Tải bản đầy đủ (.pdf) (15 trang)

Giáo trình thực vật có hoa part 5 ppt

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.09 MB, 15 trang )



62
− Nếu đó là tên của một taxôn mà khi chuyển từ giới động vật → thực vật mà đồng âm
với taxôn thực vật.
− Nếu việc sử dụng nó trong các nghĩa khác tên đó trở thành nguồn gốc của sự nhầm
lẫn.
Ví dụ: Tên Lavandula picta L. (1753) có liên quan tới hai loài sau đó được viết L.
angustifolia Mill. và L. latifolia Vill Tên gọi L. picta gần như được dùng chỉ cho cả hai loài
trên nên nó trở thành tên hai nghĩa, do đó tên đó bị bãi bỏ.
− Nếu nó dựa vào mẫu chuẩn gồm hai hay nhiều thành phần hoàn toàn khác nhau mà
không một thành phần nào hoàn toàn chọn làm thành phần thích hợp.
Ví dụ: Các đặc điểm của chi Actinoticus Liv (1888) lấy từ hai chi Aesculus và Viburnum vì
người thu mẫu đã ghép cụm hoa của Viburnum vào chồi ngọn của một loài thuộc chi
Aesculus. Vì vậy tên Actinoticus cần bãi bỏ.
c. Nếu nó dựa vào hiện tượng quái dị mẫu do sâu bệnh làm biến dị.
5.6 TÊN GỌI CỦA CÁC TAXÔN
5.6.1 Tên gọi các taxôn trên bậc chi
Ngành, phân thành, lớp, phân lớp, bộ, phân bộ, họ, phân họ, tông, phân tông. Mỗi bậc có
các đuôi tương ứng: -phyta, -phytina, -opsida, -ideae, -ales, -inae, -aceae, -oideae, -eae, -inae.
5.6.2 Tên chi và các phân hạng của nó
a) Tên chi: tên chi là một danh từ số ít hoặc một chữ nào đó được coi là danh từ những
tên này có thể lấy bất kỳ, thậm chí có thể cấu tạo hoàn toàn tùy ý.
Ví dụ: Rosa xuất phát từ Ros (màu hồng); Convolvulus (đừng sờ mó); Teonogia (cây Teo
nồng).
b) Tên chi không trùng với danh từ kỹ thuật, trừ khi nó công bố trước 1-1-1912 và ngay
từ đầu nó đã kèm theo tính ngữ chỉ loài hợp pháp theo phương pháp ghép đôi của Linnê.
Các từ:
Radix rễ
Caulis thân không dùng đặt cho tên chiFolium láSpina
gai




c) Tên chi không thể gồm hai từ, nếu có hai từ thì nên viết liền lại: Quisqualis,
Pseuduvaria (do viết liền nên được dùng) hoặc nối bằng gạch nối : Neo - uvaria.
d) Chỉ dẫn : Khi đặt tên chi nên cố gắng dùng đuôi La tinh và cố tránh các tên khó La
tinh hóa. Không đặt tên chi bằng tên người hoàn toàn không liên quan tới thực vật, hóa học
hoặc ít nhất với khoa học tự nhiên. Khi sử dụng tên người làm tên chi thì dù đàn ông hay bà
thì tên La tinh vẫn là cấu tạo giống cái.
e) Tên phân h
ạng của chi: Là một tập hợp gồm tên chi và tính ngữ của phân hạng, liên
kết với nhau bằng thuật ngữ chỉ bậc. Tính ngữ phải phù hợp về giống và số như tên chi hoặc
tính từ số nhiều hợp văn phạm với tên chi và được viết hoa.


63
Ví dụ: Costus subg. Metacostus Euphorbia sect. Tithymalus
f) Tính ngữ của phân chi (Subgenus) hoặc nhánh (Sectio) không thể lấy từ tên chi chứa
chúng để thêm các tiếp vĩ ngữ oides hoặc opsis hoặc tiếp đầu ngữ Eu.
g) Phân chi hoặc nhánh chứa loài chuẩn của chính chi ấy thì tính ngữ nhắc lại đúng tên
chi, không cần thay đổi nhưng tên gọi không có tác giả. Ví dụ: phân chi của chi Malpighia L.
có chứa mẫu chuẩn của chi là loài M. glabra sẽ được gọi là: Malpighia L. subg. Malpighia.
5.6.3 Tên loài
a) Tên loài là một tên ghép đôi gồm tên chi kèm theo tính ngữ loài nếu tính ngữ gồm hai
hay nhiều từ thì chúng cần thiết viết liền lại hoặc liên kết với nhau bằng dấu gạch nối. Các
tính ngữ ngay từ khi công bố không liên kết với nhau lại hoặc nối với nhau thì không bị bãi bỏ
nhưng khi viết cần viết liền lại hoặc thêm dấu nối. Tính ngữ loài có thể lấy bất cứ nguồn nào
đó, thậm chí lấy tuỳ ý.
Ví dụ : Talauma gioi (cây giổi) Piper lolot (lá lốt)
− Tính ngữ loài không thể lặp lại tên chi (tên loài không lặp danh)
Ví dụ: Linaria linaria là không đúng.

− Tính ngữ loài không được cấu tạo nếu hình thức là tính từ không dùng làm danh từ.
Nếu tính từ thì phải đúng với văn phạm của tên chi (hợp về giống và số).
Ví dụ: Helleborus niger (đực) Brassica nigra (cái)
Verbasinum nigrum (chung).
− Họ tên người đàn ông, đàn bà, đất nước, địa điểm khi dùng làm tính ngữ loài có thể
viết dưới dạng danh từ cách hai hoặc dưới dạng tính từ.
Ví dụ: Clusii (tên người là Clus) danh từ cách 2, clusianus (tính từ); locii (GS. P. K. Lộc)
(danh từ), lociana (tính từ).
b) Chỉ dẫn: Khi cấu tạo tính ngữ loài nên tận dụng khả năng dùng đuôi La tinh, tránh các
tính ngữ khá dài, khó đọc, tránh tính ngữ cùng nghĩa với tên chi, tính ngữ chỉ đặc
điểm chung
cho tất cả hoặc hầu hết loài của chi đó. Tránh các tính ngữ quá giống nhau. Tránh công bố lại
tên dự kiến mới ghi ở bìa tiêu bản. Tránh dùng tính ngữ tên địa điểm quá bé ít người biết đến
trừ khi loài đó là đặc hữu với địa phương đó.
5.6.4 Tên gọi của taxôn dưới bậc loài
a) Tên các taxôn trong loài là một tập hợp gồm tên loài hoặc tên taxôn bậc loài nào đấy
và tính ngữ chỉ taxôn đó và chúng liên kết với nhau nhờ thuật ngữ chỉ bậc. Tính ngữ trong
loài cấu tạo như tính ngữ loài. Nếu chúng có dạng tính từ không dùng làm danh từ thì chúng
hợp văn phạm với tên chi.
Ví dụ: Andropogon ternatus subsp. macrothrix
b) Tên gọi của taxôn trong loài có chứa mẫu chuẩn của loài sẽ có tính ngữ giống hệt tính
ngữ của loài và không có tên tác giả. Mẫu chuẩn của taxôn trong loài đó cũng đúng là mẫu
chuẩn taxôn của loài. Nếu tính ngữ của loài thay đổi thì mẫu chuẩn của loài cũng cần thay đổi
theo.


