Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 4B-2007
54
đặc điểm lập luận trong tạp văn của Nguyễn khải
Đặng Thị Thu
(a)
Tóm tắt. Trong bài viết này, chúng tôi chỉ ra rằng lập luận trong tạp văn Nguyễn
Khải thể hiện ở việc xây dựng các lí lẽ nhiều tầng, hình thức đa dạng và kết luận chủ
yếu là những dòng suy ngẫm, suy diễn, nhận định mang màu sắc triết lý về cuộc đời
và con ngời. Với cách thức lập luận nh vậy đã mang đến tính thuyết phục cao và
góp phần làm nổi bật phong cách văn xuôi của nhà văn Nguyễn Khải.
1. Trong giao tiếp con ngời phải
trao đổi thông tin với nhau. Muốn trao
đổi thông tin tốt thì cách tổ chức các
đơn vị lời nói rất quan trọng. Cách tổ
chức lời nói để truyền đạt thông tin có
nhiều dạng: Có cách tổ chức lời nói
mang thông tin trực tiếp (tờng minh),
có cách tổ chức lời nói gián tiếp (hàm
ẩn). Có cách dẫn dắt thông thờng và
dẫn dắt luận lý. Lập luận là cách tổ
chức mang tính chất luận lý đa đến
hiệu quả cao trong giao tiếp.
Vậy lập luận là gì? Từ trớc đến
nay đã có nhiều ý kiến bàn về lập luận.
Theo Đỗ Hữu Châu thì: Lập luận là
đa ra những lý lẽ nhằm dẫn dắt ngời
nghe đến một kết luận nào đó mà ngời
nói muốn đạt tới" [1, 15].
Còn Nguyễn Đức Dân thì cho rằng:
Lập luận là một hoạt động ngôn từ.
Bằng cộng cụ ngôn ngữ, ngời nói đa
ra những lý lẽ nhằm dẫn dắt ngời
nghe đến một hệ thống xác tín nào đó:
Rút ra một (một số) kết luận hay chấp
nhận một (một số) kết luận nào đó " [4,
165]. Đỗ Thị Kim Liên xác định Lập
luận là ngời nói hay viết đa ra một
hay một số lý lẽ mà ta gọi là luận cứ
nhằm dẫn dắt ngời đọc hay ngời
nghe đến một kết luận nào đó mà ngời
viết muốn hớng tới [2, 141]. Dù diễn
đạt có khác nhau nhng về cơ bản các
nhà nghiên cứu đều thống nhất với
nhau rằng lập luận là đa ra các lý lẽ
để ngời cùng giao tiếp đi đến kết luận
hoặc chấp nhận kết luận. Nh vậy
trong hoạt động giao tiếp (dù trực tiếp
hay gián tiếp) để đi đến một đích nào đó
ngời nói phải có chiến lợc giao tiếp
phù hợp mà lập luận là một trong
những yếu tố quan trọng của chiến lợc
đó.
Lập luận đợc thể hiện trong nhiều
loại văn bản: Văn bản khoa học, văn
bản pháp lý và cả văn bản nghệ thuật.
Trong văn bản nghệ thuật, loại tạp văn
là nơi thể hiện rõ tính chất lập luận.
Nguyễn Khải là một cây bút viết tạp
văn nhiều và cách lập luận trong tạp
văn của tác giả này đã mang tính định
hình rõ nét, tạo nên phong cách riêng.
Trong bài viết này chúng tôi đề cập đến
vấn đề lập luận trong tạp văn của
Nguyễn Khải nhằm làm nổi bật phong
cách của một tác giả văn học lớn trong
văn học Việt Nam hiện đại.
2. Tạp văn của Nguyễn Khải đợc in
trong tập Nguyễn Khải tạp văn (Nxb
Văn học, 1996) bao gồm những bài viết
ghi lại những mẩu chuyện, những kỷ kỷ
niệm, những con ngời, những mảng
hiện thực đời sống, những hiện tợng
lịch sử (Bạn mới ở Hạ Long, Tiệc mừng
Nhận bài ngày 01/11/2007. Sửa chữa xong ngày 19/12/2007.
