Trường ðại học nông nghiệp Hà Nội Giáo trình Dâu tằm – Ong mật ………………
142
Ví dụ: Vụ hoa nhãn kéo dài từ 20/ 3 - 10/ 4. ðể tham gia thu hoạch, ong già nhất phải ñược ñẻ
vào 28/ 1, vũ hoá vào 18/ 2, ñến 20/ 3 ong ñược 30 ngày tuổi, làm thêm 5 ngày nữa thì chết. Ong non
nhất ñược ñẻ vào 11/ 3, vũ hoá vào 1/ 4, sau 4 ngày bắt ñầu ñi làm (5/4) và làm ñược 5 ngày thì hết vụ
mật. Thời gian từ 28/ 1 - 11/ 3 là thời kì chuẩn bị lực lựơng ong thu mật nhãn. Những con ong ñược ñẻ
trong thời gian này là lực lượng chủ yếu ñi thu hoạch mật. Có thể minh hoạ theo sơ ñồ sau:
Trong thời kì chuẩn bị lực lượng cần tạo ñiều kiện cho ong chúa ñẻ khoẻ, tuyệt ñối không chia
ñàn hoặc có chia thì chia trước hoặc sau thời kỳ này.
+ Tạo ñàn ong mạnh trong thời kỳ chuẩn bị lực lượng.
ðể có nhiều ong tham gia lấy mật, trong thời kỳ chuẩn bị lực lượng cần phải tạo ñược ñàn ong
mạnh bằng các biện pháp sau:
- Cho ăn kích thích ñể tăng sức khoẻ ñẻ trứng của chúa. Chuyển cầu nhộng, ấu trùng từ giữa ra ngoài,
và chuyển cầu không từ ngoài vào giữa ñàn cho chúa ñẻ vì ong chúa thường ñẻ từ giữa ra ngoài. Nếu
trời lạnh thì không vội chuyển làm nhộng, ấu trùng bị lạnh. ðặt cầu tầng chân vào ñể ong xây bánh tổ
mới cho chúa ñẻ . Thường ñặt cầu tầng chân ở giữa cầu mật, phấn và cầu ấu trùng (vị trí thứ 2 hoặc
thứ 3 trong ñàn). Nếu ong Ý ñông quân ñạt 8 - 9 cầu có thể lên thùng kế bằng cách chuyển vài cầu
nhộng có ong lên thùng kế.
- Có thể chia số ñàn tương ñương nhau về thế ñàn làm 2 nhóm: Nhóm ñàn chính và nhóm ñàn phụ.
Nhóm ñàn chính là những ñàn ñể sinh sản, tạo chúa và chia ñàn sớm.Lấy cầu nhộng của nhóm ñàn
phụ chuyển sang nhóm ñàn chính cứ 5 - 7 ngày 1 lần ñể nhóm ñàn chính mạnh lên. Do ñược bổ sung
cầu nhộng, nhóm ñàn chính phát triển rất nhanh, chỉ sau 2 lần viện cầu, ở nhóm ñàn chính có ong ñực
xuất hiện có thể tạo chúa ñược. Ở nhóm ñàn phụ sau khi lấy cầu nhộng ñi cần cho thêm cầu tầng chân
ñể ong xây. Khi ñàn chính ñã phát triển mạnh lại cho thêm cầu tầng chân ñể ong xây và lấy cầu nhộng
bổ sung cho nhóm ñàn phụ ñể ñàn phụ mạnh lên.
- Trong mỗi trại, dựa vào tình hình cụ thể của ñàn ong có thể tạo những nhóm ñàn chủ công chuyên
môn hoá một việc: ðàn chủ công xây tầng, hoặc lấy mật phấn; ñàn chủ công sinh sản
- Nhập ñàn yếu lại với nhau hoặc nhập cho ñàn mạnh. Chúa thừa có thể cho vào ñàn nhỏ ñể tiếp tục
ñẻ trứng. Nếu mùa mật dài hơn 3 tuần thì bố trí một số ñàn chuyên sinh sản và một số ñàn chuyên lấy
mật. Lấy 1 - 2 cầu nhộng của ñàn sinh sản viện cho ñàn lấy mật và cho tầng chân vào ñàn sinh sản. ðể
tạo ñàn ong mạnh còn cần ngăn ngừa ong chia ñàn tự nhiên làm giảm thế ñàn.
p. Quản lí ong trong vụ mật.
+ Thêm thùng kế và tăng bánh tổ cho ong ñổ mật.
- ðàn ong mạnh ñã có 1 thùng kế khi chuẩn bị lấy mật có số cầu từ 16 trở lên có thể lên tầng kế thứ 2.
Ở ñàn chưa lên kế, nếu ñạt 8 - 10 cầu có thể lên kế 1. Ngoài thế ñàn (số cầu) ong, còn phụ thuộc vào
vụ mật ñể tăng thùng kế. Nếu vụ mật ngắn không cần lên thùng kế, chỉ áp dụng các biện pháp tạo ñàn
ong mạnh ñể khai thác mật.(Ong A.mellifera).
- Tăng diện tích bánh tổ cho ong ñổ mật:Khi ñem mật hoa về ong thường ñổ không ñầy các lỗ tổ ñể
tăng quá trình bốc hơi nước (mật hoa thường chứa 50 - 80% nước). Sau 5 - 6 ngày, mật chín (nước 18
- 21%) ong mới ñổ ñầy các lỗ tổ và vít nắp lại. ðể ñựng hết 1kg mật ong chỉ cần 2400 lỗ tổ nhưng ñể
ñựng hết 1kg mật hoa cần 7140 lỗ tổ. Do vậy nếu không ñủ số lỗ tổ ñể ñựng và chế biến mật, ong sẽ
giảm ñi thu hoạch. ðể tăng diện tích lỗ tổ ñựng mật có thể sử dụng cầu bánh tổ dự trữ hoặc hạn chế
Trường ðại học nông nghiệp Hà Nội Giáo trình Dâu tằm – Ong mật ………………
143
chúa ñẻ trứng vừa tăng lỗ tổ trống ñựng mật vừa giảm số ong non phải nuôi ấu trùng chuyển sang lấy
mật.(ong A.cerana và A.mellifera)
- Hạn chế chúa ñẻ bằng cách ñặt tấm lưới ngăn cách li chúa không cho lên tầng kế và sang các cầu
bên cạnh. Chuyển các cầu nhộng lên thùng kế, khi nhộng nở sẽ giải phóng lỗ tổ ñể chứa mật. Có thể
không dùng lưới ngăn cản ong thợ ñi lại mà ñể các cầu trên thùng kế thưa ra, ong thợ sẽ xây lỗ tổ dài
ra, chúa không ñẻ ñược. Nếu vụ mật kéo dài chỉ hạn chế chúa ñẻ vào nửa sau vụ mật ñể tăng số ong
non ở ñầu vụ ñi thu hoạch mật.(ong A,mellifera)
- Thay chúa già bằng chúa tơ hoặc mũ chúa. Trong thời gian chúa chưa ñi giao phối sẽ có nhiều lỗ tổ
trống ñựng mật. Khi vụ mật kéo dài, thay chúa vào giữa vụ, nếu vụ mật không kéo dài và rộ thì thay
chúa vào ñầu vụ.(cả hai giống ong).
- Những ñàn ong mạnh tiếp tục lên kế 3, 4 ñể tăng diện tích chứa mật theo nguyên tắc thùng kế mới
ñặt trước thùng kế cũ.(Ong A.mellifera).
- Thông gió cho ñàn ong: Khi chế biến mật hoa thành mật ong, ong tích cực thông gió trong tổ ñể
tăng quá trình bốc hơi nước. Mật càng nhiều số ong cần thông gió càng lớn. Người nuôi cần giúp ñàn
ong thông gió bằng cách mở toàn bộ cửa tổ, bỏ nắp phụ ñể tăng số ong ñi lấy mật.
+ Khai thác mật:
Có quan ñiểm cho rằng việc lấy mật và phát triển ñàn ong có mâu thuẫn với nhau, tức là nếu lấy
mật nhiều, ong sẽ phát triển kém và ngược lại. Thực ra nếu khai thác thích ñáng sẽ vừa thu ñược sản
phẩm vừa phát triển ñược ñàn ong vì trong ñàn ong nếu có nhiều mật, ong sẽ không ñi lấy mật nữa,
ong chúa thiếu lỗ ñẻ trứng. Sự dư thừa và tích luỹ ong non sẽ dẫn ñến chia ñàn. Tuy nhiên cần khai
thác mật thích ñáng, tránh khai thác quá nhiều lần, vừa hại ong vừa không ñảm bảo chất lượng mật. Số
lần khai thác trong 1 vụ tuỳ thuộc cây nguồn mật, thời tiết và thế ñàn ong Khi bắt ñầu thời kì hoa nở
rộ (hoa nở ñược 25 - 30%) mật trong bánh tổ ñã dày nhưng mới chớm vít nắp, tiến hành khai thác lần
ñầu chỉ lấy 1/ 3 - 1/ 2 tổng số cầu trong ñàn ñể quay mật (quay tỉa). Sau ñó nếu thời tiết tốt cứ 4 - 5
ngày kiểm tra ong thấy ña số các cầu trong ñàn ñã vít nắp 1/ 3 thì ñem khai thác. Nếu chờ ong vít nắp
hoàn toàn sẽ mất nhiều thời gian và ong không ñủ lỗ chứa mật hoa, sẽ giảm ñi làm. Nếu lấy mật sớm
chưa vít nắp, mật chưa chín dễ bị lên men chua khó bảo quản.
• Cách lấy mật.
Dùng thùng quay ly tâm ñể loại mật khỏi cầu. Trước khi quay mật cần chuẩn bị ñầy ñủ các
dụng cụ cần thiết: thùng quay, dao cắt vít nắp, lưới che mặt, chổi quét ong, bình phun khói, khay ñựng
sáp vít nắp, dụng cụ lọc và chứa mật, chậu nước sạch
Số người tham gia: 3 - 5 người: Một người rũ ong, một người chuyển cầu ñể quay và trả cầu
ñã quay vào ñàn cũ. Một, hai người cắt vít nắp và quay mật.
- Rũ ong: Với ong ngoại dùng hai tay nắm chặt hai ñầu thang trên của cầu ong, rũ mạnh ñột ngột 1 -
2 lần ñể ong rơi vào thùng chính. Với ong nội cần rũ nhẹ (rũ ñột ngột ong sẽ bay lên ñốt), dùng chổi
quét hoặc thổi ong còn lại trên cầu vào thùng. Ong Ý có thể dùng vải tẩm axit phênic phủ lên thùng kế
ong sẽ chạy xuống thùng dưới.