64
Lobelia spicata var. originalis một thứ có chứa mẫu chuẩn của loài là L. spicata Lam. thì
cần phải đổi thành L. spicata Lam. var. spicata.
5.7 TRÍCH DẪN TÊN TÁC GIẢ VÀ CÁC TÀI LIỆU KÈM THEO TÊN

GỌI
5.7.1 Trích dẫn tên tác giả
Để việc trích dẫn tên taxôn đầy đủ, đúng đắn, dễ kiểm tra cần ghi họ tên tác giả đầu tiên
công bố tên gọi đó. Quy ước viết tên tác giả sau tên taxôn thì viết tắt trừ khi tên tác giả quá
ngắn 1 âm tiết. Khi viết tắt giữ âm tiết đầu. Những tác giả có cùng họ hoặc họ giống nhau
phải có ký hiệu phân biệt.
Ví dụ: Fries → Fr. ; Robert Brown → R. Br.; Alexander Brown → A. Br. ; Micheli
→ Mich. ; De Candolle → DC.; Michaux → Michx
Ví dụ: Monocatum Naud Ann. Sci. . III.4 : 48 pl 2. 1845; hoặc có thể viết: Monocatum Naud seri
3.4. 48. pl 2 (1845). Có thể chuyển niên hiệu lên sát tên tác giả.
5.7.2 Một số chỉ dẫn cần thiết cho việc trích dẫn tên tác giả
Khi trích dẫn tên gọi đã công bố với tên đồng loại cần thêm bên cạnh tên đó chữ Prosyn
hoặc Synonym. Nếu tác giả công bố tên đồng loại lấy từ bản thảo của người khác cần dùng
chữ et để liên hệ tên gọi hai tác giả.
Ví dụ: tên loài Myrtus serratus là tên có ghi trong bản thảo Koenig nhưng lại do Steud
công bố với tư cách là một tên đồng loại của Eugenia laurina Willd. nên cần phải viết là
Myrtus sernatus Koenig et Steud prosyn.
− Khi trích dẫn các tên trần (tên gọi không kèm theo bản mô tả) thì sau tên gọi cần chỉ rõ
trạng thái của nó : nom. nud (nomen nudum).
− Những tên gọi do gán nhầm không đưa vào tập hợp tên đồng loại mà nên dẫn ra ở sau
cùng mà nó được chỉ bằng chữ Auct. non.
Ví dụ: trong số những tên đồng loại của Altingia sinensis Craib có tên A. gracilicer Auct.
non Hemsl., Lecomte, Fl. Gen. Indoch. 2. 711. 1920.
− Nếu tên chi được coi là tên bảo tồn cần thêm vào trích dẫn chữ Nom. Cons. (nomen
conservatum = tên bảo tồn).
Ví dụ: Protea L. 1911 nom. cons., non L. 1053
− Tên gọi viết trong tập hợp tên đồng loại phải viết đúng tên tác giả công bố nó, nếu cần
giải thích thêm viết trong ngoặc ( ), nếu tên đã được thừa nhận có sai khác với bản đã công bố
đầu tiên thì trong phần trích dẫn đầy đủ nên bổ sung thêm dạng viết đầu tiên và để nó trong
dấu ngoặc kép “ ”.

Ví dụ: Alphonsea tonkinensis DC. Bull. Herb Boiss.: 107 (1904) (“tonquinensis”).


65
5.8 LUẬT CHÍNH TẢ VỀ TÊN GỌI VÀ DẤU VĂN PHẠM VỀ TÊN
CHI
5.8.1 Luật chính tả về tên gọi và các tính ngữ
Dạng ban đầu của tên gọi và các tính ngữ cần được giữ lại trong trường hợp phải sửa các
lỗi in sai và các lỗi chính tả do sơ ý. Tuy vậy cần thận trọng trong khi sử dụng quyền sửa đổi
tên. Đặc biệt khi sửa đổi các âm tiết đầu, nhất là các chữ cái đầu tiên.
− Nếu tên gọi của chi hay các phân chi, nhánh lấy từ tên người cấu tạo như thế nào?
Nếu tận cùng là nguyên âm a thì thêm ea: Colla

Collaea;
Nếu tận cùng là phụ âm → thêm ia;
Nếu tận cùng là er thì thêm a

era;
Nếu tận cùng là us → bỏ us thêm vào a: Dillenius

Dillenia.
− Cấu tạo tính ngữ loài:
Nếu tên người tận cùng bằng nguyên âm thêm i: glariou

glarioui;
Nếu tên người tận cùng bằng nguyên âm a thêm e: balansa → balansae;
Nếu tên người tận cùng bằng phụ âm thêm ii (bon

bonii);
Nếu tên người tận cùng bằng nguyên âm er thêm i (Hooker


hookeri).
Tên người có thể → dạng danh từ (Lasiococca locii), dạng tính từ (Schefflera lociana)
hoặc số nhiều Clemens