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 4B-2007
55
đầu năm, Hào kiệt tỉnh Thanh, Chiến
binh khi đã về già). Ngoài ra tạp văn
của ông còn bao gồm các bài báo đề cập
đến các vấn đề về đạo đức lối sống (Lối
sống ở khoảng giữa, Chúng tôi chăm sóc
những tài năng, Một ngời ủng hộ lực
lợng trẻ, Tính dối trá, Trách nhiệm với
ngời khác và trách nhiệm với xã
hội). Bên cạnh đó còn có những bài
viết về nghề nghiệp (Nghề văn cũng
lắm công phu, Nghề viết với sách in,
Nếu trái tim tôi cha nguội lạnh, Cuộc
tìm kiếm mãi mãi, Không Thầy đố mày
làm nên).
ở
đề tài nào, chúng ta đều
nhận thấy một Nguyễn Khải luôn nhạy
bén trớc hiện thực đời sống. Nhà văn
đã khéo léo lồng vào sự trải nghiệm của
chính bản thân, từ đó đặt ra đợc
những vấn đề có ý nghĩa xã hội to lớn.
Thấp thoáng đằng sau những trang văn
của ông là những vấn đề mang tính
triết lý sâu sắc: Triết lý về lẽ sống, về
nghề nghiệp, về những vấn đề nhân
tình thế thái trong xã hội.
Độc giả yêu quý tạp văn của
Nguyễn Khải trớc hết ở sự khám phá
mới mẻ trên phơng diện đề tài, ở tài
năng phân tích sắc sảo, ở sự phát hiện
và khẳng định những giá trị nhân văn
sâu sắc ẩn chứa sau những nhân vật
rất đỗi bình thờng trong cuộc sống.
Trong những câu chuyện về những con
ngời bình thờng, những chuyện văn,
chuyện đờithờng lấp lánh những suy
t, khiến ngời đọc phải chiêm nghiệm
thấm thía. Điều hấp dẫn ở tạp văn
Nguyễn Khải còn là cách thức lập luận
mang tính thuyết phục cao. Nhờ lập
luận mà Nguyễn Khải đã chuyển những
t tởng, tình cảm vốn rất phong phú
phức tạp thành những trang văn giúp
cho độc giả dễ theo dõi trong tính hệ
thống và cuốn hút. Nhà văn đã thuyết
phục đợc độc giả thông qua tổ chức lập
luận để rồi bạn đọc văn ông cùng suy
ngẫm. Các đoạn văn của Nguyễn Khải
thờng dài (có nhiều đoạn tơng đơng
với một tiểu phẩm). Kể về những câu
chuyện, chủ yếu là sử dụng các tình
tiết. Tác giả sử dụng gần nh đan xen
vào nhau những lời kể, lời tả, suy ngẫm,
suy diễn, liên tởng chuyện này sang
chuyện kia. Mỗi đoạn là một lập luận
nhng các lập luận đó không tồn tại độc
lập mà nằm trên một đờng dây lập
luận, không tách bạch nhau rõ ràng.
Với Nguyễn Khải, sự kiện trớc mắt
không dễ trôi qua và cũng không thể
trôi qua một cách nhàn nhạt mà nó
luôn đọng lại. Nhà văn thờng mổ xẻ,
xoáy sâu, lật đi lật lại vấn đề để cuối
cùng rút ra đợc những bài học có tính
chất triết lý sâu sắc.
2.1. Qua khảo sát lập luận trong
tạp văn của Nguyễn Khải, chúng tôi
nhận thấy nhà văn thờng xuất phát từ
những ý nghĩ, luận điểm chủ quan của
cá nhân mình, xây dựng những mẩu
chuyện những nhân vật, những lời kể,
tả, nhận xét để chứng minh cho
những ý nghĩ, những luận điểm đó.
Chẳng hạn nh trong Chị Xuân
Chị Đào có đoạn: Trong số mời lăm
nữ công nhân cha chồng ở đội sản
xuất, có một cô tôi chú ý nhiều nhất.
