Nguyễn Phúc Nguyên - vị chúa của
những kỳ công mở cõi
Cuối năm 2008, cuộc hội thảo về Các chúa Nguyễn và Vương triều
Nguyễn trong lịch sử Việt Nam là một sự kiện văn hoá gây chú ý dư
luận trong và ngoài nước. Theo nhà sử học Dương Trung Quốc: “Sự
đánh giá công bằng, khách quan của đời sống đương đại sẽ làm sáng tỏ
vai trò của các chúa Nguyễn, chúa Trịnh và các vị vua triều Nguyễn vốn
một thời mang nặng mặc cảm gắn liền với những biến động tiêu cực như
chia cắt Đàng Trong- Đàng Ngoài, thù địch và tiêu diệt “cách mạng”
Tây Sơn, đàn áp khởi nghiã nông dân và cuối cùng là “cõng rắn cắn gà
nhà”, bán nước rồi làm tay sai cho thực dân đô hộ”. Đương thời xin giới
thiệu đến bạn đọc công trình nghiên cứu rất sâu sắc của GS.TS. Nguyễn
Quang Ngọc- giám đốc Trung tâm Việt Nam học và khoa học phát triển,
về nhân vật lịch sử Nguyễn Phúc Nguyên- người có công lớn trong việc
mở mang bờ cõi đất nước về phía Nam.
Nguyễn Phúc Nguyên là con thứ 6 của chúa Nguyễn Hoàng, sinh năm
Quý Hợi- 1663, sau khi Nguyễn Hoàng đã vào trấn thủ ở Thuận Hoá
được 5 năm. Là người đại diện cho xu thế phát triển của đất nước,
Nguyễn Hoàng quyết chí vào Nam dựng nghiệp với hàng loạt những dự
định lớn lao. Ông toàn tâm, toàn ý chăm lo phát triển kinh tế, tăng cường
tiềm lực về mọi mặt, chuẩn bị những buớc đi xa hơn cho các thế hệ con
cháu. Lê Quý Đôn, người đứng trên lập trường của họ Trịnh cũng không
thể không ca ngợi: “Đoan quận công có uy lược, xét kỹ nghiêm minh,
không ai dám lừa dối… chính sự khoan hoà, việc gì cũng thường làm ơn
cho dân, phép tắc công bằng, nghiêm giữ quân sĩ có kỷ luật, cấm chấp
kẻ hung bạo. Quân dân hai xứ đều mến yêu kính phục; thay đổi phong
tục xấu, ai ai cũng cám ơn và mến đức. Chợ không có hai giá, trong dân
gian không có trộm cướp, đêm không phải đóng cổng; thuyền ngoại
quốc đến buôn bán, việc giao dịch phân minh, ai cũng cố gắng, toàn cõi
nhân dân an cư lạc nghiệp. Hàng năm nộp thuế má để giúp việc quân,
việc nước, triều đình cũng được nhờ”.
Trong số các con trai của Nguyễn Hoàng, người con đầu là Hà, thứ hai
là Hán, thứ ba là Thành, thứ tư là Diễn đều mất sớm; người con thứ năm
là Hải thì phải gửi lại đất Bắc làm con tin, chỉ còn một mình Nguyễn
Phúc Nguyên là có đủ khả năng và điều kiện kế nghiệp cha. Tuổi nhỏ
Nguyễn Phúc Nguyên tỏ ra thông minh, tài trí hơn người. Lớn lên ông
càng bộc lộ tài năng kiệt xuất “ngày thường cùng các tướng bàn luận
việc binh, tính toán có nhiều việc đúng. Thái Tổ biết có thể trao phó
nghiệp lớn, vẫn để ý tới”. Nguyễn Phúc Nguyên đã không phụ lòng tin
của cha, thực hiện đầy đủ và trọn vẹn tat cả những gì mà người cha-
chúa Nguyễn Hoàng trông đợi và uỷ thác.