Clementorum
Các tính ngữ lấy từ tên địa phương thường giữ lại gốc chữ và thêm tiếp vị ngữ - ensis
(cochinchinensis, vietnamensis) hoặc anus ( cambodianus) hoặc icus (indicus, japonicus).
5.8.2 Giống văn phạm của tên chi cần xác định bằng cách
a) Các từ Hy Lạp hay La Tinh được dùng làm tên chi được giữ lại giống văn phạm vốn
có của mình, nếu giống văn phạm thay đổi thì tác giả cần phải chọn một trong các dạng của
nó. Theo tập quán của các nhà thực vật cần coi các tên gọi Adonis, Diospyros, Strychnos là
danh từ giống cái mặc dầu giống văn phạm cổ điển của nó là giống đực (Diospyros rubra);
tương tự như thế thuộc giống cái có tên: Orchilis, Stachys, mặc dầu những từ này là giống đực
trong tiếng Hy Lạp và giống cái trong tiếng La Tinh.
b) Các tên gọi cấu tạo từ hai hoặc nhiều từ Hy Lạp hay La Tinh thì giống văn phạm của
chúng là giống của từ cuối cùng.
Ví dụ: thuộc giống đực gồm có tên gọi có có tận cùng là codon, myces, odon, panax, pogon
và stemon lấy từ tiếng Hy Lạp (Trigonostemon bonianus). Việc Linnaeus coi tên gọi
Andropogon là giống trung là không đúng; thuộc giống cái có tận cùng - achne, - chlamys, -
daphne, - mecon, - osma gốc tên gọi lấy từ tiếng Hy Lạp (Actiondaphne obovata).
5.8.3 Cách viết tên tác giả
Khi tên gọi một taxôn có hai hay nhiều tác giả cùng công bố thì việc trích dẫn tên phải
trích tất cả các tên. Trường hợp hai tác giả thì liên kết bằng et hoặc &: Finet et Gagnepain →
Fin. et Gagnep. hoặc Fin. & Gagnep.


66
Trường hợp hơn ba tác giả thì chỉ viết tên tác giả đầu, sau đó dùng tổ hợp et al. Nếu 1
taxôn nào đó do một tác giả đề nghị nhưng chưa công bố hữu hiệu, sau đó một tác giả khác

công bố hữu hiệu thì tên tác giả sau liên kết với tên tác giả trước bằng ex. Ví dụ: Gossypium
tomentosum Nutt. ex Seem (loài đó được Nutt đặt tên nhưng chưa công bố hay công bố
không đúng luật về sau Seem đã công bố lại đúng luật).
Nếu tên gọi có bản mô tả do một tác giả nào đó công bố trong một công trình của người
khác thì tên hai tác giả này được liên kết bằng giới từ in. Ví dụ: Viburnum ternatum Redd in
Sarg (Redd đã công bố loài trên đăng trong tác phẩm của Sarg).
Việc thay đổi đặc điểm mô tả hoặc giới hạn độ lớn của taxôn nhưng vẫn giữ mẫu chuẩn thì
chưa được phép thay đổi tên gọi. Nhưng nếu những thay đổi này đáng kể thì có thể chỉ rõ bản
chất cần đổi bằng cách viết tắt các thành ngữ emend (hiệu chính) hay p.p. (tức là một phần
trong sưu tầm mẫu cũ thuộc loài đã mô tả, phần còn lại thuộc loài khác) hoặc excl (loại trừ)
hoặc s. ampl (nghĩa rộng), s. str (nghĩa hẹp). Ví dụ: Loranthaceae tách ra, một phần thành họ
Viscaceae thì tên họ khi chưa bị tách ra được viết là Loranthaceae (s. ampl.) còn họ đó sau khi
đã tách một phần được viết là Loranthaceae (s. str.)
Nếu tác giả chấp nhận một taxôn nào đó ở giới hạn mới đã loại trừ mẫu chuẩn taxôn ban
đầu thì tên gọi cho taxôn có giới hạn mới thuộc về tác giả nào đã công bố nó (đã loại trừ mẫu
chuẩn).
Ví dụ: Melodorum Lour. mẫu chuẩn M. arboreum Lour. sau khi Hook. et Thoms. loại trừ
mẫu chuẩn thì tên chi Melodorum mới thuộc về Hook. et Thoms. không thuộc về Loureizo
nữa → Melodorum Hook. et Thoms. non Lour.
Trích dẫn tác giả khi taxôn thay đổi vị trí hay thay đổi bậc: Ví dụ: Adelia resinosa Blume
sau đó Merrill chuyển loài này vào chi Mallotus thì tên loài được viết là Mallotus resinosus
(Blume) Merr., Aporosa wallichii var. yunnanensis Pax et Hoffm, về sau Metcalf đã nâng thứ
cây này thành loài, tên loài mới được viết là A. yunnanensis (Pax et Hoffm.) Metc.
5.8.4 Cách ghi tài liệu tham khảo kèm theo tên gọi
Tên riêng của tác giả hoặc nhiều tác giả : Khi tên tác giả không viết tắt thì sau tên tác giả
dùng dấu phẩy (,) khi tên tác giả viết tắt thì dùng dấu ngắt câu (.). Ví dụ cây Dâu da -
Baccausea ramiflora Lour. (Loureiro).
Tên sách hoặc tài liệu nghiên cứu khác: Tên sách thường viết tắt còn tên các bài báo in
trong các tạp chí định kỳ thường được bỏ qua mà chỉ nhắc đến tên tạp chí. Ví dụ: tên bài báo
“Các loài mới thuộc họ Thầu dầu Việt Nam” đăng trong Tạp chí Sinh học, số 4 n

ăm 1996,
trang 40, khi trích dẫn viết như sau: Tạp chí Sinh học, 4 (1996) 40.
Tên tạp chí định kỳ trong phần trích dẫn kèm theo, chỉ giữ lại những chữ quan trọng và nếu
cần viết tắt thì chỉ viết một âm tiết đầu nếu nó không gây nhầm lẫn. Còn những chữ khác đều
bỏ qua (giới từ, phụ ngữ) ví dụ Ann. Miss. Bot. Gard. Tên của tạp chí Annals of the Missouri
Botanical Garden. Mỗi một tạp chí cần phải viết theo thứ tự tên tạp chí, tập, số, năm xuất bản,
số trang. Một số tạp chí không viết tắt: Taxon, Blumea, Adansonia. Những tạp chí khác nhau
thuộc các nước khác nhau bên cạnh tên tạp chí cần ghi địa điểm xuất bản Flora (Quito) Flora
(Jena).
Số lần xuất bản và số xeri: Nếu quyển sách nào xuất bản nhiều hơn một lần thì số lần xuất
bản sau viết ed. 2, ed. 3, v.v. Nếu tạp chí nào xuất bản từ hai xeri trở lên và trong mỗi xeri