Phải gọi là chị mới đúng vì chị ấy đã
ngoài ba mơi, đã có một đời chồng,
chồng chết, con chết Chị tên là Xuân,
vóc dáng sồ sề, mặt thô, chân tay thô,
cời nói Chỉ có một điều lạ, ngời nh
thế ăn nói nh thế nhng cả mọi ngời
đều thích bàn tán về chịChị Xuân biết
đọc, biết viết các bài bích báo chị thờng
viết bằng thơ lục bát, lời thơ nôm na
nhng vẫn nhiều ngời thuộc [6, 117 -
118].
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 4B-2007
56
Đoạn văn trên đợc bắt đầu từ một
nhận định chủ quan của tác giả: Trong
số mời lăm nữ công nhân cha chồng ở
đội sản xuất, có một cô tôi chú ý nhiều
nhất. Phải gọi là chị mới đúng (R). Để
làm rõ nhận định này tác giả bài viết đã
triễn khai các luận cứ sau:
+ Luận cứ 1: Kể về đời t của chị (p)
+ Luận cứ 2: Tả hình thức của chị (q)
+ Luận cứ 3: Nhận xét về cuộc đời
của chị. Đó là phụ nữ từng trải, chỉ có
điều lạ (n): Mối quan hệ với mọi ngời
(n1), tính tình của chị (n2), cách làm ăn
của chị (n3)
+ Luận cứ 4: Tài năng trong ứng xử
của chị (m).
Và nh vậy qua bốn luận cứ là
những lời kể, tả, nhận xét đan cài đồng
hớng đã làm sáng tỏ kết luận khái
quát đợc đa ra ở đầu đoạn. Phần kết
luận đợc nối với các luận cứ bằng kết
tử vì.
Có thể mô hình hoá kiểu lập luận
này nh sau:
Hình 1.
Cũng xuất phát từ những nhận
định mang tính chủ quan của mình,
nhà văn Tô Hoài đã triển khai lập luận
hoàn toàn khác với Nguyễn Khải. Trong
một bài viết có tựa đề Một thể văn tập
cho ngời viết nhiều nết quý, có đoạn:
Tôi thích truyện ngắn, bao giờ cũng
tìm đọc truyện ngắn, bởi coi đó là một
thể loại có tính chiến đấu mạnh. [7, 7].
Đoạn văn chỉ có một câu, chứa đựng
một lập luận, đợc tổ chức theo kiểu
diễn dịch dạng đơn, gồm một kết luận
và một luận cứ, nối kết luận và luận cứ
là kết tử bởi.
2.2. Xuất phát từ những nhận định,
những suy nghĩ mang tính chủ quan,
qua cách tổ chức các lý lẽ là những lời
kể, tả, nhận xét, dẫn chứng cụ thể nhà
văn đã hớng ngời đọc đi đến kết luận
là những dòng suy ngẫm, suy diễn.
Ví dụ nh trong bài viết: Cách đọc,
cách học và cách làm việc của một nhà
văn hoá có đoạn viết về sở thích của
nhân vật tôi: Tôi rất thích cuốn hồi ký
Nhớ nghĩ chiều hôm của học giả Đào
Duy Anh vì tôi đã đợc chứng kiến một
cuộc phiêu lu trí thức hết sức hấp dẫn
của một nhà văn hoá. Ngoài cái đọc, cái
học và quá rình làm việc cho một đề tài,
cho một công trình, ông không viết gì
nhiều về bản thân ông cả Ngay nh
học giả Cao Xuân Huy là bạn mấy chục
năm của học giả Đào Duy Anh Nhng
những ai muốn tìm hiểu không khí
chính trị, không khí học thuật của một
thời thì sẽ cần đọc đi đọc lại nhiều lần,
để lấy t liệu cũng có mà cần phải nhìn
vào ngời xa mà kiểm tra cách học
cách đọc và cách làm việc của chính
mình, của thế hệ mình [6, 216-217].
Đoạn văn trên đợc xuất phát từ
một ý nghĩ chủ quan của ngời viết:
Tôi rất thích cuốn hồi ký Nhớ nghĩ
chiều hôm của học giả Đào Duy Anh
(R1).