- Dùng dao cắt vít nắp từ dưới lên trên, cắt phẳng, không sâu quá, sau ñó chuyển cầu vào thùng quay
mật .Quay ñều tay, nhẹ nhàng, tăng dần tốc ñộ vừa ñủ ñể mật văng ra mà không văng ấu trùng. Quay
Trường ðại học nông nghiệp Hà Nội Giáo trình Dâu tằm – Ong mật ………………
144
hết mật một bên cầu thì ñổi mặt cầu bên kia ra ngoài ñể quay nốt mật. Sau khi quay cần loại bỏ lỗ tổ
ong ñực hoặc mũ chúa chia ñàn tự nhiên ñể ngăn ngừa ong chia ñàn.
Những ñiều cần chú ý khi quay mật:
- Thời gian quay mật tốt nhất là vào lúc ong ñi làm ít, tránh cản trở công việc của ong: Bạch ñàn, sú
vẹt quay buổi sớm. Nhãn vải quay vào lúc 1- 2 h trưa.
- Trên cầu có cả mật lẫn ấu trùng, nhộng cần rũ thấp, nhẹ nhàng tránh ñể ong bay lung tung và chúa
bay mất. Những cầu mới có trứng, ấu trùng nhiều nhưng mật ít ñể lại lần sau quay. Sau khi quay xong
cần trả cầu về ñàn cũ ngay ñể ấu trùng ít bị ảnh hưởng. Cầu muốn loại ra ñể sát thành thùng ngoài ván
ngăn.
- Lấy mật theo nguyên tắc: Thời tiết tốt, còn vụ hoa lấy mật nhiều, ñể laị ít (8%). Thời tiết xấu hoặc
kết thúc hoa nở rộ (nở ñược 70 – 75%) thì lấy ít, ñể lại nhiều mật cho ong hoặc quay tỉa.
- Sau khi quay xong cần lọc mật, loại bỏ xác ong, ấu trùng, sáp vụn, phấn hoa ñể mật lắng vài ngày,
tạp chất nhỏ nổi lên trên ñem hớt bỏ.
- Mật ñược bảo quản trong bình kín có sức chứa không quá 100 kg bằng nhôm, thuỷ tinh, ñồ gốm
hoặc các loại gỗ thích hợp với ẩm ñộ của mật. ðể mật nơi mát, thoáng khí, khô ráo. Không ñể mật ở
nơi có cá khô, dầu hoả, nhựa thông và những chất có mùi lạ, mật sẽ hấp thụ mùi làm giảm chất lượng.
Trên thùng cần ghi rõ loại mật, trọng lượng, thời gian thu hoạch.
• Khai thác sữa chúa.
Khi nguồn hoa phong phú, ngoài mật ong ra, có thể tiến hành khai thác sữa chúa tăng hiệu quả
kinh tế của nghề nuôi ong nhất là khi nuôi ong ngoại. Dụng cụ phải ñược sát trùng kỹ ñảm bảo chất
lượng sữa chúa.
Chọn ñàn khoẻ, không bệnh, có ñủ cầu ấu trùng, mật phấn ong non ñể tiết sữa. Tách chúa
trước 6 – 12 h. Cách làm tương tự tạo chúa di trùng (làm chén sáp, di trùng, ñưa vào ñàn nuôi dưỡng).
Sau 48 – 72 h lấy cầu di trùng
ra, dùng panh gắp bỏ ấu trùng,
lấy thìa (làm bằng sừng hoặc
tre) múc sữa cho vào lọ thuỷ
tinh màu, bảo quản ở 0
o
C hoặc
trộn lẫn mật ong ñể nơi không
có ánh sáng. Những mũ chúa
sau khi ñã lấy sữa chúa lại sử
dụng ñể cấy ấu trùng, khai thác
sữa chúa tiếp.
Hình 2.8 - Cầu gắn chén sáp ñể khai thác sữa chúa.
Trường ðại học nông nghiệp Hà Nội Giáo trình Dâu tằm – Ong mật ………………
145
8.2. Kỹ thuật tạo chúa, nhân ñàn ong
a . Tạo chúa.
Hàng năm người nuôi ong cần có nhiều ong chúa mới ñể thay thế các ong chúa già, chúa xấu
và ñể chia các ñàn mới. Việc tạo chúa kịp thời, ñủ số lượng và chất lượng có ý nghĩa quyết ñịnh ñến
năng suất mật.
• Những yếu tố ảnh hưởng ñến số lượng và chất lượng ong chúa.
Chất lượng của ong chúa gắn liền với năng suất sản phẩm của ñàn ong. Ong chúa ñẻ càng
nhiều trứng, ñàn ong càng ñông quân và sẽ thu càng nhiều mật. Moeller, (1961) ñã xác ñịnh hệ số
tương quan giữa số quân của ñàn và năng suất mật ong A.mellifera là 0,4935 - 0,8485. Woyke,
(1976) ñều thấy rằng có mối tương quan giữa năng suất mật và khả năng nuôi ấu trùng của ñàn ong
A.cerana. Chất lượng của ong chúa phụ thuộc vào 2 yếu tố chính: di truyền của ñàn ong giống (ñàn
bố, mẹ) và ñiều kiện nuôi dưỡng ấu trùng chúa.
+ ðàn ong giống:
ðàn ong giống là ñàn cung cấp ấu trùng tạo chúa và các ñàn tạo ra các ong ñực giao phối với
những con ong chúa ñó. Vì thế việc lựa chọn và chăm sóc các ñàn giống ñược tiến hành rất cẩn thận.
Các ñàn giống cần ñạt một số tiêu chuẩn sau:
- Năng suất mật cao.
- Sức ñẻ trứng của ong chúa cao, ñàn ong ñông quân, các cầu nhộng vít nắp phẳng.
- Ong hiền lành.
- Không (hoặc ít) chia ñàn.
- Không hoặc ít bốc bay.
- Chống chịu bệnh và kí sinh tốt, không bị mắc bệnh ấu trùng túi (sacbrood) và thối ấu
trùng châu Âu, Các ñàn phải có dự trữ mật nhiều nếu không phải cho ăn thêm, quân ñông phủ kín cầu.
Tạo ong ñực trước khi tạo chúa 15 - 20 ngày và tạo ở khác ñàn lấy ấu trùng (ñàn mẹ). Diệt các ong
ñực ở các ñàn xấu bằng cách cắt bỏ các lỗ tổ ong ñực ñã hoặc chưa vít nắp.
+ Yếu tố nuôi dưỡng.
Các ong chúa tốt nhất chỉ ñược tạo ra từ các ñàn giống tốt, nhưng từ các ñàn giống tốt nhất
chưa hẳn ñã tạo ra ñược những con ong chúa tốt nếu như phương pháp tạo chúa không ñúng ñắn
Laidlaw (1979). ấu trùng ong chúa và ấu trùng ong thợ ñều ñược tạo từ trứng ñã thụ tinh nghĩa là có
nguồn gốc di truyền như nhau nhưng do chế ñộ thức ăn khác nhau mà chúng ñược quyết ñịnh thành
ong chúa hay ong thợ. Vì thế chế ñộ cung cấp thức ăn cho ấu trùng chúa, chắc chắn sẽ có ảnh hưởng
lớn ñến chất lượng ong chúa tạo ra. Các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp ñến chế ñộ cung cấp
thức ăn của ấu trùng chúa bao gồm ñàn nuôi dưỡng, nguồn phấn mật, thời tiết khí hậu
ðàn nuôi dưỡng là ñàn tiếp nhận các ấu trùng và nuôi chúng thành ong chúa trưởng thành.
ðàn nuôi dưỡng mạnh, ñông quân, nhiều ong non ở tình trạng chuẩn bị chia ñàn và ñủ thức ăn sẽ nuôi
ñược nhiều ong chúa và có chất lượng cao. Ngược lại ,ñàn nuôi dưỡng nhỏ, quân già thức ăn ít nuôi
ñược ít ấu trùng chúa hơn và chất lượng chúa tạo ra sẽ kém hơn.
Nguồn phấn, mật hoa phong phú, khi tạo chúa, ong nuôi dưỡng tiết sữa nhiều chất lượng chúa
tốt và ngược lại. Tuy nhiên nếu tạo chúa vào giữa vụ mật, ong mải mê ñi lấy mật mà xao lãng nuôi ấu
trùng chúa thì chất lượng chúa không tốt. Vì vậy nên tạo chúa vào ñầu vụ hoặc cuối vụ mật. Còn
Trường ðại học nông nghiệp Hà Nội Giáo trình Dâu tằm – Ong mật ………………
146
trường hợp nguồn mật hoa ngoài tự nhiên không phong phú cần cho ñàn mẹ và ñàn nuôi dưỡng ăn
trước khi tạo chúa 4 - 5 ngày và cho ăn ñến khi mũ chúa vít nắp.
- Mùa vụ: Ong thường chia ñàn tự nhiên vào mùa ấm áp thức ăn ñầy ñủ, là lúc ñàn ong phát triển ở
ñỉnh cao có nhiều nhộng, ấu trùng và quân ñông nhất gọi là mùa chia ñàn. Ở phía Bắc nước ta có mùa
chia ñàn chính vào tháng 3 - 4 và mùa chia ñàn phụ vào tháng 10 - 11. Ở một số vùng vào mùa hè
tháng 5 - 6 có nhiều mật ñay, bạch ñàn ong cũng chia ñàn. Chúa ñược tạo vào mùa xuân có chất lượng
tốt hơn mùa khác.
- Khí hậu: nước ta khí hậu ở vùng nhiệt ñới nên có thể tạo chúa quanh năm nhưng cần chú ý tạo vào
lúc có nguồn thức ăn thì chất lượng chúa mới tốt. Mặt khác cần tránh tạo chúa vào mùa mưa, hoặc
mùa ñông rét muốt trời mù (ở phía Bắc) hoặc mùa có gió to nhiều chuồn chuồn, ong chúa không ñi
giao phối ñược, hoặc ñi ñược nhưng tỷ lệ giao phối thành công rất thấp do bị chuồn chuồn ăn mất
+ Các phương pháp tạo chúa.
- Tạo chúa bằng phương pháp ñơn giản: .Khi nuôi ong qui mô nhỏ cần số lượng chúa ít có thể sử
dụng một số phương pháp tạo chúa ñơn giản mà vẫn thu ñược chúa có chất lượng cao như :
Sử dụng mũ chúa chia ñàn thay thế tự nhiên.
Phương pháp này ñã ñược những người nuôi ong cổ truyền trong thùng có xà cầu ở nước ta
sử dụng từ lâu. Trên các trại ong vào mùa ấm áp, phấn mật ñầy ñủ, một số ñàn ong sẽ xây mũ chúa
chia ñàn. Các mũ chúa chia ñàn do ñược tạo từ trứng một cách chủ ñộng nên thường có chất lượng tốt.