67
nhắc lại số thứ tự các tập thì các xeri sau cách xeri đầu tiên viết bằng chữ số la mã hoặc: tên
sách, tên tạp chí, số xeri phân cách với nhau và phân cách với các phần khác bởi dấu chấm để
biểu thị sự viết tắt.
Số tập số của tập cần ghi bằng chữ số Ả Rập và để chỉ rõ hơn có thể in nét đậm hơn. Nếu
tập sách không đánh số thì năm in ở tờ bìa có thể dùng như số của tập sách, số quyển phân
cách với số trang, số bản vẽ bằng dấu 2 chấm (:).
Phần nhỏ hoặc tập nhỏ. Nếu tập sách gồm nhiều phần in rồi đánh số, nhất là khi số trang
mỗi tập nhỏ không theo thứ tự kế tiếp nhau thì số các phần đó đặt ngay sau số của tập cách
bởi dấu hai chấm, hoặc đặt trong ( ) hoặc số viết lên trên hàng. Đối với các tập sách có số
trang được đánh số liên tục từ tập nhỏ này sang tập nhỏ khác thì việc nhắc số các tập nhỏ là
không cần thiết, dễ gây nhầm lẫn.
Số trang viết bằng chữ số Ả Rập trừ khi trong nguyên bản ghi bằng ký hiệu khác, nếu trích
dẫn nhiều trang thì các số phân cách nhau bằng dấu phẩy (,). Nếu trích dẫn hai trang liên ti
ếp
trở lên thì viết trang thứ nhất và trang cuối và ngăn cách bởi dấu trừ (-).
Hình vẽ và bản vẽ: nếu việc nêu nó là cần thiết thì viết bằng chữ số Ả Rập. Trước đó viết

bằng chữ f. hoặc fig. hoặc pl. (Plate) để chỉ rõ hơn cần viết nghiêng. Hiện nay đôi khi dùng
tab. thay pl
Niên hiệu năm công bố đặt cuối đ
oạn trích dẫn. Để rõ hơn phải ghi rõ ngày, tháng, năm.
Niên hiệu có thể để trong dấu móc đơn ( ).




68
Chương 6
Nguồn các bằng chứng phân loại
Các bằng chứng dùng để phân loại và xác định mối quan hệ tiến hóa rất đa dạng bởi vì tất cả các
phần của cây ở các giai đoạn phát triển khác nhau đều có thể cung cấp những dấu hiệu phân loại bổ
ích. Các dấu hiệu đó phải được tập hợp càng nhiều càng tốt nhưng trong quá trình thu thập phải có sự
chọn lựa, ưu tiên không nên đánh giá mọi đặc điể
m ngang nhau. Tính ưu tiên phải dành cho các dấu
hiệu có liên quan đến quá trình phân hóa và tiến hóa để thích nghi với điều kiện sống đảm bảo sự sinh
sản có hiệu quả và sự sinh tồn và phát triển nòi giống, liên quan đến quá trình cạnh tranh trong cuộc
đấu tranh sinh tồn. Những đặc điểm đó phải ổn định tức là đã được các nhân tố di truyền quy định.
6.1 Hình thái học



69
Các đặc điểm hình thái hoa là quan
trọng nhất trong phân loại cây có hoa. Đó là
những đặc điểm dễ quan sát, mang tính thực
tiễn cao vì dễ sử dụng khi tra cứu và mô tả.
Hiện nay các đặc điểm hình thái được dùng

nhiều nhất trong xây dựng các hệ thống phân
loại. Tất nhiên khoa học sinh học càng phát
triển, dần dần sẽ được bổ sung các dẫn liệu
khác để chỉnh lý, làm chính xác hay điều
chỉ
nh một số hệ thống phân loại đã có.
Sự chọn lọc tự nhiên kết hợp với sự sinh
sản có hiệu quả giữ lại sự đồng nhất cơ bản
các dấu hiệu sinh sản của hoa, quả và hạt
trong nhiều loài chi và họ. Tính ổn định
chung đó đã tạo ra những cấu trúc chung cho
từng nhóm phân loại. Các đặc điểm cơ quan
sinh sản thườ
ng ổn định hơn các đặc điểm cơ
quan dinh dưỡng nên những đặc điểm đó
thường được dùng nhiều trong phân loại.
Sự thay đổi hình thái của hoa thường
liên quan đến cách thụ phấn hay sự sinh sản
chuyên hóa. Hoa thụ phấn nhờ côn trùng
thường to, lưỡng tính có màu sắc, có tuyến
mật, và cao hơn các bộ phận của hoa dính lại,
hoa đối xứng hai bên v.v. Mục đích để thu
hút côn trùng bằng mắ
t (màu, cánh môi),
bằng mùi (hương của mật, của hạt phấn),
bằng thức ăn (mật hoa, hạt phấn); để đảm
bảo thụ phấn có hiệu quả cao bằng cách quy
định hướng vào cho côn trùng (hoa đối xứng
hai bên), các côn trùng nhận hạt phấn nhanh
nhờ gai trên bề mặt hạt phấn, vòi nhụy nhận

hạt phấn từ côn trùng có hiệu quả nhờ đầu
nhụy có chất nhầy v.v. Đối vớ
i hoa thụ phấn nhờ gió thì kẻ mang phấn là gió, nên hoa tập hợp thành
cụm hoa ở đỉnh cành để dễ lung lay khi tiếp xúc với gió, bao hoa tiêu giảm để dễ dàng tung phấn và
bắt phấn, phấn nhẹ và nhỏ, đầu nhụy xẻ nhiều với chất dính tốt (để tăng tiết diện bề mặt bắt phấn) để
nhạy bén khi bắt phấn. Vì vậy mọi sự thay đổi các thành phần trong hoa đều liên quan đế
n đảm bảo
thụ phấn có hiệu quả.
Dạng sống của cây (cây thảo hay cây gỗ) cũng rất có ích cho phân loại ở các bậc cao trong hệ
thống phân loại như họ, chi ví dụ các loài trong họ Cải (Brassicaceae) là cây thảo, họ Cúc (Asteraceae)
phần lớn là cây thảo, các họ, chi vừa ở nhiệt đới và ôn đới chắc chắn vừa có cây gỗ và vừa có cây thảo.
Các dấu hiệu kiểu thân (thân quấn trái, quấn phải củ
a Dioscorea), gai (gai cong của Uncaria),
kiểu lá (đơn như Magnoliales, kép lông chim ở Fabales), dạng lá (thuôn hay lá hình trứng rộng), cách
phân gân (lông chim hay chân vịt) đều rất có giá trị cho phân loại và có liên quan chặt chẽ đối với quá
trình tiến hóa.
6.2 Giải phẫu so sánh
Khi sử dụng dấu hiệu giải phẫu cho phân loại phải chú ý một số nguyên tắc sau:
Các đặc điểm giải phẫu cũng tương tự như các đặc điểm khác.