+ Luận cứ 1: Cái tôi tiếp nhận đợc
Tôi đã đợc chứng kiến một cuộc phiêu
lu trí thức hết sức hấp dẫn của một
nhà văn hoá " (p)
+ Luận cứ 2: Nội dung chính của
quyển sách Ngoài cái đọc tài liệu (q)
n m
q
n1
n
2
n3
R
p
Kết tử
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 4B-2007
57
+ Luận cứ 3: Nêu lên dẫn chứng cụ
thể "Ngay nh học giả Cao Xuân
Huy của hai ngời" (n).
Từ ba luận cứ trên, nhà văn đã dẫn
ngời đọc đi đến một kết luận: "Viết
nh thế thì thật khó đọc Nhng những
ai muốn tìm hiểu không khí chính
trị của thế hệ mình (R2).
Đoạn văn đợc tổ chức theo kiểu
hỗn hợp diễn dịch - quy nạp đồng hớng
lập luận. Có thể mô hình hoá lập luận
này nh sau:
Hình 2.
Hay nh trong bài viết: Nghề văn
cũng lắm công phu có đoạn: Những
mộng mơ vẫn vơ một lần nữa đợc thoả
nguyện đến dễ dàngvậy mà tôi vẫn
không hãi, không phân vân tôi đâu
dám khớc từ [6, 3].
Đoạn văn trên chứa một lập luận
bao gồm kết luận 1 (R1) là một suy nghĩ
đứng ở đầu đoạn, sau khi triển khai hai
luận cứ:
+ Luận cứ 1: Đồng chí tỉnh đội đặt
vấn đề với tôi (p)
+ Luận cứ 2: Cảm xúc và suy nghĩ
trớc sự lựa chọn của tôi (q).
Từ đó ngời viết đi đến kết luận:
Vậy mà tôi vẫn không hãi, không phân
vân hay dở mặc, vinh nhục mặc tôi
đâu dám khớc từ (R2). Các luận c
nối với kết luận 2 bằng kết tử vậy mà.
2.3. Có khi nhà văn lại xuất phát từ
những sự kiện lịch sử, từ các kỉ niệm
của bản thân để xây dựng những mẩu
chuyện mà lý lẽ là những lời kể, tả,
phân tích, liên tởng so sánh vừa
logích, vừa bất ngờ thú vị từ đó hớng
ngời đọc đến kết luận khái quát.
Đây cũng chính là một cách lập
luận thờng gặp trong các đoạn văn của
Nguyễn Khải. Trong bài "Nghề văn
cũng lắm công phu, có đoạn: "Cuối
năm 1950 tôi đợc trung đoàn cử đi dự
lớp nghiên cứu văn nghệ Ngời phụ
trách lớp là nhà văn Nguyễn Tuân, học
viên là nhiều văn nghệ sĩ đã rất nổi
tiếng và những cán bộ làm công tác
quản lý Lần đầu tiên tôi đợc biết
mặt hai nhân vật nửa ngời nửa thần
là ông Nguyễn Tuân và ông Xuân
Diệu Ông Nguyễn Tuân năm đó mới
bốn mơi tuổi nhng văn nghiệp của
ông xem nh đã hoàn tất Những năm
về sau ông đã gần tám mơi, tôi đã xấp
xỉ sáu chục, tôi lại gọi ông là bác và
xng cháu thì ông nhìn tôi nh ngạc
nhiên lắm cái lẽ thông thờng là tôi
không đợc phép xem ông nh bạn, là
thầy thì đợc là bạn thì tôi hỗn láo quá
" [7, 14 -15].
Đoạn văn trên đợc xây dựng từ
một luận điểm là một mốc trong cuộc
đời nhà văn: Đợc đi dự lớp nghiên cứu
văn nghệ (R1). Các luận cứ đa ra gồm:
+ Luận cứ 1: Giới thiệu về lớp học:
Ngời phụ trách lớp, học viên (p)
+ Luận cứ 2: Kể về cái lần đầu tiên
của tôi (q)
+ Luận cứ 3: Kể về ông Nguyễn
Tuân: Tuổi, sự nghiệp văn học, quan
tâm đến tôi dù tôi không thể lý giải nổi.
(n)
+ Tuổi của tôi còn ít (n1)
+ Tài thì cha có (n2)
p
q
R1
n
R2
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 4B-2007
58
+ Cách trò chuyện thì khúm núm,
nhạt nhẽo (n3)
+ Luận cứ 4: Cách xng hô của tôi
đối với ông Nguyễn: Trớc đây, bây giờ
(m).