Sau khi mũ chúa vít nắp ñược vài ngày dùng dao nhỏ, sắc cắt phần bánh tổ phía trên gốc mũ chúa 1 -
1,5 cm rồi giới thiệu vào ñàn mất chúa hoặc ñàn cần chia. Tuy nhiên những mũ chúa thu từ ñàn xấu,
năng suất thấp hoặc những ñàn nhỏ thì không tốt. Mặt khác việc thu mũ chúa rất bị ñộng vì ong có
năm chia ñàn nhiều, có năm chia ít, lúc cần mũ chúa thì chưa có, lúc không cần lại nhiều. ðể có mũ
chúa sớm và chủ ñộng hơn người nuôi ong có thể kích thích ñàn ong xây mũ chúa chia ñàn. Chọn
những ñàn tốt ñủ tiêu chuẩn làm giống, cho ăn thêm xirô ñường, nếu cần cho ăn thêm chất thay thế
phấn hoa ñể tăng sức ñẻ của chúa. Viện cho ñàn từ 1 - 2 cầu nhộng già sắp nở ñể ñàn ong nhanh
chóng ñông quân, chật chội, thiếu chỗ ñẻ, ong sẽ xây các mũ chúa chia ñàn. Khi mũ chúa già chọn các
mũ ñẹp thẳng ñể sử dụng. Cần luư ý rằng mũ chúa ong A. cerana chia ñàn trông rất ngắn nhưng khi
nở ra vẫn ñược những con chúa dài vì ong xây một phần sáp ở gốc mũ chúa. Tuy nhiên việc sử dụng
thường xuyên các mũ chúa chia ñàn, nhất là ñàn nhỏ hoặc trung bình sẽ tạo cho ong có xu tính chia
ñàn cao hơn.
Ở một số ñàn ong có chúa già, chúa bị dị tật hoặc bị thương vì một lí do nào ñâý, ong sẽ xây 1
- 3 mũ chúa ở rìa hoặc mép bánh tổ. Cho ñến khi chúa nở ong vẫn không chia ñàn gọi là chúa thay thế.
Thông thường chúa tơ sau khi nở sẽ giết chết chúa già, nhưng cũng có khi ñi giao phối về ñẻ trứng
cùng với chúa già một thời gian cho ñến khi chúa già chết. Mũ chúa thay thế ở những ñàn mạnh, mùa
vụ thuận lợi có chất lượng rất tốt. Khi mũ chúa thay thế vít nắp ñược 8 - 9 ngày thì cắt ñem sử dụng.
ðàn ong sẽ tiếp tục xây các mũ chúa khác.
- Tạo chúa theo phương pháp cấp tạo.
Khi ñàn ong mất chúa ñột ngột ong sẽ chọn một số ấu trùng dưới 3 ngày tuổi (ñôi khi cả
trứng) nới rộng lỗ tổ thành các mũ chúa. Mũ chúa cấp tạo ñược tạo từ ấu trùng 2,5 - 3 ngày tuổi sẽ nở
sớm hơn và phá bỏ các mũ chúa khác nên chúa cấp tạo thường có kích thước nhỏ. Mặt khác việc mất
Trường ðại học nông nghiệp Hà Nội Giáo trình Dâu tằm – Ong mật ………………
147
chúa xảy ra vào lúc bất kì trong năm, nhiều khi vào lúc nguồn mật khan hiếm nên mũ chúa nhỏ và
ngắn vì thế chất lượng mũ chúa cấp tạo ñược gọi là xấu. Tuy nhiên ở những ñàn mạnh, ñủ mật phấn
các mũ chúa cấp tạo, tạo từ ấu trùng nhỏ tuổi cũng có chất lượng tốt như là mũ chúa chia ñàn.
Cách làm: chọn ñàn ong mạnh, có năng suất cao nhất trại, ñủ tiêu chuẩn làm giống cho ong ăn
thêm xirô ñường 2 - 3 tối ñể ong nới bánh tổ về phía dưới và ñẻ trứng vào ñó. Khi thấy chúa ñẻ vào lỗ
tổ mới từ 1 - 2 ngày thì bắt chúa ñi, rũ bớt cầu ñể ong bám dày hơn trên các cầu còn lại. ðặt cầu có
trứng mới ñã chuẩn bị vào giữa tổ, 2 - 3 ngày sau kiểm tra phá bỏ tất cả các mũ chúa trên mặt bánh tổ
và ở các cầu khác, chỉ ñể lại các mũ chúa ở dưới. Các mũ chúa ñược tạo từ những lỗ tổ mới từ trứng
hoặc ấu trùng nhỏ tuổi ở phía bên dưới nên rất thẳng và dài. Trong trường hợp gấp không chuẩn bị
ñược cầu mới thì có thể chọn các mũ chúa ở rìa bên hoặc mép dưới các bánh tổ. Khi mũ chúa ñã già
(khoảng 8 - 9 ngày sau khi tách chúa, lấy các mũ chúa ñem sử dụng. Mỗi một ñàn cấp tạo, tạo ñược 5
- 15 mũ chúa).
Cũng có thể cắt bớt phần dưới các bánh tổ theo ñường thẳng hoặc ñường dích dắc ñể ong xây
nhiều mũ chúa hơn, ở chỗ bánh tổ có ấu trùng nhỏ. Nhưng cần luư ý chọn các bánh tổ còn mới, ong dễ
tiếp thu. Nếu bánh tổ ñen và cũ ong sẽ không xây mũ chúa.
Tạo chúa cấp tạo từ các ñàn tốt, trên các lỗ tổ mới vào mùa thuận lợi ñủ mật, phấn, chất lượng
không thua kém mũ chúa chia ñàn tự nhiên mà lại chủ ñộng ñược thời gian.
• Tạo chúa bằng phương pháp di trùng.
Tạo chúa di trùng là phương pháp tạo chúa cơ bản nhất trong nghề nuôi ong hiện ñaị, có thể
tiến hành bất cứ vào lúc nào trong năm lại chủ ñộng ñược số lượng chúa, thời gian nở của chúa.
+ Dụng cụ tạo chúa:
- Khuôn ñúc làm mũ chúa còn gọi là mũ chúa: (ñể ñúc chén sáp giống nền mũ chúa tự nhiên) làm
bằng gỗ chắc, mịn, tiện hình trụ, ñầu tiện tròn (ñường kính 9 mm ñối với ong ngoại, 7 mm ñối với ong
nội).
- Kim di trùng: làm bằng thép không gỉ hoặc mạ bạc dài 150 mm giữa xoắn thừng, 1 ñầu có móc dài
0,5 mm, móc cong 120
o
một ñầu có dạng thìa tròn (ñường kính 6 mm, dày 0,5 mm).
- Dụng cụ nấu sáp: bếp dầu hoặc ñiện, xoong nhỏ ñun cách thuỷ.
- Cầu tạo chúa: có 3 - 4 thang ñể gắn chén sáp.
- Một số dụng cụ khác: sáp vàng, mảnh gỗ hình tứ giác làm nền mũ chúa, cồn 90
o
khử trùng, cầu
cách li dự trữ chúa tơ, thùng giao phối, phễu rũ ong, lồng úp, lồng chuyển chúa, thùng xách tay và các
dụng cụ nuôi ong thông thường.
+ Kỹ thuật tạo chúa nhân tạo: gồm 2 bước, tạo chúa tơ và tạo chúa giao phối.
Tạo chúa tơ: kiểm tra phân chia số ñàn ong thành các nhóm: nhóm ñàn mẹ, ñàn bố, ñàn nuôi
dưỡng chính và hỗ trợ, ñàn ấp chúa.
Nhóm ñàn ong mẹ: là ñàn cung cấp ấu trùng ñể tạo chúa. Vì vậy cần chọn những ñàn tốt nhất,
quân ñông, chống chịu sâu bệnh tốt, sản lượng cao, ít chia ñàn thể hiện các ñặc tính của giống rõ rệt
nhất, thường ñàn mẹ lấy ở trại bảo quản giống gốc có ñộ thuần chủng cao.
Thế ñàn mẹ với ong ngoại cần có 10 - 12 cầu, ong nội 6 - 7 cầu. ðể lấy ñược ấu trùng cùng
ngày tuổi, cho ong chúa vào lồng cách li cùng với ong thợ và một cầu không. Sau 1 ngày, nhấc cầu
chúa ñã ñẻ ra, ghi ngày chúa ñẻ lên mặt cầu, tiếp tục ñưa cầu không khác vào. Nếu ngoài tự nhiên ít
Trường ðại học nông nghiệp Hà Nội Giáo trình Dâu tằm – Ong mật ………………
148
mật, phấn cần bổ sung cho ong ñầy ñủ cả mật lẫn phấn. Số lượng ñàn mẹ tuỳ theo yêu cầu thường là
một vài ñàn.
Nhóm ñàn nuôi dưỡng hỗ trợ: Cung cấp sữa chúa ñể di trùng và cầu nhộng cho ñàn nuôi
dưỡng chính.
Nhóm ñàn nuôi dưỡng chính là ñàn nhận nuôi dưỡng ấu trùng thành chúa. Chất lượng chúa
phụ thuộc rất nhiều vào thức ăn nên cần chọn ñàn mạnh, có năng suất cao, ñông quân, có nhiều ong
non ở thời kỳ tiết sữa, ñủ mât, phấn dự trữ. Với ong ngoại phải có trên 8 cầu, ong nôị 5 - 6 cầu.
ðể ong tiếp nhận mũ chúa tốt, cần ñể ñàn nuôi dưỡng luôn luôn ở trạng thái chia ñàn: dồn cầu
cho ong ñậu kín 2 mặt cầu, không cho xây tầng. Vụ thu ñông ñậy kín thùng bằng nilon ñể ong cảm
thấy ngột ngạt muốn chia ñàn. Về số lượng cứ 1 ñàn mẹ cần 10 ñàn nuôi dưỡng chính. ðàn nuôi
dưỡng chính và hỗ trợ sau khi sử dụng 15 ngày lại cho chúa ñẻ vào cho nghỉ một tháng (ñể ong phục
hồi thế ñàn và chúa ñẻ tăng số lượng ong non).
Nhóm ñàn ong bố : cung cấp ong ñực ñể giao phối với ong chúa. Vì vậy ñàn ong bố cũng phải
là ñàn mạnh, có chất lượng tốt. Thu hẹp bớt cửa tổ, cho ong ăn bổ sung, viện cầu nhộng từ ñàn khác
ñến ñể ong ở trạng thái chia ñàn, sẽ xây nhiều lỗ tổ ong ñực. Có thể ñưa cầu không gắn tầng chân
hoặc cầu dự trữ có nhiều lỗ ong ñực cho chúa ñẻ. Thời gian tạo ong ñực phải tiến hành trước khi tạo
chúa từ 13 - 16 ngày vì thời gian từ trứng ñến khi ñi giao phối của ong ñực dài hơn ong chúa.