Hình 6.1.
Lát cắt ngang gỗ Hai lá mầm
a) Mạch nguyên thủy ở Hạt kín với gỗ thứ cấp
gồm các quản bào.
b) Schumacheria castaneifolia với gỗ có mạch
vòng đơn độc và mô mềm rải rác.
c) Dillenia với gỗ nguyên thruy nhưng mạch gần tròn.
d) Scytopetalum tieghemii, có mạch nhiều lỗ đơn độc.
e) Pittosporum tenuifolium có mô mềm, một
loài tương đối tiến hóa (Dr.W.C. Dickison & the Ann. Mo.

Bot. Gard)


70
Các đặc điểm giải phẫu khi sử dụng phải sử dụng cùng các đặc điểm khác.
Các đặc điểm giải phẫu có giá trị nhất đối với các bậc trên chi và ít giá trị đối với bậc chi.
Các đặc điểm giải phẫu có giá trị nhất khi xét mối quan hệ tiến hóa.
Từ những năm 30 thế kỷ XX, giá trị các trào lưu tiến hóa chuyên hóa của xylem thứ cấp đ
ã được
sử dụng để giải quyết vấn đề tiến hóa trong thực vật có hạt (Bailey, 1957). Một loạt tiến bộ từ quản
bào (phổ biến ở Hạt trần) đến các yếu tố mạch chuyên hóa tìm thấy ở xy lem thứ cấp ở cây có hoa. Tất
cả các giai đoạn chuyên hóa từ gỗ không mạch đến các yếu tố mạch chuyên hóa cao. ở cây có hoa có
các gỗ không mạch có liên quan đến các đặc
điểm nguyên thuỷ khác. Các tài liệu về giải phẫu gỗ đã
góp phần xây dựng các lý thuyết tiến hóa của cây có hoa (hình 6.1, 7.5 – 7.8).
Đối với mạch rây cho đến nay chưa được sử dụng nhiều cho phân loại thực vật. Tuy nhiên các kiểu
bản mạch rây, yếu tố rây đã cung cấp những số liệu để xây dựng các hệ thống phân loại (Behnke, 1977)
(hình 7.4). Một số nhà giải phẫu thực vật cho rằng mối liên quan gi
ải phẫu đối với các đặc điểm khác đã
cung cấp những thông tin có giá trị cho tiến hóa của cây có hoa (Dickison, 1975). Thông tin này cho đến
nay dùng để giải quyết mối quan hệ trong thực vật Hai lá mầm nguyên thủy.
Các dấu hiệu giải phẫu lá đã được sử dụng thường xuyên. Ví dụ như nghiên cứu giải phẫu lá liên
quan đến cách quang tổng hợp nhóm C
4
trong việc kiểm tra hệ thống phân loại một số chi trong họ
Lúa (Brown, 1975). Các loài C
4
có vòng diệp lục nổi rõ. Mô hình phân giải của các lá hóa thạch đã bắt
đầu là những thông tin lớn khi giải quyết các vấn đề xây dựng hệ thống phân loại như hệ thống
Cronquist - Takhtajan (Hichkey,1973; Doyle and Hichkey, 1976; Jones and Luchsinger, 1979). Mạch

của cuống cũng là một đặc điểm rất có giá trị trong phân loại một số chi như Rhododendron nhưng nó
có thể được áp dụng cho các bậc cao hơn.


71

Hình 6.2.
Đặc điểm bề mặt của mầm Cannabis sativa
1) Thùy lá chét non, 2) mặt lưng lá non, 3) đỉnh lá già, 4) bề mặt của cuống có các
lông không tuyến, các tuyến hình đầu, các tuyến tròn, 5) mặt bụng của lá, 6) mặt lưng
của lá, 7) mặt lưng với những tuyến hình đầu, các lông dài và lông ngắn và các vòng
các tế bào bao quanh chùm lông dài (P. Dayanandan & P. B. Kaufman, 1971)
Các mô hình biến đổi của lông có thể là những tiêu chuẩn có giá trị cho phân loại ở các bậc loài,
bậc họ. Cấu trúc lông rất đa dạng được thể hiện ở hình 6.2.
Cấu trúc lông chủ yếu là kích thước, hình dạng và cách sắp xếp của các tế bào của lông. Ví dụ
lông có ý nghĩa rất lớn khi phân tích con lai. Các kiểu tế bào lỗ khí, cách sắp xếp của các tế bào đóng
và các tế bào bao quanh. Mỗi taxôn được đặc trưng các kiểu khác nhau. N
ăm kiểu chính được đề cập,
một trong những ví dụ tốt nhất cho phân loại lớp Một lá mầm. Một số công trình khẳng định tính chất
giải phẫu có tính bảo thủ cao vì những tính chất không dễ dàng biến đổi trong các điều kiện môi


72
trường, các loài và chi có họ hàng thường có cấu tạo giải
phẫu giống nhau tuy nhiên vẫn có một số loại trừ. Lá ngoài nắng
có sự khác nhau với lá trong râm. Nó chịu ảnh
hưởng lớn bởi sự chọn lọc. Đặc điểm giải phẫu của cấu trúc
cơ quan dinh dưỡng có tầm quan trọng trong việc phân biệt Hạt
trần với Có hoa, Một lá mầm với Hai lá mầm. Tuy nhiên những
dấu hiệu

đó chỉ có giá trị nhỏ khi phân chia các bậc nhỏ hơn. Các
dấu hiệu giải phẫu càng ngày càng có giá trị đối với các bậc cao
và xác định mối quan hệ họ hàng.
Quan niệm về tính chất giải phẫu như là một dấu hiệu bảo
lưu có nhiều triển vọng (Carlquist, 1969). Tác giả cho rằng cấu
trúc giải phẫu luôn luôn liên quan đến sự thích ứng và chức năng.
6.3 Phôi học
Phôi học nghiên cứu quá trình sinh bào tử
lớn và bào tử nhỏ, quá trình phát triển các thể
giao tử, quá trình thụ tinh và phát triển phôi và
nội nhũ, áo hạt (Palser, 1975). Nhìn chung,
những thông tin hệ thống học và so sánh về phôi
thực vật đã được một số đề tài đề cập (Bhojwani
and Bhatnagar (1974), Davis (1966) và
Maheshwari (1950)).
Mặc dù có một số sai khác nhỏ, hầu như
phôi cây có hoa là rất đồng nhất, đó là sự thụ
tinh kép. Tính chất về phôi được dùng để tách
lớ
p Một lá mầm và Hai lá mầm là số lượng lá
mầm. Các tính chất phôi chung của cây có hoa
là:
Mỗi bao phấn có bốn túi bào tử đực;
Hạt phấn có hai tế bào;
Túi phôi tám nhân;
Nội nhũ nhân (Palser, 1975).
Đặc điểm phôi ở cây có hoa thường ổn định
ở mức độ họ và chi. Phôi là một dấu hiệu quan
trọng về hệ thống học đối với họ Lúa. Dấu hiệu
phôi ít có giá trị trong phân loại các bậc bộ, phân

lớp hoặc lớp khi kết hợp với các dấu hiệu khác nó có giá trị xác định mối quan hệ trong các họ, chi,
loài. Cho đến nay các kỹ thuật để nhận các thông tin hữu hiệu cho mục đích so sánh phân loại bị hạn
chế.