Từ bốn luận cứ trên, tác giả bài viết
đã dẫn bạn đọc đến kết luận khái quát
về một cách ứng xử của nhân vật "tôi"
đối với các bậc thầy trong lịch sử văn
học: Tôi không đợc phép là bạn thì
tôi hỗn láo quá" (R2). Có thể mô hình
hoá dạng lập luận này nh sau:
Hình 3.
2.4. Lập luận trong tạp văn của
Nguyễn Khải nhiều khi đợc xây dựng
từ các luận cứ là những lời kể, tả, nhận
xét, liên tởng, dẫn chứng sau đó dẫn
dắt bạn đọc đi đến kết luận. Kết luận
này lại đợc tăng cờng bằng các luận
cứ sau nó nhằm tăng thêm sức thuyết
phục cho lập luận.
ở
loại lập luận này, kết luận nằm ở
giữa đoạn, mối quan hệ giữa các luận
cứ đầu với kết luận là mối quan hệ đi từ
cụ thể đến khái quát, còn mối quan hệ
giữa kết luận với các luận cứ sau lại từ
khái quát đến cụ thể. Với cách lập luận
nh vậy đã tạo cho kết luận một cơ sở
vững chắc để thuyết phục ngời đọc.
Trong bài "Bạn mới ở Hạ Long" có
đoạn: Cái nghề và cũng là cái nghiệp
của bọn tôiThế là tôi có ngay một
hớng dẫn viên, một cán bộ của ngời
chơi đợc, tin đợc [ 6, 397].
Đoạn văn trên chứa một lập luận
bao gồm các luận cứ sau:
+ Luận cứ 1: Cái nghề đã quên
hết (p)
+ Luận cứ 2: Tôi rụt rè nói với anh
phó phòng an ninhkhông (q).
Từ 2 luận cứ này, tác giả rút ra kết
luận: Thế là tôi có ngay một hớng dẫn
viên (R). Kết luận này nối với hai luận
cứ trên bằng kết tử Thế là. Kết luận
tiếp tục đợc chứng minh bằng các luận
cứ sau nó là các lời kể về quê quán của
hớng dẫn viên (n), quá trình học hành
(m), tả về ngoại hình (g), nhận xét về
hớng dẫn viên (h)
Có thể biểu diễn lập luận trên bằng
mô hình sau:
Hình 4.
Hay nh trong đoạn mở đầu bài
viết Mùi khói rạ có đoạn: Tôi về xã
M.L. vào dịp cuối năm Họ nắm tay
nhau đi về cái lò gạch bỏ hoang, trong
ánh sáng lờ mờ của trăng đầu tháng,
hai cái hình ngời rất trẻ ôm chặt lấy
nhau gần nh bất động trong cái mùi
thơm nồng nàn của đống rạ cháy không
thành ngọn lúc tối lúc đỏ gắt ở phía xa
[6, 421- 422].
Đoạn văn đợc bắt đầu bằng một kỉ
niệm của bản thân tác giả: Về xã M. L.
R1
p
q
n
m
P1
P2
n
1
n
2
n1
m2
m
3
R
R
p
n m
g
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 4B-2007
59
Lý lẽ là những lời kể về việc phân công
chổ ở, kể về gia đình Huy mà tác giả
đợc đến ở, tả về không gian trên
đờng, từ đó tác giả dẫn dắt đến một
kết luận: Bất chợt mùi khói rạ ở đâu
đó ập vào đầy mắt quách quện, nồng
nàn thân thiết từ cái thời còn là trẻ con
rời nhà đi kháng chiến (R). Kết luận
này là một dòng liên tởng mang tính
hồi cố. Để chứng minh cho kết luận vừa
nêu ngời viết đa ra một dòng liên
tởng khác Lập tức tôi liên tởng
ngay phía xa. Đó là kỉ niệm với
Cờng: Đi tuần, chờ ngời yêu của
Cờng, tả về ngoại hình, thời nhỏ,
trang phục, cuộc gặp gở của Cờng với
ngời yêu
Đoạn văn trên đợc tổ chức theo
kiểu hỗn hợp quy nạp - diễn dịch. Có
thể mô hình hoá dạng lập luận này
bằng mô hình 5:
Hình 5.