Thời gian từ trứng ñến trưởng thành (ngày): ong ñực 24; ong chúa 16.
Thời gian từ trứng ñến thành thục cơ quan sinh dục :của ong ñực là 34 – 38 ngày; ong chúa
21- 22 ngày. Nếu tạo ong ñực ñồng thời với tạo chúa sẽ dẫn ñến hiện tượng khi chúa vũ hoá sẽ không
có ong ñực ñể giao phối. Số lượng ong ñực của một ñàn có thể giao phối với 50 ong chúa. Chú ý giết
hết ong ñực ở ñàn mẹ và các ñàn khác. ðặt ñàn ong bố ở nơi ñặt thùng giao phối hoặc bên ngoài rìa
trại.
+ Thứ tự thao tác trong quá trình tạo chúa tơ:
- Chuẩn bị: chuẩn bị ñầy ñủ các dụng cụ cần thiết như dụng cụ làm chén sáp (quản chúa), cầu tạo
chúa, kim di trùng ñã khử trùng, cầu cách li chúa, thức ăn, chuẩn bị và kiểm tra các ñàn bố, ñàn mẹ,
ñàn nuôi dưỡng hỗ trợ và ấp chúa.
- Thao tác tiến hành:
+ Làm chén sáp: Cần phải giống mũ chúa tự nhiên ong xây khi chia ñàn, phải có nền dày, mép mỏng.
Sáp làm mũ chúa phải là sáp nguyên chất, tinh khiết .ðun cách thuỷ cho sáp nóng chảy, nhúng quản
chúa vào nước sau ñó nhúng vào sáp nóng chảy sâu 7mm, nhấc lên, nhúng lại lần 2 nông hơn sẽ thu
ñược chén sáp như yêu cầu. Nhúng quản chúa vào nước, xoay nhẹ tay cho chén sáp rơi ra. Nhúng tiếp
chén sáp vào sáp nóng ñem gắn lên ñế và cầu tạo chúa, cho một ít mật vào chén sáp ñưa vào thùng
cho ong dọn vệ sinh và ñể lại pheromon ñánh dấu, ong sẽ dễ tiếp nhận mũ chúa hơn.
Số lượng mũ chúa gắn vào một cầu tạo chúa là 24 cái. ðặt lấy sữa chúa từ ñàn nuôi dưỡng hỗ
trợ, phân phát vào trong các mũ chúa (mỗi mũ một lượng sữa bằng ñầu que diêm). Lấy cầu trùng 1
ngày tuổi ở ñàn mẹ ñể di trùng (chuyển ấu trùng từ cầu vào các mũ chúa).
+ Thời gian di trùng: vào buổi sáng hoặc chiều, ñể sau 12 giờ có thể kiểm tra bổ sung những mũ chúa
không tiếp thu cho ñủ 24 mũ. Nhiệt ñộ cần thiết 25 - 30
0
C. ẩm ñộ 70 - 80%. Nếu nhiệt ñộ thấp hơn
25
0
C cần di trùng trong phòng ấm (30
0
C), chuyển cầu ấu trùng, cầu chúa vào phòng bằng thùng xách
Trường ðại học nông nghiệp Hà Nội Giáo trình Dâu tằm – Ong mật ………………
149
tay. Khi di trùng múc từ lưng ấu trùng lẫn cả sữa chúa tránh làm tổn thương ấu trùng. Thời gian di
trùng một cầu (24 mũ) không ñược quá 15 phút. ðem cầu mũ chúa ñã di trùng ñặt vào ñàn nuôi d-
ưỡng chính ở vị trí ñã ñịnh (giữa một cầu ấu trùng mở nắp và 1 cầu ấu trùng vít nắp), trả cầu ấu trùng
về ñàn mẹ. Sau ñó cứ 3 - 5 ngày 1 lần ñưa tiếp 1 cầu mũ chúa vào ñàn nuôi dưỡng tuỳ theo nhu cầu
chúa tơ cần tạo ra. Sau 9 ngày ñem cầu mũ chúa ñầu tiên cách ly. Trong quá trình tạo chúa cần chú ý
theo dõi vặt hết mũ chúa cấp tạo, ở các bánh tổ, tránh ñể chúa nở ra, ong sẽ phá hết các mũ chúa nhân
tạo.
Hình 3.8 Cầu gắn mũ chúa nhân tạo.
- Cách ly chúa:
Trước khi sử dụng, cần ñặt cầu cách ly ñã phết nước ñường vào ñàn ấp chúa cho ong dọn vệ
sinh. Phết sáp nóng chảy lên mặt trên của các ô cách ly chúa, ñặt vào góc trên mỗi ô một ít thức ăn
nhão (hỗn hợp 3 ñường 1 mật). Nhấc cầu mũ chúa cần cách ly ở ñàn nuôi dưỡng theo phương thẳng
ñứng, không rũ ong, ñặt cầu lên giá. Dùng mũi dao nhọn mỏng tách mũ chúa ñạt tiêu chuẩn ra khỏi
thang, gắn chặt vào phía trên của ô cách ly (ở vị trí ñã phết sáp) sao cho mũ chúa không bị nghiêng
vẹo. Gạt vào mỗi ô ñã gắn mũ chúa từ 5 - 10 ong thợ non ở cầu tạo chúa. Sau ñó ñậy nắp các ô ñã gắn
mũ chúa và ñặt cầu cách ly vào ñàn ấp chúa hoặc tử ấp sinh học có nhiệt ñộ 34 - 35
0
C, ẩm ñộ 70 -
80%.
+ Tạo chúa giao phối.
- Chuẩn bị thùng giao phối: Thùng giao phối là thùng ong nhỏ nơi chúa tơ trải qua giai ñoạn hoàn
thiện cơ quan sinh dục, ñi giao phối và bắt ñầu ñẻ trứng. Thùng giao phối ñược phân loại theo kích
thước và sử dụng tuỳ theo ñiều kiện từng mùa: Có thùng giao phối cầu nguyên, cầu 1/ 2, cầu 1/ 4
Thùng giao phối cầu nguyên sử dụng như ở ñàn bình thường, có 2 ngăn, cửa tổ quay về 2
phía. Ong A. Cerana thường sử dụng loại thùng này hoặc thùng giao phối nhỏ, và chỉ cho vào 1 cầu và
1 ván ngăn. Cầu ong phải ñông quân, có nhộng, ñủ trứng và mật dự trữ.
Thùng giao phối cầu 1/ 2 có kích thước cầu bằng 1/ 2 cầu bình thường có 2 ngăn.
Thùng giao phối cầu 1/ 4 có kích thước bằng 1/ 4 cầu nguyên, thùng có 2 hoặc 4 ngăn.
Trường ðại học nông nghiệp Hà Nội Giáo trình Dâu tằm – Ong mật ………………
150
Trước khi sử dụng cần kiểm tra chất lượng thùng, bít kín các khe hở ñể ong không ra vào tự
do hoặc chuyển từ ngăn này sang ngăn khác. Các buồng giao phối ñược ñánh số và sơn maù khác
nhau (một trong các màu vàng, xanh, trắng). Các thùng giao phối ñặt thành khu riêng, cách xa các khu
vực ñặt ñàn lớn, dưới bóng cây râm mát, cửa quay về các hướng khác nhau, có các vật chuẩn tự nhiên
(gốc, bụi cây nhỏ) ñể ong chúa dễ ñịnh hướng và tiện kiểm tra theo dõi. Các thùng ñặt lần lượt theo số
thứ tự.
Mỗi buồng giao phối cần có 2 - 3 cầu (ong A.mellifera). Trong ñó có 1 cầu con, 1 cầu thức ăn
và 1 cầu dự trữ (ñặt trong các ñàn cơ bản). Cầu ñưa vào buồng giao phối có thể cắt ra từ các cầu bình
thường hoặc cầu nhỏ ong mới xây. Nếu là cầu ñể ong xây, cần làm trước khi tạo ñàn giao phối 15 - 20
ngày, ñem ghép các cầu nhỏ ñã gắn tầng chân thành 1 cầu lớn ñặt vào các ñàn cơ bản ñể ong xây tầng,
ñẻ trứng và ñổ mật, phấn. Cần tính toán số lượng cầu cho ñủ ñể ñưa vào các ñàn giao phối ñảm bảo
chất lượng. Cầu cắt chỉ lấy ở những ñàn có trên 8 cầu (ong ngoại) và 4 cầu (ong nội).
- ðưa ong non vào thùng giao phối:
Ong ñưa vào ñàn giao phối phải là ong non ñể chúng dễ tiếp nhận chúa tơ, tiết nhiều sữa nuôi
chúa mới, và không quay về tổ cũ. Trước khi tạo ñàn giao phối 5 - 8 giờ, tại các ñàn dự kiến lấy ong
non, tách 2 - 3 cầu cùng với chúa sang thùng khác và ñặt vào chỗ cũ. Thùng cũ cùng với số cầu còn lại
ñặt dịch sang bên cạnh hoặc ñặt gần thùng giao phối. Ong già sẽ bay về vị trí cũ, còn lại toàn ong non
sẽ chuyển vào ñàn giao phối (qua phễu rũ ong) sao cho ong ñủ bám kín mặt các cầu. Sau khi rũ ong
trả cầu về ñàn cũ ngay. Nếu ñàn giao phối có 2 - 3 ngăn thì rũ ong vào từng ngăn một, ñợi ong ổn ñịnh
mới rũ tiếp vào ngăn kia. Khi rũ ong có thể bỏ luôn chúa tơ hoặc gắn mũ chúa vào cầu nhộng. Pha
nước ñường tỷ lệ 1:1 ñổ vào máng cho ong ăn. ðàn giao phối phải ñể ổn ñịnh một thời gian. Ban ngày
ñóng cửa tổ, gần tối mới mở cho ong non bài tiết, tập bay. Sau 1 - 2 ngày mở cửa bình thường. Sau tạo
ñàn giao phối 3 ngày kiểm tra toàn bộ, giới thiệu chúa cho ñàn bị mất chúa, bổ sung thức ăn, ong non
cho ñàn bị thiếu. Sau 9 - 12 ngày kiểm tra tình hình chúa ñẻ. Sau 15 ngày ñêm loại bỏ những con chúa
không ñẻ, giới thiệu chúa tơ khác. Cần chú ý phòng bệnh, những ñàn ong bị bệnh cần ñưa ra khỏi khu
vực làm giống ñể chữa bệnh và không ñem trở lại sau khi ñã chữa khỏi.