6.4 Tế bào học
Trong tế bào học việc nghiên cứu về số lượng, hình dạng, cấu trúc và sự ghép đôi trong phân bào
có tơ có giá trị đối với phân loại (Stebbins, 1971). Phân loại học tế bào dùng số lượng và hình thái thể
nhiễm sắc trong phân loại.

Hình 6.3.
Hạt phấn hoa Cúc - Compositae
dưới kính hiển vi truyền hình

Hình 6.4.
Lát cắt dưới kính hiển vi truyền hình cho thấy nhiều hạt
tinh bột ở Cocculus trilobus (Lát cắt ở đường kính 2μm) (H
D.Behnke.)


73
Số lượng thể nhiễm sắc đơn bội trong cây có hoa giới hạn từ n = 2 ở Haplopappus gracilis
(Compositae) tới n = 132 ở Poa littoroa (Poaceae). Hầu hết số thể nhiễm sắc giữa n = 7 đến n = 12.
Khoảng 35 - 40% cây có hoa là đa bội. Đa bội là những cơ thể có số thể nhiễm sắc cao do sự tăng bội
của các bộ thể nhiễm sắc. Raven (1975) đã đề nghị số thể nhiễm s
ắc nguyên gốc của cây có hoa có thể
x = 7. Tác giả cho rằng sự bùng nổ đa bội đầu tiên xảy ra rất sớm trong quá trình tiến hóa ở cây có hoa
từ đó nhiều họ có đặc điểm nguyên thủy đã có một số thể nhiễm sắc cao.
Có một số nhóm đa bội có quan hệ với cây có hoa, một vài chi như Ficus với n = 12 không có
sự chệch hướng trong các loài. Trong các chi khác, các loạt đa bội tồn tại như
Astera (Compositae)

các loài khác nhau có các số lượng khác nhau n = 9, 18 hay 27. Một số chi có số lượng khác nhau mà
các số đó có mối quan hệ số lượng không đơn giản với nhau như là Brassica (Cruciferae) với n = 6, 7,
8, 9 hoặc 10; Vernonia ở cổ nhiệt đới có n = 9 hay 10 với các đa bội n = 18, 20, 30 trong khi đó ở tân
nhiệt đới n = 17, 34, 51 hay 68.
Như nhiều tính chất khác, giá trị các số liệu phân loại các tế bào tùy thuộc vào các nhóm hay bậc
xem xét. Tổ hợp thông tin về số lượng và hình d
ạng thể nhiễm sắc có giá trị để điều chỉnh hệ thống
phân loại các họ như Agavaceae hay nhiều chi của họ Ranunculaceae chẳng hạn. Các số cơ bản và
kích thước thể nhiễm sắc rất có giá trị trong phân loại họ Lúa. Trong họ Onagraceae, các thông tin số
thể nhiễm sắc và hình thái, tổ hợp bằng lai tạo và phân tích bộ thể nhiễm sắc đã cung cấp đầu mối cho
hướng tiế
n hóa.
Do tính họ hàng của các taxôn được phản ánh qua sự giống nhau của thể nhiễm sắc, xác định số
thể nhiễm sắc ghép đôi ở phân bào có tơ khi lai hai loài gần gũi. Tỷ lệ ghép đôi của thể nhiễm sắc giữa
hai bộ thể nhiễm sắc càng cao thì mối quan hệ họ hàng càng gần gũi.
Việc nghiên cứu thể nhiễm sắc không dừng lại số lượng, mà dấu hiệu ph
ổ biến hiện nay là xem
xét vị trí tâm động trong chiều dài thể nhiễm sắc. Về nguyên tắc chung và thường gặp ở các đại diện
nguyên thủy, tâm động ở cân giữa thể nhiễm sắc. Tâm động càng lệch về một phía thì mức độ tiến hóa
càng cao. Để đánh giá tổng quát ngoài số lượng, người ta quan sát đến kiểu nhân. Đó là sự tổng hợp
các cặp thể nhiễm sắc khác nhau của một tế
bào sô ma. Kiểu nhân càng đa dạng thì mức độ phân hóa
càng cao. Kiểu nhân là tập hợp các con số chỉ các cặp thể nhiễm sắc từ tâm động trung tâm đến tâm
động lệch về một phía (hình 7.3).
6.5 Hạt phấn (hình 6.3, 7.10 – 7.12)
Phấn hoa học đã nghiên cứu hạt phấn và bào tử. Đó là những dẫn liệu có ích trong phân loại thực
vật. Ưu điểm của hạt phấn là: 1) Sẵn có trong các phòng bách thảo; 2) Phương pháp tiến hành nhanh
chóng, một lúc có thể tiến hành phân tích cho nhiều taxôn khác nhau, vì vậy rất phù hợp với nghiên
cứu phân loại; 3) Nhiều đặc điểm về hình dạng chung, hình thái vách, cực, tính cân đối, kích thước
đến cấu trúc bề mặt của chúng đề

u có giá trị dự đoán.
Hai loại hạt phấn cơ bản tìm trong thực vật có hoa là hạt phấn một rãnh và hạt phân ba rãnh. Hạt
phấn một rãnh có dạng thuyền và có một hướng nảy mầm dài và một lỗ nảy mầm (Walker, 1976). Hạt
này đặc trưng cho Hai lá mầm nguyên thủy và đa số Một lá mầm, Tuế và Dương xỉ có hạt. Các nhà
phấn hoa học đồng ý rằng cây có hoa đầu tiên có hạt phấn một rãnh (Raven and Axelrod, 1974, Beck,
1976). Hạt phấn ba rãnh có hình cầu cân đối điển hình có ba miệng nảy mầm và đặc trưng cho Hai lá
mầm tiến bộ. Walker and Doyle (1975) kết luận rằng từ một vài ngoại lệ hình thái hạt phấn ổn định
với các mức độ ưu việt và có quan hệ trong hệ thống phân loại của Takhtajan và Cronquist.
6.6 Cổ thực vật (hình 6.5)
Cổ thực vật sử dụng các hóa thạch nhỏ như hạt phấn hoặc các hóa thạch lớn như lá, thân và các
phần khác. Các nhà cổ thực vật cố gắng 1/ Hình dung lại thành phần hệ thực vật và sự tiến hóa trong
quá khứ; 2/ Vạch ra sự phát triển và tiến hóa qua các tầng địa chất; 3/ Xác định điều kiện sinh thái
trong quá khứ.


