vậy không có mục ñích thì không nên kiểm tra ong. Phải lấy việc kiểm tra quan sát bên ngoài tổ
làm mục tiêu chính. Mỗi ngày quan sát ñàn ong 3 lần: sáng, trưa, chiều và ít nhất cũng quan sát ñược
vào buổi sáng ñể ñánh giá về tình hình hoa nở và tình hình ñàn ong. Ví dụ ñàn có chúa tơ ñột nhiên lấy
nhiều phấn là ong chúa ñã ñẻ (hoặc mất chúa, ong thợ ñẻ). Trại ong ñi làm tốt nhưng ñàn nào ñó
không ñi làm là có thể chuẩn bị bốc bay. ðàn ong tha nhộng ra có thể bị bệnh. ðàn ong bốc bay bắt
trở lại, ñàn mới sang thùng, ñi lấy phấn tốt, biểu hiện ong ổn ñịnh. Kiểm tra bên ngoài còn có thể phát
hiện, xử lí ngay ñược những hiện tượng ong ăn cướp mật, ong rừng và các loại ñịch hại khác và ñiều
chỉnh chống nóng, che mưa cho ñàn ong.
Kiểm tra bên trong phải nhẹ nhàng khi mở ván ong ra không bị xô dạt ñánh giá ñúng lượng
ong ngay từ cầu ngoài cùng sát ván ngăn. Khi kiểm tra không ñược làm xáo trộn ñàn ong, không ñể ấu
trùng, nhộng ong bị nóng và lạnh. Không ñể vương vãi phấn, mật ñể các ñàn ong khác ñến ăn cướp.