- Bắt chúa ñẻ trong ñàn giao phối:
Sử dụng hộp chuyển chúa có 2 ngăn, ngăn nhỏ chứa thức ăn, ngăn lớn chứa chúa. Gạt nhẹ ñể
ñuổi chúa và 5 - 10 ong thợ vào hộp, dùng nắp nhựa có lỗ thông hơi ñậy lại. Dùng dây cao su hoặc
ñinh ñể cố ñịnh nắp, ghi lý lịch chúa (tên ñàn mẹ, ngày tạo chúa, ngày chúa nở, chúa ñẻ, ngày bắt, trại
giống ) ghim kèm với hộp chuyển chúa. Gói các hộp ñã có chúa, buộc kỹ, ghi ký hiệu mặt trên dưới
và dòng chữ: “chú ý ong sống không lật ngược và ñể ngoài nắng”. Bảo quản ong chúa ở nhiệt ñộ 20 -
25
0
C trong quá trình vận chuyển ñến nơi sử dụng.
- Xử lý ñàn giao phối sau khi ngừng sử dụng: Dùng ñể dự trữ ong chúa hoặc ghép các cầu nhỏ thành
cầu lớn cùng với ong thợ nhập vào ñàn bình thường. Xử lý thùng bằng hoá chất diệt trùng, rửa sạch
phôi khô, bảo quản ñể dùng trong vụ sau.
ðánh giá chất lượng và phương pháp giới thiệu ong chúa, mũ chúa
+ ðánh giá chất lượng ong chúa hoặc mũ chúa
- ðối với mũ chúa: ðánh giá chất lượng mũ chúa theo ngoại hình và kích thước (vì chúng liên quan
chặt chẽ ñến chất lượng chúa). Mũ chúa tốt có hình dạng thẳng, thuôn ñầu, ong ngoại dài trên 2 cm,
Trường ðại học nông nghiệp Hà Nội Giáo trình Dâu tằm – Ong mật ………………
151
ong nội dài trên 1,8 cm. ðờng kính (phần rộng nhất): Ong ngoại trên 1,2 cm, ong nội trên 1,0 cm.
Những mũ chúa cong vẹo, có kích thước nhỏ cần loại bỏ.
- Chúa tơ: Chúa tốt có trọng lượng mới nở trên 190 mg (ong ngoại) và trên 150 mg (ong nội). Về
ngoại hình chúa tốt cơ thể to, dài, cân ñối, không què chân, xoăn cánh, có màu sắc ñồng nhất mang
ñặc trưng của giống.
- Chúa ñẻ: chất lượng chúa ñược ñánh giá chủ yếu theo sức ñẻ trứng. Chúa tốt ñẻ ñúng quy luật,
vòng ñẻ trứng rộng, liên tục. Trứng ñược ñẻ ngay ngắn giữa lỗ tổ, mỗi lỗ một trứng theo hướng nhất
ñịnh, ấu trùng vít nắp ñều. Chúa tốt thường duy trì sức ñẻ trứng tốt ngay cả trong ñiều kiện khó khăn
(tối thiểu ñẻ 1000 trứng/ ngày ñêm ñối với ong ngoại và 500 trứng/ ngày ñêm với ong nội). Những
ong chúa có vòng ñẻ trứng hẹp, ñẻ cách quãng cần loại, thay chúa khác.
+ Phương pháp giới thiệu chúa và mũ chúa.
Thay thế chúa kịp thời có vị trí quan trọng nhất trong tổng hợp các biện pháp kỹ thuật ñể tăng
năng suất mật. Thường sức ñẻ trứng của chúa chỉ cao nhất vào 2 năm ñầu. Sau ñó càng già sức ñẻ
trứng của chúa càng kém và ñẻ nhiều trứng không thụ tinh. Vì vậy cần thay chúa già và chúa ñẻ kém
hàng năm, thường là trước vụ thu hoạch chính bắt ñầu.
- Giới thiệu mũ chúa: ðể ong tiếp nhận mũ chúa tốt cần bắt chúa già khỏi ñàn ong, một ngày sau mới
ñưa mũ chúa mới vào. Vị trí gắn mũ chúa tốt nhất là giữa cầu bánh tổ, cách xà trên 6 cm. ðể chắc
chắn có thể cho mũ chúa vào lồng bảo vệ uốn bằng dây kẽm. Vào vụ mật có thể không cần bắt chúa
già ñi mà giới thiệu mũ chúa sau 2 - 3 ngày nếu thấy không bị cắn ngang sườn mà thẳng ở dưới mũ
chúa là chúa tơ nở ra an toàn. ðể ong tiếp nhận tốt mũ chúa cần cắt ñi một bên cánh chúa già.
- Giới thiệu chúa mới thay thế chúa già:
Ong thợ thường thù ñịnh với chúa lạ. Nhiều trường hợp ở ñàn mất chúa lâu, khi giới thiệu
chúa mới chúng không tiếp nhận còn giết chết chúa mới. Quan hệ giữa chúa mới ñưa vào và ong thợ
phụ thuộc nhiều yếu tố: ðiều kiện bên ngoài, trạng thái của ñàn ong, ong chúa và phương pháp giới
thiệu chúa của người nuôi ong.
ðiều kiện giới thiệu chúa ñạt kết quả:
- Khi giới thiệu chúa vào ñàn ong cần tránh tất cả sự kích thích tính hung dữ của ong như lúc trời
mưa, lạnh, gió to. Thời tiết ấm áp có nguồn mật phấn, ong dễ tiếp nhận chúa nhất. Khi trong trại xuất
hiện ong ăn cướp, ong phải bảo vệ tổ rất hung dữ nên khó tiếp nhận chúa mới.
- Thời gian giới thiệu chúa: Thường tiến hành vào buổi chiều, khi ong ít hoạt ñộng, tốt nhất là vào vụ
xuân khi có nguồn mật, phấn, ong mải ñi làm ít chú ý ñến chúa. Trong những ñàn chia tự nhiên thư-
ờng khó tiếp nhận chúa, ðàn ong mất chúa càng lâu càng khó tiếp nhận chúa mới. Tốt nhất là ñưa
chúa mới vào ñàn sau khi bắt chúa cũ ñi 6 h. ong non dễ tiếp thu chúa mới hơn. Nếu trong ñàn ñã có
ong thợ ñẻ trứng, ong rất khó tiếp nhận chúa. Chúa ñã giao phối dễ ñược tiếp thu hơn chúa tơ. Chúa bị
gián ñoạn ñẻ trứng càng lâu càng khó ñược tiếp nhận. Vì vậy khi giới thiệu những ong chúa nhận từ
bưu ñiện cần thận trọng.
ðàn ong có nhiều ấu trùng mở nắp dễ tiếp thu chúa mới hơn ñàn hết ấu trùng. Chúa tơ càng
già càng khó ñược tiếp nhận (khi ñưa chúa vào ñàn tránh ñể dính mùi lạ, cần rửa tay sạch, tốt nhất là
lấy mật của ñàn ong ñịnh giới thiệu bôi lên lồng chúa mới.
Trường ðại học nông nghiệp Hà Nội Giáo trình Dâu tằm – Ong mật ………………
152
+ Các phương pháp giới thiệu chúa:
- Giới thiệu bằng lồng chụp:
Là cách giới thiệu chúa an toàn nhất. Lấy một cầu ong ở ñàn cần giới thiệu chúa cho vào
thùng xách tay ñem ñến nơi ñặt thùng giao phối, bắt chúa trong thùng giao phối thả vào bánh tổ phần
không có ong thợ, dùng lồng úp chúa lại, ấn sâu lồng vào bánh tổ, trả cầu ong cùng chúa về ñàn cũ ñể
ong quen dần với chúa, hôm sau bỏ lồng chụp thả chúa ra.
- Giới thiệu chúa trực tiếp: tiến hành khi ñiều kiện thời tiết tốt, có vụ mật phấn. Lấy chúa cùng với
một cầu của ñàn giao phối cho vào thùng xách tay mang ñến ñàn ñịnh thay chúa, thả chúa mới vào
một góc rồi ñậy nắp lại, Chúa cũ cần bắt ñi trước ñó 5 - 6 h. Có thể sử dụng bình phun khói ñể ổn
ñịnh ong.
ðối với những con chúa giống tốt, nhận ñược qua ñường bưu ñiện, ñể giới thiệu chúa thật an
toàn cần tách ở ñàn cần ñưa chúa vào vài cầu ong có ấu trùng vít nắp ñưa sang thùng khác ñặt cạnh
ñàn giao phối. Khi ong thợ già bay hết về tổ cũ, ñem giới thiệu chúa vào cầu toàn ong non. Hôm sau
bỏ lồng chụp ñể chúa ñẻ,vài ngày sau trả cầu và chúa về ñàn cũ.
Ngoài các phương pháp trên, có thể sử dụng chất thơm, ñể ñàn ong ñồng mùi với chúa (dịch
xa các cầu ong, phun nước ñường có chất thơm như tinh dầu, nước hoa 30 - 40 giọt/ 100 – 150g nước
ñường sau ñó thả chúa mới vào).
Chú ý: Khi giới thiệu chúa vào ñàn, nếu ong thợ không tiếp nhận mà vây chúa lại thành cục ñể
cắn chúa hoặc làm chúa bị ngạt cần phải giải vây chúa bằng cách phun khói vào cục ong cho ong thợ
tản ra hoặc thả cả cục ong vào nước rồi vớt chúa ra.
- Khi kiểm tra có trường hợp ong thợ sợ ánh sáng chạy xuống dưới cầu, vây bọc chúa cần ngừng
ngay kiểm tra ong và ñậy nắp thùng lại cho ong ổn ñịnh.
b. Tạo ñàn ong mới (nhân ñàn).
Khi ñàn ong phát triển mạnh, ñông quân ,ong có xu hướng chia ñàn. ðây là một trong những
bản năng của ong ñể phát triển và duy trì nòi giống. Người nuôi ong cần có kế hoạch ñể chủ ñộng chia
ñàn nhân tạo vừa ngăn ngừa ong chia ñàn tự nhiên sẽ bay ñi mất vừa tăng ñược số ñàn ong của trại.
Trong thực tế việc tạo ñàn ong mới chủ yếu bằng 3 cách: Chia ñàn nhân tạo, sử dụng các ñàn chia tự
nhiên, và tăng thế ñàn ở thùng giao phối.
• Chia ñàn nhân tạo.
ðể chia ñàn nhân tạo cần ñiều kiện thế ñàn ong khi chia ñàn như sau: Ong ngoại có trên 10
cầu 1 ñàn (trên 2 kg ong), ong nội có trên 4 cầu 1 ñàn (trên 1 kg ong).
ðàn ong khi tách ra cần có: ñàn gốc còn lại: ong ngoại trên 6 cầu tiêu chuẩn, ong nội trên 2 cầu tiêu
chuẩn.