74

Hình 6.5.
Vị trí tương đối của các đại lục vào đầu kỉ Crêta, khi đó thực vật có hoa
đầu tiên bắt đầu tiến hóa (R. S. Dietz & J. C. Holden)
Andrews (1961) và Darrah (1960) đã có những nghiên cứu thực địa về vấn đề này, Wolfe, Doyle
và Page (1975), Beck (1976) đã áp dụng cổ thực vật trong nghiên cứu tiến hóa cây có hoa. Gần đây
nhiều nhà hệ thống học thực vật đã đồng ý là cổ thực vật có thể cung cấp còn quá ít bằng chứng về sự
đa dạng và mối quan hệ của các nhóm cây có hoa lớn. Nghiên cứu hạt phấn cổ có ý nghĩa đối với sự
tiế
n hóa của cây có hoa. Các nhà cổ thực vật đầu đàn đã nhấn mạnh sự đa dạng cây có hoa từ bộ đến
chi xảy ra trước kỉ Crêta trong những vùng núi cao xa đồng bằng.
6.7 Hóa phân loại
Hàng thế kỷ con người đã biết một số cây cho ra những chất được dùng cho những mục đích
riêng biệt như thuốc đánh cá, thuốc chữa bệnh, chất kích thích, chất thơm, bột, đường. Vào đầu thế kỷ

đầu tiên theo Christ, Dioscoride người ta đã công nhận vai trò chất thơm trong phân loại.
Với sự phát triển của phương pháp hiện đại và công cụ phân tích hóa hữu cơ, các thông tin về sản
phẩm thự
c vật tự nhiên được áp dụng cho việc so sánh phát sinh chủng loại đang trở thành hiện thực.
Một số cuốn sách đã cung cấp những ví dụ về phân loại hóa học. Thành phần được sử dụng thay đổi
tùy theo từng thời điểm. Turner (1969) phân loại dựa vào kích thước phân tử. Người ta chia hai loại: 1/
Các chất có trọng lượng phân tử nhỏ như Ancalôit, Aminôaxit, Glucôzit, Tecpennôit và 2/ Các chất
đại phân tử như Protêin, ADN, ARN, Izôenzym. Các chất phân tử nhỏ
có ý nghĩa trong phân loại ở
bậc chi hay dưới chi và các chất phân tử lớn có ý nghĩa giải quyết các vấn đề tiến hóa trên bậc chi.


75

Hình 6.6.
Bản cắt của Dracaena hookeriana dưới kính hiển vi
truyền hình (H D. Behnke)
Hóa phân loại cung cấp nhiều tài liệu từ thành phần hóa học của cây và có tiềm năng để tạo ra
một phương hướng mới trong vấn đề phân loại cây có hoa. Việc sản xuất betalain chỉ có trong các họ
thuộc phân lớp Caryophyllidae, sự có mặt betalain trong Cactaceae chứng tỏ mối quan hệ của nó với
phân lớp Caryophyllidae và nên đặt nó trong phân họ đó là đúng hơn. Tương tự sự có mặt glucôsinôlat
có trong hầu hết các họ thuộc b
ộ Capparales. Sự phân bố của phenolic chứng tỏ mối quan hệ Một lá
mầm với Hai lá mầm nguyên thủy như Magnoliales, Ranunculales.
Xác định tần số aminoaxit của các prôtêin lớn như Cytôchrôm C và ferêdoxin cho một quan niệm
mới trong nghiên cứu tiến hóa phát sinh chủng loại ở mức độ họ và bộ (Fitch and Margoliash, 1970).
Tần số aminoaxit là xác định, ổn định và phân bố rộng rãi. Cronquist, (1976) coi sử dụng thuần túy tần
số vừa phức tạp vừa khó gi
ải thích. Một vài công trình đề nghị tần số Aminôaxit nói chung phù hợp
với quan điểm phát sinh chủng loại dựa trên hình thái (Boulter, 1972; Cronquist, 1976; Fairbothers et

al., 1975 theo S. B. Jones, Jr. Arrlene, E. Luchsinger, 1979) Về lý thuyết, kỹ thuật lai ADN và ARN
đã được áp dụng trong phân loại thực vật vì tất cả thực vật đều chứa các thành phần đó (Mabry,
1970). Sự ghép đôi phản ảnh sự giống nhau của hai axit nuclêic. Vì tính phức tạp khi thí nghiệm và
sự khó khăn khi giải thích số liệu việc lai ADN và ARN ít tác động trong h
ệ thống học Có hoa.
Sự khác nhau khi điện di allozym đã ảnh hưởng lớn đến sinh học và di truyền quần thể. Những tài
liệu đó rất có giá trị ở mức quần thể, phân loài, loài hoặc đôi khi với chi (Avise, 1974; Hamrick and
Allard, 1975 theo S. B. Jones, Jr. Arrlene, E. Luchsinger, 1979), sự biến đổi nhỏ trong soluble
allozyme được so sánh giữa các cá thể trong quần thể, giữa các quần thể hay giữa các taxôn họ hàng
gần gũi ở bậc thấp. Những tài liệu
đó không có giá trị ở bậc cao hơn vì sự phân bố rộng rãi của các
allozym trong các nhóm không họ hàng.
6.8 Miễn dịch
Nghiên cứu miễn dịch học bằng cách tiêm dịch chiết của cây vào thỏ và phân tích kháng nguyên
gây ra đã cho những số liệu có giá trị. Dịch chiết đã tiêm vào thỏ, đến lượt thỏ lại tạo ra các kháng
nguyên. Huyết thanh từ thỏ bị tiêm được trộn với prôtêin chiết từ các taxôn cho là họ hàng. Số các
phản ứng thu được được dùng như là chỉ số phát sinh chủng loại. Kỹ thuật miễn dịch học dùng trong
nghiên c
ứu về huyết thanh học so sánh với cây có hoa đã cho những tài liệu có ích trong các hệ thống
phân loại của Cronquist và Takhtajan (Fairbrothers et al., 1975). Ví dụ như tài liệu về huyết thanh học
đã ủng hộ việc tách Illicium và Schisandra khỏi Magnoliaceae tạo thành hai họ Illiciaceae và
Schisandraceae. Hiện nay những số liệu về phương diện này rất hạn chế, cần được nghiên cứu thêm.
Khi tất cả vấn đề kỹ thuật được giải quyết, các nguyên t
ử lớn sẽ có tác động lớn đối với hệ thống
học tiến hóa.