Qua phân tích kiểu lập luận trong
đoạn văn trên, chúng tôi còn nhận thấy
cách sử dụng các dòng liên tởng trong
tạp văn của Nguyễn Khải. Ngay trong
một đoạn văn, liên tởng vừa đóng vai
trò là lý lẽ, vừa đóng vai trò là kết luận
khái quát cho cả đoạn. Chính nhờ sự
vận dụng các dòng liên tởng một cách
linh hoạt, bất ngờ, thú vị kết hợp với sự
đan xen của những lời kể, tả, tác giả
dẫn dắt ngời đọc hớng đến vấn đề mà
mình muốn nói một cách nhẹ nhàng mà
chứa một lợng thông tin lớn.
2.5. Lập luận trong tạp văn của
Nguyễn Khải nhiều khi đợc tổ chức
bằng đối thoại dới hình thức phỏng
vấn.
ở
loại lập luận này, ngời viết
thờng tự đa mình vào tham gia đối
thoại tranh luận, tự bộc lộ bằng rất
nhiều lý lẽ sâu sắc. Có khi câu hỏi và
lời đáp cứ tiếp nối nh cuộn xoắn, kết
chuổi tạo nên sinh khí và lôi cuốn bạn
đọc. Có khi hình thức phỏng vấn ấy lại
đợc dùng xen kẻ với các hình thức
khác. Và đằng sau cuộc phỏng vấn là
một khoảng mở để ngời kể chuyện,
nhân vật và bạn đọc cùng nghiền ngẫm
chiêm nghiệm về lẽ đời, về thời cuộc, về
thế hệ con ngời của hôm qua và hôm
nay.
Trong bài viết Tính dối trá [6,
329], Nguyễn Khải đã tổ chức lập luận
bằng ba cuộc đối thoại: Cuộc đối thoại
thứ nhất là giữa nhân vật tôi và anh S
một cán bộ tổ chức. Vấn đề đợc nêu
ra là đánh giá về đội ngũ cán bộ trẻ
trong tỉnh. Cuộc đối thoại thứ hai là
giữa nhân vật tôi và anh B - cấp trên
của tôi và anh A. Vấn đề đợc nêu ra
ở đây là ý kiến về bài thơ của anh P.
Tiếp nữa là cuộc đối thoại giữa nhân
vật tôi với đồng chí chủ nhiệm là
thờng vụ Đảng uỷ còn rất trẻ, vấn đề
đặt ra là trên tỉnh họ có xì xào gì về
chuyện ở dới này hay không. Ba cuộc
đối thoại với ba chủ đề khác nhau
r1
p q n
R
m
m1
m2
m3
m4
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 4B-2007
60
nhng đều có một điểm chung là ẩn
đằng sau nó chính là sự dối trá. Dù mục
đích của sự dối trá ấy là khác nhau: Để
lấy lòng ngời khác (đối thoại 1), nịnh
bợ cấp trên (đối thoại 2), nhằm che đậy
một sự thật (đối thoại 3). Nhà văn đã
không ngần ngại vạch rõ tính dối trá
của con ngời là không thể chấp nhận
đợc. Nó có ảnh hởng rất xấu đến sự
phát triển xã hội. Mỗi đoạn đối thoại
đợc tổ chức lập luận theo cấu trúc diễn
dịch quy nạp.
Hay nh trong bài viết Đến một
nơi rất xa để đợc hiểu lại mình, tác
giả đã sử dụng rất nhiều hình thức tổ
chức lập luận này. Đặc biệt có đoạn viết
về buổi hẹn của chị Chu - đi với chúng
tôi thì những câu hỏi lời đáp nh quện
chặt vào nhau và cứ thế cho đến hết cả
đoạn: Chị Chu - đi có hẹn chúng tôi tới
thăm chị tại th viện trờng đại học
tổng hợp Mass, vì chị làm việc ở đó. Chị
nói Th viện rất lớn, có rất nhiều sách
quan trọng. Tôi cời: Nhng chúng tôi
không biết tiếng Anh Có cả tiếng Việt.