ðàn mới chia ra cần có: ong ngoại : Trên 4 cầu tiêu chuẩn (trong ñó có 2 cầu nhộng).
ong nội: Trên 2 cầu tiêu chuẩn (ít nhất 1 cầu nhộng).
Chuẩn bị chia ñàn: kiểm tra tình hình ñàn ong, xác ñịnh khả năng chia của từng ñàn và toàn
trại, xây dựng kế hoạch chia ñàn. Chuẩn bị dụng cụ ñầy ñủ, vật dụng cần thiết (thùng, máng cho ăn ).
Tiến hành tạo chúa trước khi chia ñàn 15 - 20 ngày.
Tuỳ theo thế ñàn ong, tình trạng chúa có thể áp dụng phương pháp chia ñàn nhân tạo như sau:
Trường ðại học nông nghiệp Hà Nội Giáo trình Dâu tằm – Ong mật ………………
153
- Chia ñàn phụ: (tách một phần ñàn gốc): ở những ñàn tương ñối mạnh (ong ngoại 9 - 10 cầu, ong nội
5 - 6 cầu) lấy bớt 2 - 3 cầu vừa tránh ñược ong chia ñàn tự nhiên, vừa tạo ñược ñàn ong mới.
Cách tiến hành: ðem thùng mới ñặt cạnh ñàn gốc, lấy từ ñàn gốc 2 - 3 cầu có ấu trùng và
nhộng cho vào thùng mới, ñem ñặt thùng mới ở chỗ khác, ong già bay về tổ cũ, chỉ còn lại ong non,
ñưa mũ chúa sắp nở hoặc chúa tơ vào (tương tự như tạo ñàn giao phối). Khi chúa ñã giao phối bắt ñầu
ñẻ trứng thì tăng thế ñàn bằng cách viện thêm cầu nhộng, ấu trùng hoặc ong non. Biện pháp chia ñàn
này áp dụng trong trường hợp chưa có sẵn chúa giao phối, trước thời kì chuẩn bị lực lượng 10 - 15
ngày ñể khi bước vào thời kì chuẩn bị lực lượng chúa ñã ñẻ trứng, tăng lượng ong thu hoạch mật. Ở
Việt nam có thể chia ñàn phụ vào giữa hoặc cuối vụ nhãn ñể có lực lượng thu mật bạch ñàn.
- Chia ñôi ñàn: áp dụng trong trường hợp có ñàn ong mạnh và có sẵn chúa giao phối. Thực chất là
chia ñàn ong thành 2 phần bằng nhau và mỗi nửa ñàn ñó sẽ tự phát triển thành một ñàn mới.
Cách tiến hành: Chọn ngày ấm áp ñem thùng mới ñặt cạnh thùng cũ, nhấc một nửa số cầu ñàn
cũ cho sang ñàn mới (chia ñều tất cả các cầu ấu trùng và thức ăn). Sau ñó ñặt 2 thùng sang 2 bên vị trí
ñặt ñàn ong cũ từ 20 - 30 cm. Ong ñi làm về sẽ bay ñều sang 2 bên, sau 3 – 6 h ñưa chúa mới vào ñàn
chưa có chúa. Có thể ñổi vị trí 2 thùng ñể ong bay vào ñều 2 bên hoặc dịch thùng ít ong hơn vào giữa.
Sau vài ngày dịch dần 2 ñàn ra xa nhau.
ðể thu ñược nhiều mật, thường tiến hành chia ñôi ñàn trước vụ mật chính ít nhất từ 30 - 40
ngày.
Ưu ñiểm của phương pháp này là ở cả 2 ñàn ong ñều có ấu trùng, nhộng và ong non các lứa
tuổi, ít có ảnh hưởng ñến hoạt ñộng chung của cả ñàn nên ong phát triển nhanh, sau 1 tháng lại thành
ñàn mạnh.
+ Chia ñàn ghép: Tạo ñàn ong mới bằng cách ghép cầu của nhiều ñàn lại. Biện pháp này áp dụng
trong trường hợp có ít ñàn mạnh và tiến hành vào ñầu vụ mật (khi vụ mật kéo dài). Lấy từ mỗi ñàn
một vài cầu nhập lại thành ñàn mới, sau ñó giới thiệu mũ chúa hoặc chúa mới vào.
• Tăng thế ñàn ở thùng giao phối.
Sau khi ñã tạo ñược chúa giao phối có thể bổ sung thêm ong, cầu nhộng, ấu trùng ñể ñàn giao
phối phát triển nhanh thành ñàn ong mạnh. Có thể bổ sung thức ăn cho ong phát triển nhanh.
• Sử dụng ñàn chia tự nhiên.
Trong thực tế vào vụ mật ở những ñàn ong mạnh xảy ra hiện tượng ong chia ñàn tự nhiên khi
người nuôi không áp dụng các biện pháp ngăn ngừa. ðặc ñiểm của các ñàn chia tự nhiên là xây bánh
tổ có chất lượng cao và khả năng thu mật lớn do có sự dự trữ năng lượng trước khi chia ñàn. Khi xảy
ra hiện tượng ong chia ñàn tự nhiên, cần bắt giữ ñàn chia lại ñể tạo ñàn mới, tăng số lượng ñàn ong
của trại.
Cách bắt ñàn chia tự nhiên. ðể dễ dàng bắt giữ các ñàn chia bay ra, người ta thường làm các
bẫy ñể nhử ong tụ lại trớc khi bay ñi hẳn. Bẫy có thể là cọc gỗ cao 1,6 – 2 m, bên trên buộc nhiều cành
lá nhỏ và 1 tấm gỗ kích thước 40 x 60 cm bôi ñen hoạc là bánh tổ cũ. Khi ong tụ lại ở các bẫy, dùng
nón bắt cả ñàn ong. Sau khi ñể ñàn ong ổn ñịnh, ñến tối rũ ong vào thùng ñã chuẩn bị trước 1 cầu mật,
1 - 2 cầu ấu trùng mở nắp và cầu gắn tầng chân (tính toán làm sao cho 1kg ong có ñủ 4 cầu), theo dõi
và bổ sung kịp thời thức ăn, cầu ong ñể ñàn chia phát triển mạnh.
Trường ðại học nông nghiệp Hà Nội Giáo trình Dâu tằm – Ong mật ………………
154
Ở ñàn chia sau khi chúa cũ cùng một phần ñàn bay ñi, trong ñàn còn lại một vài mũ chúa vít
nắp. Nếu ñể tự nhiên ong có thể chia ñàn tiếp lần 2 hoặc 3 làm giảm thế ñàn gốc mà ñàn chia cũng có
ít quân, cần vặt bỏ những mũ chúa, chỉ ñể lại một mũ chúa thẳng, to nhất, chăm sóc ñể ong phát triển
tiếp tục thành ñàn mạnh hoặc sử dụng làm ñàn giao phối.
8.3. Chọn lọc và lai giống ong.
a. . ðặc ñiểm của việc chon lọc và lai giống ong.
Cũng như nhiều ngành trồng trọt và chăn nuôi khác, việc chọn lọc và lai giống ong có vai trò
quan trọng, làm tăng năng suất sản phẩm các ñàn ong, mang lại lợi nhuận cho người nuôi ong. Mục
ñích của việc chọn lọc và lai giống là cải thiện các giống ong hiện có, chọn lọc và lai tạo ra các dòng
giống mới có các ñặc tính tốt như năng suất mật cao, chống chịu bệnh tốt, loại bỏ ñi những giống xấu.
Sau khi chọn lọc ñược những giống tốt thì nhân những giống này lên bằng cách tạo chúa và nhân ñàn.
ðể chọn giống có kết quả ngoài việc nắm vững các kiến thức về di truyền và biến dị của sinh
vật nói chung còn phải chú ý tới những ñặc tính riêng biệt của ong mật- một loại vật nuôi ñặc biệt.
Chính vì những ñặc ñiểm riêng biệt này mà việc chọn lọc ong mật khó khăn hơn nhiều so với các
ñộng vật có vú, chim và cả những côn trùng có ích khác như tằm dâu
- ðối tượng chọn giống không phải là một cá thể mà là cả ñàn ong. Trong ñàn ong lại có các loại
hình ong khác nhau là ong chúa, ong ñực và ong thợ. Ong thợ biểu hiện tất cả ñặc tính của ñàn lại
không tham gia vào quá trình sinh sản. Ngược lại, ong chúa và ong ñực không thể hiện ñặc tính của
ñàn lại quyết ñịnh thế hệ sau của chúng là các ong thợ.
- Việc giao phối của ong chúa và ong ñực xảy ra ở ngoài tổ, trên không trung. Một ong chúa lại giao
phối với nhiều ong ñực. ðặc ñiểm này có lợi là tránh ñược hiện tượng cận huyết, tăng sức sống cho
ñời sau nhưng làm cho người nuôi ong khó xác ñịnh ñược nguồn gốc của ong ñực. ðể khắc phục khó
khăn này phải cho ong ñến giao phối ở khu vực ñịa lí cách li hoặc bằng thụ tinh nhân tạo. Tuy nhiên,
do lượng tinh dịch của ong ñực A.cerana có ít, muốn thụ tinh cho 1 con ong chúa phải lấy tinh dịch từ
30 - 40 con ong ñực. Thao tác này ñòi hỏi nhiều thời gian cho nên việc sử dụng kĩ thuật thụ tinh nhân
tạo chưa ñược áp dụng nhiều cho ong A.cerana.
- Ong chúa và ong thợ của tất cả các loài ong mật là các cá thể lưỡng bội (2n) có số lượng nhiễm sắc
thể là 32. Còn ong ñực bình thường là các cá thể ñơn bội (1n) có số nhiễm sắc thể là 16. Nó ñược nở
từ trứng không thụ tinh và chỉ mang ñặc tính di truyền của mẹ.
- Các ñặc tính kinh tế quan trọng của ong mật (như là sức ñẻ trứng của ong chúa, hiệu quả nuôi ấu
trùng, chiều dài vòi hút, trọng lượng cơ thể ) là các ñặc tính số lượng nghĩa là có sự tham gia của
nhiều gen.
- Bất kì ñặc tính nào của sinh vật nói chung và của ñàn ong mật nói riêng ñều ñược hình thành bởi tác
ñộng của bản chất di truyền và bởi ñiều kiện ngoại cảnh.