Xây dựng một vương triều độc lập, thoát ly hẳn sự lệ thuộc với triều
đình vua Lê chúa Trịnh
Đây là mục tiêu số một của Nguyễn Hoàng khi quyết định vào Nam
dựng nghiệp. Tuy nhiên do điều kiện và hoàn cảnh lúc đó, ông phải hết
sức kín đáo để tránh mọi sự hoài nghi của chúa Trịnh. Trên danh nghĩa
và cả trong thực tế, Nguyễn Hoàng vẫn phải giữ quan hệ lệ thuộc với
chính quyền Lê- Trịnh, vẫn làm tướng tiên phong của Nam Triều đi
đánh dẹp các dư đảng của nhà Mạc ở Sơn Nam, Hải Dương, Sơn Tây,
Thái Nguyên… Cuối năm 1600, sau khi quyết định trở về ở hẳn Thuận
Hoá, đẩy mạnh xây dựng chính quyền độc lập và không nghĩ đến việc
quay trở về yết kiến vua Lê nữa, Nguyễn Hoàng vẫn phải giữ quan hệ
hoà hiếu với chính quyền Lê- Trịnh, hàng năm vẫn phải nộp thuế má và
xin kết nghĩa thông gia với Trịnh Tùng. Sự nghiệp xây dựng một vương
triều độc lập của Nguyễn Hoàng tuy đã có cơ sở bước đầu nhưng vẫn
còn hết sức mong manh. Đây chính là điều ông trăn trở nhất và cũng là
sự uỷ thác cao nhất cho Nguyễn Phúc Nguyên trước lúc qua đời. Sách
Đại Nam thực lục Tiền biên chép: “Chúa yếu mệt, triệu hoàng tử thứ sáu
và thân thần đến trước giường, bảo thân thần rằng: Ta với các ông cùng
nhau cam khổ đã lâu, muốn dựng lên nghiệp lớn. Nay ta để gánh nặng
lại cho con ta, các ông nên cùng lòng giúp đỡ, cho thành công nghiệp”.
Rồi chúa cầm tay hoàng tử thứ sáu dặn: “Làm con phải hiếu, làm tôi
phải trung; anh em trước hết phải thân yêu nhau. Mày mà giữ được lời
dặn đó thì ta không ân hận gì”. Lại nói: “Đất Thuận Quảng phía bắc có
núi Ngang [Hoành Sơn] và sông Gianh [Linh Giang] hiểm trở, phía nam
ở núi Hải Vân và núi Đá Bia [Thạch Bi Sơn] vững bền. Núi sẵn vàng
sắt, biển có cá muối, thật là đất dụng võ của người anh hùng. Nếu biết
dạy dân luyện binh để chống chọi với họ Trịnh thì đủ xây dựng cơ
nghiệp muôn đời. Ví bằng thế lực không địch được, thì cố giữ vững đất
đai để chờ cơ hội, chứ đừng bỏ qua lời dặn của ta” .
Thực hiện di chúc của cha, Nguyễn Phúc Nguyên đã từng bước ly khai
hẳn với triều đình Lê- Trịnh, không chịu nộp thuế, không về chầu triều
đình và đánh bại cuộc tấn công quy mô lớn của Trịnh Tráng vào năm
1627, mở đầu cho cuộc chiến tranh Trịnh- Nguyễn kéo dài 45 năm (từ
1627 đến 1672) với 7 chiến dịch lớn (trong đó có 6 cuộc quân Trịnh chủ
động tấn công vào địa phận của chúa Nguyễn). Về hình thức thì đây là
cuộc nội chiến ác liệt, kéo dài và không phân thắng bại, nhưng nếu xét
theo mục đích của cuộc chiến tranh thì thất bại lại thuộc về chính quyền
Lê- Trịnh.
Lâu nay có nhiều cách đánh giá khác nhau về cuộc nội chiến Trịnh-
Nguyễn. Đương nhiên cuộc chiến tranh đã tiêu huỷ sức người, sức của,
triệt phá đồng ruộng xóm làng và dẫn đến chia cắt đất đai thống nhất của
quốc gia Đại Việt. Chúng ta không thanh minh, không bao biện cho các
cuộc chiến tranh, nhất là các cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn, nhưng
chúng ta cũng không đánh đồng các bên tham chiến. Hy vọng rồi đây
cuộc nội chiến Trịnh- Nguyễn sẽ được nghiên cứu đầy đủ và kỹ lưỡng
hơn, chúng ta sẽ có những đánh giá khách quan và chính xác về nó,
nhưng trong điều kiện của tư liệu ngày nay, dưới cái nhìn toàn diện về
vương triều chúa Nguyễn, chúng tôi tin rằng nhận định sau đây của
GS.TSKH. Vũ Minh Giang là có sức thuyết phục: “Có thể nói việc
Nguyễn Phúc Nguyên tìm mọi cách tách Thuận Quảng ra khỏi sự kiểm
soát của chính quyền Lê- Trịnh không phải chỉ là hành động cát cứ
phong kiến đơn thuần vì lợi ích của dòng họ Nguyễn. Nó còn phản ánh
một ước nguyện muốn thực thi những chính sách cai trị khác với đường
lối chính trị của Đàng Ngoài lúc đó đang theo xu hướng hoài cổ rập
khuôn thời Lê sơ, kìm hãm sự phát triển của xã hội. Về mặt khách quan
việc làm của Phúc Nguyên có lợi cho xu thế phát triển của lịch sử dân
tộc”.