Anh Lê Lựu hỏi: Sách Tiếng Việt?-
Không có sách. Tôi hỏi Báo Tiếng
Việt? - Không có báo- Cái gì bằng
tiếng Việt?. Chị đa hai bàn tay lên rồi
lại cời: Tôi không biết nữa. Lê Lựu
hỏi: Tài liệu bằng tiếng Việt phải
không? Đúng rồi tài liệu rất nhiều,
tài liệu của quân đội- Quân đội Mỹ?-
Không phải của quân đội giải phóng
lại cời: Của Vixi [6, 519].
Đoạn đối thoại này đợc tổ chức
theo kiểu móc xích- quy nạp. Những
câu hỏi đáp nhằm dẫn dắt đến một
thông tin bất ngờ và đó chính là chủ đề
chính của đoạn: Tài liệu của quân giải
phóng đang cất giấu ở th viện tại Mỹ.
Có thể mô hình hoá dạng lập luận này
nh sau:
Hình 6.
3. Qua việc khảo sát, phân tích đặc
điểm lập luận trong đoạn văn tạp văn
của Nguyễn Khải, chúng tôi xin rút ra
một số nhận xét khái quát sau:
3.1. Cách tổ chức lập luận trong tạp
văn Nguyễn Khải đa dạng, biến hoá,
với nhiều tầng lý lẽ: Có cách tổ chức
theo kiểu diễn dịch, có cách tổ chức
theo kiểu quy nạp, lại có cách tổ chức
phối hợp diễn dịch - quy nạp, phối hợp
quy nap - diễn dịch. Giữa phần luận cứ
và kết luận có khi đợc nối kết với nhau
nhờ các kết tử nhng có trờng hợp
không có sự hiện diện của kết tử. Tuy
nhiên qua khảo sát chúng tôi nhận thấy
cách tổ chức lập luận mà nhà văn
Nguyễn Khải sử dụng chủ yếu ở thể loại
tạp văn là kiểu hỗn hợp diễn dịch - quy
nạp. Số lợng là 170 đoạn trên tổng số
395 đoạn văn đợc khảo sát, tỉ lệ là:
43,3%. Còn trong tạp văn của Tô Hoài
thì đoạn văn thờng ngắn và lập luận
thờng là đơn giản theo cấu trúc diễn
dịch hoặc quy nạp.
3.2. ở phần luận cứ, nhà văn đã sử
dụng một hệ thống lý lẽ phong phú với
sự đa dạng trong hình thức biểu hiện:
Kể, tả, hồi ức, liên tởng, suy diễn, suy
ngẫm, nhận xétVới cấu trúc trùng
điệp bao lấy nhau, A trong B, B trong
C. Các lý lẽ nhiều khi không liên quan
đến nhau nhng bằng tài dẫn dắt, tác
giả đã hớng ngời đọc đi đến một kết
luận chung và lúc đó bạn đọc mới nhận
p1 p2 p3 R
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 4B-2007
61
ra sợi dây ngầm ẩn nối kết xuyên suốt
các lý lẽ với nhau. Với cách lập luận
nh thế độc giả dễ nhận thấy trong
đoạn văn tạp văn của Nguyễn Khải
chứa đựng hàm lợng tri thức lớn về
nghề nghiệp, về xã hộiđặc biệt là
những tri thức này lại đợc trình bày
thông qua sự trải nghiệm của nhà văn.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh
nhận xét: Mỗi lần đọc Nguyễn Khải trí
khôn của mình cũng đợc mở mang
thêm một điều gì đó [7, 30]. Nhà
nghiên cứu Vơng Trí Nhàn cho rằng:
Muốn hiểu con ngừơi thời đại, những
cái hay cái dở của họ, đời sống tinh
thần của họ phải đọc Nguyễn Khải [7,
30].
3.3. Phần kết luận trong lập luận
của Nguyễn Khải có những nét riêng.