- Mối quan hệ giữa kiểu hình, kiểu gen và môi trường là mối quan hệ rất phức tạp mà các nhà chọn
giống cần phải làm sáng tỏ. Ví dụ sức ñẻ trứng của ong chúa là một trong những chỉ tiêu chính ñể
ñánh giá chúa tốt. Sức ñẻ trứng càng cao thì ñàn càng ñông quân và năng suất mật càng nhiều. Sức ñẻ
trứng phụ thuộc vào bản chất di truyền của ong chúa. Thí dụ ong chúa A.cerana cerana ở Kashima ñẻ
1000 - 1100 trứng trứng/ ngày ñêm, trong khi ñó ong chúa A.cerana indica ở nam ấn ðộ chỉ có thể ñẻ
Trường ðại học nông nghiệp Hà Nội Giáo trình Dâu tằm – Ong mật ………………
155
ñược 300 - 500 trứng/ ngày ñêm. Tuy nhiên sức ñẻ trứng của ong chúa còn phụ thuộc vào ñiều kiện
ngoại cảnh như thời tiết, nguồn phấn mật, kĩ thuật quản lí ong, thế ñàn, tình hình sâu bệnh Vì thế
việc chọn giống chỉ có thể ñạt ñược kết quả như mong muốn trong ñiều kiện thực hiện ñược những
yêu cầu cơ bản về nuôi dưỡng và chăm sóc ong. ðảm bảo cho ong ñược ñồng ñều số lượng thức ăn,
nuôi trong thùng ñạt tiêu chuẩn, cung cấp ñủ bánh tổ. Không ñể ong trôi dạt nhầm tổ, ong ăn cướp lẫn
nhau, tránh chuyển ñổi các cầu ấu trùng, nhộng, mật từ ñàn này sang ñàn khác.
- ðối với các ñộng vật khác, con người có thể bắt chúng ăn theo khẩu phần quy ñịnh. Ở ong chúng tự
chuẩn bị lấy thức ăn cho mình. Thức ăn tự nhiên ñối với ong là tốt nhất.
- Chọn lọc nhân tạo trong chăn nuôi thường theo hướng giữ lại những ñặc tính có lợi cho con người
mà nhiều khi có hại cho ñộng vật. Trong nghề nuôi ong, chọn lọc nhân tạo phải ñảm bảo vừa có lợi
cho con người, vừa có lợi cho ong (tăng các ñặc tính tốt, tăng thế ñàn, chống sâu bệnh dẫn ñến tăng
sản lượng mật).
- Khả năng sinh sản của ong chúa cao, từ một ñàn có thể tạo ñược nhiều ong chúa do ñó khả năng
nhân giống của nghề nuôi ong lớn hơn các ñộng vật khác. Trong một mùa có thể thay toàn bộ chúa.
b Một số phương pháp chọn lọc và lai giống ong.
Nhìn chung các nhà chọn giống ong mật ñều chọn lọc theo một số ñặc tính cơ bản sau:
1. Chiều dài vòi hút lớn, năng suất mật cao.
2. Ong chúa có sức ñẻ trứng cao, ong thợ sống lâu cho ñàn ong ñông quân.
3. ít hoặc không có xu hướng chia ñàn, bốc bay.
4. ðàn ong hiền, khi kiểm tra ong thợ vẫn hoạt ñộng bình thường, không chạy xô xuống
phía dưới bánh tổ, không bay lên ñốt người.
5. Chống chịu ñược các loại bệnh, ấu trùng túi (sacbrood), thối ấu trùng châu Âu.
6. Có khả năng qua mùa ñông lạnh, hoặc mùa hè thiếu thức ăn tốt, thế ñàn giảm ít.
ðể chọn lọc ñược hiệu quả và nhanh hơn người ta tập trung vào một hoặc hai chỉ tiêu chính
thường là năng suất mật, và sức ñẻ trứng.
• Chọn lọc ñại trà.
Là phương pháp chọn lọc ñơn giản ,dễ áp dụng ở trại ong sản xuất mật. Vào cuối mùa nuôi
ong người ta chia các ñàn ong của trại thành 3 nhóm theo sản lượng mật và các ñặc tính có giá trị kinh
tế khác.
Nhóm 1 gồm các ñàn tốt nhất, năng suất mật cao nhất chiếm khoảng 10- 20% số ñàn của trại.
Nhóm 2 là các ñàn có chỉ tiêu trung bình , chiếm số lượng lớn nhất khoảng 60 - 80%.
Nhóm 3 là nhóm có năng suất mật và các chỉ tiêu thấp nhất,chiếm khoảng 10 - 20%.
Từ nhóm 1 chọn các ñàn mẹ và ñàn bố (số ñàn bố ít nhất là 5 ñàn, còn ong ñực ở các ñàn
khác bị tiêu diệt hết). Tạo chúa từ các ñàn mẹ cho giao phối rồi thay chúa vào nhóm thứ 2. Loại bỏ
nhóm thứ 3 bằng cách tiêu diệt hoặc giết chúa, nhập các ñàn lại rồi giới thiệu chúa mới tạo từ nhóm 1
vào. Cuối năm sau lại phân loại ñàn ong và tiến hành theo phương pháp trên.
Bằng phương pháp chọn lọc ñại trà, năng suất mật có thể tăng lên 20- 25% ở những nơi chưa
chọn lọc. Tuy nhiên sau 3 - 4 năm chọn lọc như vậy có thể xuất hiện hiện tượng cận huyết, tỉ lệ ong
ñực lưỡng bội cao làm giảm sức sống của ñàn. Vì vậy cứ ñịnh kì 3 - 4 năm một lần lại trao ñổi hoặc
mua một số ñàn cao sản từ một số trại ong khác cách xa 25 - 30 km ñể tạo chúa hoặc là tạo ong ñực.
Trng i hc nụng nghip H Ni Giỏo trỡnh Dõu tm Ong mt
156
Vic chn lc ủi tr cn tin hnh ủng lot tt c cỏc tri ong trong mựa to chỳa mt ủa
phng. Loi b ong ủc xu t cỏc ủn trung bỡnh s ủm bo cho ong chỳa ch giao phi vi ong
ủc ca nhng ủn tt.
Chn lc cỏ th.
L phng phỏp chn lc phc tp hn, ủũi hi ngi chn ging phi cú trỡnh ủ cao v ch
ủ kim tra nghiờm ngt, s lng ủn ong tham gia nhiu hn.
Chn lc cỏ th l phng phỏp kim tra nng sut mt v ủc tớnh khỏc ủi con ủ bit rừ
cỏc ủc tớnh quý cú di truyn hay khụng. Sn lng mt l mt ch tiờu cú giỏ tr nht trong chn ging
vỡ vy ngi ta thng kim nhng ủn cú nng sut k lc ủ chn lc. Tuy nhiờn khụng phi tt c
cỏc ủn cao sn ủu cú th di truyn nhng ủc tớnh cú giỏ tr cho th h sau (vớ d nhng ủn cú ong
trụi dt, cú tớnh n cp mnh ) vỡ th khụng phi bt c ủn k lc no cng ủu cú giỏ tr ủ lm
ging.
Phng phỏp tin hnh: Chn mt s ủn cú nng sut k lc (3 - 6 ủn) to ra mt s lng
chỳa bng nhau (t 50 - 60 chỳa) ri gii thiu vo tri so sỏnh. tri ủú cng to chỳa cựng thi
ủim ủ gii thiu vo cỏc ủn ủi chng. Cỏc chỳa thớ nghim ủc gii thiu vo cỏc ủn c bn cú
th ủn tng ủng v ủc chm súc qun lớ v ủc cho n nh nhau. Vớ d nu thc nghim trờn
4 ủn k lc, to 50 chỳa mi mi ủn, thỡ phi chn 250 ủn, 200 ủn gii thiu cỏc chỳa mi k lc
v 50 ủn ong chỳa bỡnh thng ủ lm ủi chng.
Trờn c s nhng s liu thng kờ ủi chiu vi sn xut vo cui v tớnh sn lng trung
bỡnh ca tng nhúm da trờn kt qu so sỏnh sn lng mt trung bỡnh ca cỏc nhúm thớ nghim vi
nhau v vi nhúm ủn ủi chng cú chỳa bỡnh thng s chn ủc con ong chỳa cú k lc ủ lm
ging. Ong chỳa no m ủi con ủt sn lng cao nht so vi cỏc chỳa k lc khỏc v chỳa bỡnh th-
ng l ong chỳa cú cht lng cao. Nhng ong chỳa k lc ny gi l dũng ủu.
T nhng ủn ny cn phi to ra nhiu ong chỳa mi ủ thay th cho cỏc ủn khỏc. Cỏc dũng
ủu tip tc ủc hon thin mt cỏch thng xuyờn ủ tng sn lng dũng. Nú cũn ủc s dng ủ
giao phi chộo vi cỏc dũng khỏc ủ to ủc nhng dũng mi cú nng sut cao.
Chn lc theo chng trỡnh qun th khộp kớn.
L phng phỏp chn lc mi do Page v Laidlaw ủ xut (1981, 1992). õy l phng phỏp
chn ging qun th ủn gin loi tr ủc vic gii thiu cỏc vt liu di truyn khụng kim tra, nhm
ngn nga ong lai Phi lai ln vi ong A.mellifera chõu M. Cỏc qun th ny cú th duy trỡ bng vic
cho giao phi cỏch li ủa lớ hoc th tinh nhõn to.
Chn lc theo chng trỡnh qun th khộp kớn cú th khc phc ủc tn ti ca cỏc phng
phỏp chn lc khỏc l t l cn huyt cao, mt khỏc nú li duy trỡ ủc vn gen ca ton b qun th
chn lc. Theo s tớnh toỏn ca Page v Laidlaw nu qun th khộp kớn cú 35 ủn ging m 35 con
chỳa ny ủc thay th bng mt chỳa, con ca chỳng mi nm thỡ sau 30 th h t l sng sút ca u
trựng ớt nht ủt 85%.
Hng nm vo mựa to chỳa ngi ta to ra 10 - 15 ong chỳa t mt ủn ging, v to ong
ủc t tt c cỏc ủn trờn vi s lng ủng ủu v cựng n vo mt thi gian. Chuyn cỏc chỳa t v
ong ủc ( tui giao phối) đến địa điểm giao phối cách li cho giao phối tự nhiên. Với ong A.mellifera
ngời ta tiến hành thụ tinh nhân tạo cho ong chúa bằng cách trộn đều lợng tinh trùng của ong đực thu
Trng i hc nụng nghip H Ni Giỏo trỡnh Dõu tm Ong mt
157
đợc từ ong đực của các đàn làm giống. Sau khi giao phối và đẻ trứng các ong chúa đợc giới thiệu vào
các đàn cơ bản (có thể đàn tơng đơng) và hình thành quần thể thí nghiệm khoảng 200 - 300 đàn.
Qua theo dõi một năm những đàn tốt nhất của mỗi nhóm đợc chọn để làm giống cho đời sau. Chu
trình nh vậy đợc lặp lại hàng năm.
Hình 4.8- Sơ đồ chọn lọc theo quần thể khép kín (Page và Laidlaw 1982).