Năm 1613 được lên ngôi chúa thì ngay năm sau, năm 1614, Nguyễn
Phúc Nguyên quyết định bãi bỏ Đô ty, Thừa ty, Hiến ty theo thiết chế
quân sự của hệ thống chính quyền nhà Lê. Tại Chính dinh, ông đặt ra ty
Xá sai (coi việc văn án từ tụng, do Đô tri và Ký lục giữ), Tướng thần lại
(coi việc trưng thu tiền thóc, phát lương cho quân các đạo, do Cai bạ
giữ) và Lệnh sử (coi việc tế tự, lễ tiết và chi cấp lương cho quân đội
Chính dinh, do Nha uý giữ). Bên cạnh đó còn các ty Nội Lệnh sử kiêm
coi các thứ thuế, Tả Lệnh sử và Hữu Lệnh sử chia nhau thu tiền sai dư ở
hai xứ về nộp Nội phủ. Tại các dinh ở ngoài, tuỳ theo từng nơi, có nơi
Nguyễn Phúc Nguyên chỉ đặt một ty Lệnh sử, nhưng cũng có nơi đặt hai
ty Xá sai và Tướng thần lại, có nơi kiêm đặt hai ty Xá sai và Lệnh sử để
trông coi việc từ tụng của quân dân, sổ sách đinh điền và trưng thu thuế
ruộng.
Đầu năm sau, năm 1615, các quy chế mới về chức trách và quyền hạn
của các phủ, huyện được ban hành. Theo quy chế này thì Tri phủ, Tri
huyện giữ việc từ tụng; các thuộc viên: Đề lại, Thông lại chuyên việc tra
khám, Huấn đạo, Lễ sinh chuyên việc tế tự Năm 1620, Nguyễn Phúc
Nguyên lấy lý do chúa Trịnh vô cớ gây chiến đã quyết định chấm dứt
hoàn toàn việc nộp cống thuế cho chính quyền Lê- Trịnh. Năm 1630,
chúa Nguyễn Phúc Nguyên đã làm theo kế của Đào Duy Từ trả lại sắc
của chúa Trịnh Tráng. Đây không chỉ là sự khẳng định dứt khoát chính
quyền chúa Nguyễn ở phía Nam là chính quyền độc lập, cắt đứt hẳn mọi
quan hệ lệ thuộc với chính quyền Lê- Trịnh ở phía Bắc, mà còn đánh
dấu quá trình chuyển đổi căn bản từ một chính quyền địa phương, mang
nặng tính chất quân sự của nhà Lê- Trịnh sang một chính quyền dân sự
của chúa Nguyễn. Đặc biệt trong quan hệ đối ngoại, chúa Nguyễn Phúc
Nguyên là vị chúa Nguyễn đầu tiên tự xưng là An Nam Quốc vương,
quan hệ với các nước trong tư thế của một quốc gia độc lập có chủ
quyền. GS. Kawamoto Kuniye cho rằng điều này đã “biểu lộ nhận thức
quốc tế của chúa Nguyễn trước thời đại mới”.
Cải cách hành chính của Nguyễn Phúc Nguyên là cải cách có ý nghĩa
then chốt, đặt cơ sở cho những bước tiến xa hơn và vững chắc hơn của
triều đình chúa Nguyễn nói riêng và đất nước nói chung.
Mở rộng quan hệ giao thương với nước ngoài, thúc đẩy kinh tế hàng hoá
trong nước, xây dựng Hội An thành thương cảng quốc tế phồn thịnh
Năm 1602, chúa Nguyễn Hoàng có một quyết định hết sức sáng suốt là
giao cho Nguyễn Phúc Nguyên làm trấn thủ dinh Quảng Nam, một vùng
“đất tốt, dân đông, sản vật giàu có” và giữ vị trí “yết hầu của miền
Thuận Quảng”. Bối cảnh chính trị- kinh tế thế giới và khu vực giai đoạn
cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII đã tạo thêm nhiều điều kiện thuận lợi
để có thể khai thác và đánh thức nguồn lực trong nước. Chúa Nguyễn
Phúc Nguyên trong thực tế phải được coi là người Việt Nam đầu tiên
thực sự thành công trong chiến lược mở rộng quan hệ giao thương với
nước ngoài và thúc đẩy kinh tế hàng hoá và đô thị trong nước phát triển
lên một trình độ mới.