Thông thờng ngời ta nhận ra phần
kết luận trong một lập luận là nhờ vào
các dấu hiệu hình thức nh: Kết tử lập
luận, phép liên kết Trong đoạn văn
tạp văn của Nguyễn Khải, ngời đọc
nhận ra đợc phần kết luận còn dựa
vào sự chuyển đổi của giọng văn. Trong
những trang viết của mình, nhà văn sử
dụng nhiều giọng đan xen: Kể, tả, hồi
tởng, phỏng vấn Nhng khi hớng
ngời đọc đi đến phần kết luận phần
lớn nhà văn chuyển sang giọng suy
ngẫm triết lý. Do vậy ở thể loại tạp văn
thờng xuất hiện một con ngời độc
thoại trầm ngâm suy ngẫm về nghề
nghiệp, về các vấn đề về đạo đức lối
sống với những day dứt nuối tiếc,
những trăn trở của bản thân ngời cầm
bút. Nếu nh ở thể loại truyện ngắn,
tiểu thuyết chất triết lý chủ yếu đợc
thông qua hình tợng nhân vật thì ở
thể loại tạp văn màu sắc triết lý chủ
yếu biểu hiện bằng lời trữ tình ngoại
đề, với những dòng suy ngẫm, suy diễn,
suy tởng. Có nhiều trờng hợp phần
kết luận, nhà văn để cho nhân vật phát
biểu tự nói lên suy nghĩ của mình. Từ
đó nhà văn đã khám phá thế giới tâm
hồn của con ngời, rút ra đợc những
suy ngẫm triết lý về cuộc đời và con
ngời. Chính kết luận là những dòng
suy ngẫm này đã mang đến một sắc
thái khác hẳn cho thể loại tạp văn. Nó
không chỉ mang đến một cách nhìn
rạch ròi rõ rệt, một cái nhìn phê phán
tố cáo nh mọi ngời vẫn nói mà đây
còn là những xót xa đau đớn về sự
buông tuồng của xã hội, là tiếng kêu
thảm thiết về sự xuống cấp của những
mối quan hệ giữa ngời với ngời và đôi
khi là tiếng cời cay đắng về những
khuyết tật rõ ràng đến thế mà không ai
nói ra để tính chuyện thay đổi.
3.4. Đặc điểm lập luận trong tạp
văn của Nguyễn Khải là một vấn đề lý
thuyết mới mẻ nhng có ý nghĩa thực
tiễn quan trọng. Viết về tạp văn của
Nguyễn Khải ở góc độ ngôn ngữ học là
một hớng đi hứa hẹn nhiều điều thú
vị. Kết quả nghiên cứu trên chỉ là bớc
đầu, chúng tôi mong muốn ở những
công trình quy mô và khoa học hơn với
cái nhìn toàn diện và tổng thể về đặc
điểm lập luận trong các sáng tác của
Nguyễn Khải. Từ đó chắc chắn sẽ làm
nổi bật phong cách của một cây bút
hiện đại.
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 4B-2007
62
Tài liệu tham khảo
[1] Đỗ Hữu Châu, Đại cơng ngôn ngữ học, tập II - Ngữ dụng học, NXB Giáo duc,
Hà Nội, 2001.
[2] Đỗ Thị Kim Liên, Giáo trình ngữ dụng học, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2005
[3] Hà Công Tài, Phan Diễm Phơng, Nguyễn Khải về tác gia và tác phẩm, NXB
Giáo dục, Hà Nội, 2003.
[4] Nguyễn Đức Dân, Ngữ dụng học, tập I, NXB Giáo dục, 2000.
[5] Nguyễn Hữu Sơn, Đọc "truyện ngắn và tạp văn" của Nguyễn Khải, Báo nhân dân,
(ngày 27-2-1999).
[6] Nhóm tác giả, Nguyễn Khải tạp văn, NXB Hội nhà văn, 2004.
[7] Vơng Trí Nhàn, Sổ tay truyện ngắn, NXB Hội nhà văn, 1998.
SUMMARY
Features of arguments in Nguyen Khais miscellanea
In this article, we proved that the arguments in Nguyen Khais miscellanea is
shown in the construction of multistage, multiform, and in the main conclusions
lines of meditating, deducing, judging which are characterized by the philosophy
of life and human. Such argument brings the highly convincingness and contributes
to highlighting Nguyen Khais prose style.
(a)
Cao học 13 ngôn ngữ, Trờng đại học vinh.