Chọn lọc theo chơng trình quần thể khép kín đ đợc áp dụng ở Mỹ (Susan Cobey, 1988),
Canada (Szabo và cộng sự, 1987) đối với A.mellifera và cho kết quả khả quan: sau 4 thế hệ chọn lọc ở
Canada năng suất mật tăng 25,6%.
ở nớc ta chọn lọc theo quần thể khép kín đợc áp dụng cho ong A.cerana. ở trung tâm nghiên
cứu ong từ năm 1990. Sau 4 thế hệ chọn lọc năng suất mật tăng lên 24,1%, tỷ lệ bệnh ấu trùng túi
(sacbrood) giảm từ 23,1% xuống 2,3% (Phùng Hữu Chính và Phạm Văn Lập, 1994).
Lai giống.
Là phơng pháp làm thay đổi giống ong nhanh nhất làm phong phú tính di truyền và tăng sức
sống, tăng sự thích nghi với môi trờng.
+ Lai giống nội phối
Việc lai giống giữa các dòng nội phối là một hớng nâng cao năng suất mật trong nghề nuôi
ong nhất là khi kĩ thuật thụ tinh nhân tạo trở thành phổ biến. Để nhận đợc các dòng nội phối ngời ta
sử dụng kiểu giao phối Anh lai với em gái. Ngời ta còn sử dụng phơng pháp lai kép là sau khi tạo
đợc 2 cặp lai đơn ngời ta lại cho chúng giao phối với nhau để tạo ra con lai.
Tính tất yếu sử dụng lai giống nội phối là nó củng cố đợc các đặc tính mong muốn ở thế hệ
sau và cho phép giữ gìn nó để kết hợp các dòng ong có đặc tính mong muốn khác. Tuy nhiên trong đa
Trng i hc nụng nghip H Ni Giỏo trỡnh Dõu tm Ong mt
158
số các trờng hợp nội phối đặc biệt là nội phối gần làm giảm sức sống (vì có nhiều đồng hợp tử về gen
lặn) và khó duy trì đợc các đàn ong. Mặt khác phải thử rất nhiều phép lai mới chọn đợc cặp lai tốt
nên rất tốn kém. Hơn nữa giống lai trên chỉ sử dụng đợc 1 năm, không dùng chúng để làm giống
đợc.
+ Lai giống kinh tế
Dựa trên hiện tợng u thế lai, ngời ta sử dụng các đàn có năng suất cao của các phân loài
này lai với các đàn năng suất cao của phân loài khác. Ưu thế lai biểu hiện rõ ở đời lai thứ nhất (F
1
) sức
đẻ trứng và năng suất mật cao hơn từ 50 200%. Tuy nhiên trong chăn nuôi và trồng trọt cũng nh
trong ngành ong không phải cứ lai 2 phân loài (chủng) khác nhau là sẽ cho kết quả nh mong muốn
mà ngời ta phải tiến hành thí nghiệm để chọn đợc cặp lai thích hợp. Thờng thờng ngời ta chọn
giống thuần để lai với nhau mới cho kết quả tốt.
ở Nga ngời ta chọn đợc một số cặp lai sau: A.m.caucasica x A.m.mellifera và A.m
mellifera x A.m.caucasica.
ở Mỹ sử dụng giống lai nổi tiếng giữa dòng midnite (từ giống gốc là ong A.m.caucasica) và
A.m.carniolan (có nguồn gốc từ ong ý A.m.ligustica) (Crane 1990). Giống lai kinh tế đ đợc sử dụng
rộng ri ở Mỹ từ 1949. Những ngời nuôi ong mua chúa lai vào đầu vụ xuân và thay cho các ong chúa
thông thờng (chúa ong ý hoặc ong carniolan của họ. Năng suất mật của các đàn có chúa lai có thể
gấp đôi các đàn có chúa bình thờng. Ưu thế lai chỉ có ở đời thứ nhất (F1), đến đời thứ 2 (F2) thì nó
rất khác nhau và không còn tác dụng vào đời thứ 3 (F3). Ngời nuôi ong chỉ sử dụng (F1), một số
ngời sử dụng (F2) nhng không dùng (F3).
Cách tiến hành lai kinh tế ở những trại sản xuất: ví dụ sử dụng cặp lai Capcazơ x nâu tây Âu.
Năm đầu tiên đem ba chúa Capcadơ đ đẻ trứng sang trại nuôi toàn ong nâu Tây Âu giới thiệu vào 3
đàn đ bắt chúa đi. Khi chúa Capcazơ đẻ mới bắt đầu tạo chúa. Dùng đàn ong nâu tây châu Âu mạnh
làm đàn nuôi dỡng. Trớc khi đẻ trứng 20 - 21 ngày, ngời ta chọn 5 - 10 đàn tốt của trại để làm đàn
bố và cho tạo ong đực còn ong đực của các đàn khác bị giết. Giới thiệu các mũ chúa vào các đàn gốc,
và đàn nhân ra của toàn trại. Ong chúa capcazơ giao phối với ong đực nâu tây châu Âu để tạo ra thế hệ
lai thứ nhất cho năng suất cao. Năm thứ 2, khi ong đực của toàn trại là ong capcazơ, lại lấy 3 con ong
chúa đ đẻ, giống nâu Tây Âu có năng suất cao về thay vào 3 đàn của trại rồi tạo chúa thay cho tất cả
các đàn của trại. Nh vậy toàn bộ chúa mới của trại cũng là thế hệ lai thứ nhất (F1) nhng là lai ngợc.
Về hiệu quả kinh tế của con lai ngợc không kém con lai xuôi. Bằng cách này có thể đều đặn tạo các
đàn lai thế hệ thứ nhất khi luân phiên 2 giống. Đối với ong châu á A. cerana hiện nay có rất ít công
trình nghiên cứu về việc lai. Tuy nhiên ở nớc ta do có sự di chuyển phân loài ong A.cerana cerana từ
miền Bắc vào miền Nam đ có hiện tợng lai giữa phân loài trên với phân loài A. cerana indica ở phía
Nam. Giống lai có mẹ là A.c.cerana với bố là A.c.indica có nhiều u thế hơn giống thuần chủng
A.c.indica nh: sức đề kháng với bệnh ấu trùng tốt hơn, sức tụ đàn lớn hơn (5 - 6 cầu), năng suất cao
hơn, con ong to và xây toàn bộ lỗ tổ ong thợ, trên tầng chân ong nội có đờng kính 4,6 mm. Trong khi
đó ở ong A.c.indica chỉ có những đàn nhỏ 2 - 3 cầu, chúa non mới xây lỗ tổ ong thợ còn những đàn
mạnh xây toàn bộ hoặc rất nhiều lỗ tổ ong đực (Nguyễn Văn Trung 1994).
Trng i hc nụng nghip H Ni Giỏo trỡnh Dõu tm Ong mt
159
Câu hỏi ôn tập chơng 8.
1. Các kỹ thuật nuôi ong cơ bản nhằm duy trì đàn ong mạnh, có khả năng khai thác mật cao.
2. So sánh các phơng pháp tạo chúa, chia đàn ong.
3. Các phơng pháp chọn lọc giống ong.
Chơng 9
: SâU BệNH Và Kẻ THù HạI ONG MậT.
Chơng 9 đề cập đến các loại bệnh và dịch hại chính gây hại cho ong mật ở Việt nam nh: bệnh
thối ấu trùng, Nosema, ngộ độc, ve ký sinh , sâu ăn sáp hại ong và các biện pháp phòng chống nhằm
giảm thiệt hại cho nghề nuôi ong.
Giống nh các động vật nuôi khác, ong mật cũng bị tấn công bởi một số vi sinh vật và nhiều
dịch hại khác. Tuỳ theo mức độ bị hại mà đàn ong có thể bị suy yếu, giảm thế đàn và năng suất mật
hoặc làm cho đàn ong bị chết hoặc bỏ tổ bay đi gây thiệt hại kinh tế rất lớn. ở nớc ta hiện nay các
bệnh ấu trùng túi, thối ấu trùng châu Âu là những bệnh gây thiệt hại rất lớn cho nghề nuôi ong nội địa
A.cerana. Các bệnh khác nh thối ấu trùng châu Mĩ, ấu trùng vôi cha thấy có. Phát hiện và phòng trừ
kịp thời 2 bệnh trên là một trong các yếu tố quyết định nuôi ong có hiệu quả kinh tế.
9.1. Bệnh thối ấu trùng châu Âu ( European foulbrood )
Bệnh thối ấu trùng châu Âu do White tìm ra lần đầu ở châu Âu vào năm 1912. Hiện nay bệnh
có mặt ở mọi vùng nuôi ong trên thế giới, còn gọi là bệnh thối ấu trùng mở nắp hay thối ấu trùng tuổi
nhỏ vì bệnh thờng gây chết ấu trùng 3- 5 ngày tuổi. ấu trùng chết bị chua nên còn gọi là thối ấu
trùng chua. ở các đàn bệnh nặng, năng suất mật giảm từ 20- 80%. Ong nội hay bỏ tổ bốc bay sau khi
quay mật hoặc kiểm tra, hay khi thay đổi thời tiết từ ma lạnh sang nắng ấm.
a. Tác nhân gây bệnh.
Theo Poltrep (1977) Bailay (1981) tác nhân chính gây bệnh thối ấu trùng châu Âu là một loại
liên cầu khuẩn có tên là Melissococcus pluton (trớc kia gọi là Streptococcus pluton) còn các vi khuẩn
nh Bacillus alvei, Streptococcus apis đều là vi khuẩn thứ phát.
Vi khuẩn M.pluton hình cầu, 2 đầu kéo dài thành hình ngọn giáo, kích thớc 0,7 - 1,5à. Liên
cầu khuẩn bắt màu gram dơng. Nó có thể đứng riêng rẽ hoặc thành từng cặp, chuỗi. Sức chống chịu
của vi khuẩn khá cao. Trong bánh tổ nó tồn tại đợc 12 tháng. nó bị tiêu diệt sau khi phơi nắng 3h,
trong mật: sau 40 h. Nuôi cấy trong môi trờng dinh dỡng đặc biệt ở 35
oC
; pH: 6,6 sau 24 48 h xuất
hiện khuẩn lạc màu trắng, đờng kính từ 1 - 1,6 mm. Vi khuẩn có khả năng lên men một số đờng nh
gluco, fructo.
b. Triệu chứng bệnh:
- Đối với ấu trùng: Khi bị bệnh nhẹ, ấu trùng khô, thay đổi t thế, không nằm cong nh bình thờng
mà dong rộng ra, mất màu bóng. ở đàn đông quân ấu trùng bị bệnh ít, ong thợ dọn sạch các ấu trùng
bệnh nên không nhìn thấy. Khi đàn ong bị bệnh nặng hay đ bị bệnh lâu, ong tha quân, không dọn