Trong số các nước phương Đông, Nguyễn Phúc Nguyên đặc biệt quan
tâm đến Nhật Bản. Ông không chỉ chủ động xúc tiến quan hệ giao
thương với tư cách chính thức của vị đứng đầu nhà nước An Nam (An
Nam Quốc vương), tạo mọi điều kiện thuận lợi cho thương nhân đến
sinh sống, buôn bán ở Hội An, mà còn cho con gái yêu quý của mình
sang làm dâu một gia đình thương nhân Nhật Bản ở Nagasaki để thắt
chặt hơn nữa quan hệ với giới đại thương Nhật. Người con rể của ông là
Araki Sotaro vốn thuộc dòng dõi samurai ở Kumamoto đi thuyền mang
cờ hiệu của công ty Đông Ấn Hà Lan VOC đến cập cảng Hội An vào
năm 1619. Theo sách Ngoại phiên thông thư (quyển 13, tr 87-88) thì
cũng đúng vào năm đó chúa Nguyễn Phúc Nguyên quyết định gả con gái
của mình cho nhà lái buôn Nhật Bản tài ba này. Ít lâu sau cô đã theo
người chồng Nhật Bản về định cư ở Nagasaki. Cô công chúa họ Nguyễn
có cuộc sống thật sự hạnh phúc, đắc ý cùng chồng, để lại nhiều dấu ấn
tốt đẹp trên đất Nhật Bản.
Từ năm 1593, Mạc phủ Toyotomi bắt đầu thi hành chính sách Châu ấn
thuyền (Shuinsen) cấp giấy phép cho thuyền buôn mở rộng quan hệ
thông thương với các nước Đông Nam Á. Nguyễn Phúc Nguyên đã cho
mở rộng thương cảng Hội An trở thành thương cảng chính không chỉ
của Đàng Trong mà trên toàn khu vực tương đương với Việt Nam và
Đông Nam Á hiện nay, đón nhiều nhất số thuyền buôn Nhật Bản được
cấp giấy phép chính thức. Theo nghiên cứu của GS. Iwao Seiichi thì từ
năm 1604 đến 1634 (tương đương với thời kỳ Nguyễn Phúc Nguyên
được giao làm trấn thủ dinh Quảng Nam (1602) và lên ngôi chúa (1613-
1635)), Mạc phủ đã cấp 331 giấy phép đến 19 cang thuộc khu vực Đông
Nam Á (bình quân 1 cảng là 17,42 giấy phép) và 130 giấy phép đến 6
cảng thuộc khu vực tương đương với Việt Nam hiện nay (bình quân 1
cảng là 14,33 giấy phép). Riêng cảng Hội An có 86 thuyền được cấp
giấy phép (chiếm 25,98% số giấy phép cấp cho toàn bộ khu vực Đong
Nam Á, gấp gần 5 lần tỉ số bình quân chung cho khu vực và chiếm
66,15% số giấy phép cấp cho toàn bộ khu vực Việt Nam, gấp 6 lần tỉ số
bình quân chung cho Việt Nam).
Bên cạnh thuyền buôn Nhật Bản, thuyền buôn Trung Quốc, Đông Nam
Á và nhất là thuyền buôn phương Tây cũng cập bến Hội An ngày một
nhiều hơn và thường xuyên hơn. Christoforo Borri nhận xét: “Chúa
Đàng Trong [chúa Nguyễn Phúc Nguyên] không đóng cửa trước một
quốc gia nào, ngài để cho tự do và mở cửa cho tất cả người ngoại quốc,
người Hà Lan cũng tới như những người khác, cùng với tàu chở rất
nhiều hàng hoá của họ”. Trong bối cảnh giao lưu buôn bán quốc tế tấp
nập và sôi động như vậy, Hội An những thập kỷ đầu thế kỷ XVII đã đột
khởi trở thành một đô thị, cảng thị quốc tế tiêu biểu ở khu vực châu Á.
Giáo sĩ dòng Tên người Ý là Christoforo Borri, sống tại thị trấn Nước
Mặn (nay thuộc huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định) những năm 1618-
1622, đã mô tả về Hội An như sau: “Hải cảng đẹp nhất, nơi tất cả người
ngoại quốc đều tới và cũng là nơi có hội chợ danh tiếng chính là hải
cảng thuộc tỉnh Quảng Nam… Chúa Đàng Trong xưa kia cho người
Nhật người Hoa chọn một địa điểm và nơi thuận tiện để lập một thành
phố cho tiện việc buôn bán như chúng tôi đã nói. Thành phố này gọi là
Faifo (Hội An), một thành phố lớn đến độ người ta có thể nói được là có
hai thành phố, một phố người Hoa và một phố người Nhật. Mỗi phố có
một khu vực riêng, có quan cai trị riêng, và sống theo tập tục riêng.
Người Hoa có luật lệ và phong tục của người Hoa và người Nhật cũng
vậy”. Đây là sự phát triển trội vượt, một hiện tượng kinh tế- xã hội hết
sức độc đáo chưa từng xuất hiện trước đó, cũng không thấy lặp lại ở bất
cứ đô thị nào trên đất Việt Nam nhiều thế kỷ tiếp sau.