76
6.9 Bằng chứng sinh thái
Các thông tin về sinh thái học cây có hoa là cơ sở cho hệ thống học trong việc cung cấp sự hiểu

biết về 1/ Sự phân bố các taxôn; 2/ Những biến đổi trong các taxôn; 3/ Sự thích ứng của cây. Nghiên
cứu sinh thái đã chứng minh rằng nhiều đặc điểm hình thái có tương quan với các nhân tố môi trường
như là ánh sáng, độ ẩm và độ phì của đất. Sinh thái học đóng góp việc lý giải có tính chất hệ thống của
quá trình tiến hóa b
ằng cách tìm cách giải thích điều kiện môi trường với việc đứt quãng trong cấu
trúc, chức năng và sự phân bố của cây (Kruckeberg, 1969). Các nhà sinh thái thực vật nghiên cứu sự
biến đổi sinh thái, sự chuyển hóa thích nghi, cơ chế thụ phấn, ảnh hưởng của nơi sống lên sự lai tạo và
tương tác giữa cây và động vật ăn cỏ, cơ chế phát tán hạt, sinh thái học của cây con, chức năng cấu
trúc thự
c vật và cơ chế tách biệt sinh sản. Những đặc điểm đó là quan trọng trong sự thích ứng của các
quần thể đối với môi trường chúng sống và khu phân bố chúng tồn tại.
Nhiều tài liệu từ sinh thái học đã được dùng cho phân loại dưới chi. Stebbins (1974) đã giả thuyết
sự thích ứng phóng xạ của cây có hoa xảy ra ở mép hay nơi chuyển tiếp của sinh cảnh dưới áp lực của
h
ạn hán, độ lạnh hoặc khảm các điều kiện sinh thái - là một quy luật, sự tương tác xảy ra mãnh liệt
giữa các yếu tố môi trường và sự chọn lọc tự nhiên. Tác giả cũng đồng ý giả thuyết nguồn gốc cây có
hoa trong điều kiện khí hậu có mùa khô thể hiện rõ và mùa thuận lợi ngắn để hoa hình thành. Dưới
điều kiện đó, sự chọn lọc tự nhiên chắc làm cho chu trình sinh sả
n của cây có hoa tiêu giảm. Như vậy
điều kiện môi trường đóng vai trò phát triển quan điểm nguồn gốc cây có hoa. Thêm vào đó cho ta
thấy các nhân tố sinh thái phải được xem xét khi phân loại thực vật.
6.10 Bằng chứng sinh lý - sinh hóa học
Bằng chứng sinh lý và sinh hóa đã cung cấp những tài liệu có giá trị đối với hệ thống học thực vật.
Đặc biệt quan trọng là các tài liệu liên quan đến hệ thống trao đổi chất và con đường sinh hóa. Quá trình
cố định cacbon hiệu quả cao xuất hiện trong nhiều thực vật vùng nhiệt đới và ôn đới ấm (Brown, 1975).
Hội chứng đó là hội chứng Kranz, quang tổng hợp C
4
hoặc con đường Hatch - Slack. Con đường phổ
biến nhất của cố định cacbon là chu trình Calvin - Benson hay quang tổng hợp C
3

. ở Tảo, Rêu, hầu hết
Dương xỉ, Hạt trần và nhiều họ có hoa quang tổng hợp C
3
chỉ biết chu trình cố định cacbon. Quang tổng
hợp C
4
xảy ra ở 10 họ không có quan hệ họ hàng ở Một lá mầm và Hai lá mầm (Downton, 1975). Quá
trình Crassulacean acid metabolism (CAM) tìm thấy ở bốn họ Một lá mầm, 13 họ Hai lá mầm và một họ
Dương xỉ. CAM và C
4
là hai đại diện cho nhóm thực vật thích nghi khí hậu khô hạn.
Hội chứng Cranz có giá trị trong việc đặc trưng hóa ở Panicum và các taxôn khác của họ Lúa
(Brown, 1975). ở Euphorbia (Euphorbiaceae) các loại C
3
, C
4
và CAM đã được nghiên cứu. Cả C
3

C
4
xuất hiện ở Zygophyllum (Zygophyllaceae) và Atriplex (Chenopodiaceae) từ đó người ta đề nghị
nên nghiên cứu lại ba chi trên.
Nghiên cứu quá trình sinh lý độc đáo của cây có hoa chắc sẽ cung cấp những số liệu quan trọng
cho phân loại. Ví dụ khả năng ưa muối chỉ tìm thấy một số ít họ. Đóng góp lớn là sinh lý học các kiểu
sinh thái (Nobs, 1971).
6.11 Địa lý sinh vật
Học thuyết về địa chất cho rằng các khối lớn của trái đất đã và đang chuyển động trong suốt thời
gian địa chất gọi là sự đứt gãy lục địa, đúng hơn là kiến tạo mảng (Dietz and Holdon, 1968.
McKenzie, 1972). Lý thuyết này giải thích về sự cách biệt các lục địa bằng sự mở rộng tầng biển, sự

nâng cao của các khối núi, sự hình thành hay sự mất các hòn đảo và sự
thay đổi vị trí các lục địa. Sự
thay đổi độ vĩ, sự trôi nổi hệ thực vật, sức ép môi trường do kiến tạo mảng chắc chắn đóng vai trò lớn
trong sự tiến hóa thực vật (Raven and Axelrod, 1974; Schuster, 1976) vì thế những nhà địa lý sinh học
nghiên cứu sự phân bố thực vật và động vật, các mô hình phân bố, thông báo về hóa thạch và lịch sử
tiến hóa của cây có hoa liên quan đến thuyết tạo mảng. Chính nh
ờ đó mà nhiều học giả đã giải thích sự
tồn tại các hóa thạch cùng một nhóm vừa có ở Nam cực, cực Nam châu Mỹ và châu Phi như

×