Tải bản đầy đủ (.pdf) (14 trang)

Báo cáo nghiên cứu khoa học: " KHÁI QUÁT KIẾN TRÚC VÀ CẤU TẠO ĐẶC TRƯNG CỦA CÁC ĐÁ MAGMA XÂM NHẬP KHU VỰC THỪA THIÊN HUẾ" ppsx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (5 MB, 14 trang )

TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Số 59, 2010

KHÁI QUÁT KIẾN TRÚC VÀ CẤU TẠO ĐẶC TRƯNG
CỦA CÁC ĐÁ MAGMA XÂM NHẬP KHU VỰC THỪA THIÊN HUẾ
Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Thị Thuỷ
Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế

TÓM TẮT
Các thành tạo đá magma xâm nhập khu vực Thừa Thiên Huế phong phú và đa dạng về
thành phần thạch học, từ siêu mafic cho đến axit, chúng phân bố thành từng khu vực riêng biệt
với tổng diện tích khoảng 400 km2, bao gồm các phức hệ Núi Ngọc, Điệng Bông, Đại Lộc, Quế
Sơn, Chà Vằn, Hải Vân và Bà Nà. Các thành tạo magma xâm nhập này còn đa dạng về đặc
điểm kiến trúc như: kiến trúc granit, khảm, ophit, gabro, nổi ban nền fenzit, pegmatit… Còn cấu
tạo chủ yếu là cấu tạo khối, ngồi ra cịn có cấu tạo dịng chảy, á định hướng, vành hoa…
Chính vì vậy, bài báo giới thiệu những dạng kiến trúc và cấu tạo đặc trưng của các thành tạo
magma xâm nhập này nhằm phục vụ cho việc mô tả, nhận biết và tra cứu chúng.

1. Mở đầu
Thạch học nói chung, thạch học các đá magma nói riêng là mơn học nghiên cứu
các loại đá dựa vào các đặc điểm về thế nằm, nguồn gốc thành tạo, thành phần hóa học,
thành phần khống vật, đặc điểm về kiến trúc và cấu tạo của chúng. Việc nhận biết cũng
như phân loại các đá magma phải dựa vào thành phần hoá học, thành phần khoáng vật
kết hợp với kiến trúc-cấu tạo của đá. Tuy nhiên, việc phân tích thành phần hố học là
việc làm rất khó và tốn rất nhiều kinh phí. Trong khi đó, việc nhận biết các đá dựa vào
thành phần khoáng vật kết hợp với kiến trúc - cấu tạo có trong đá lại là phương pháp
đơn giản, dễ tiến hành, và đồng thời cũng là cơ sở cho việc định danh đá mà hiện nay
hiệp hội địa chất quốc tế sử dụng.
Các thành tạo đá magma xâm nhập khu vực Thừa Thiên Huế rất phong phú và
đa dạng về thành phần thạch học từ axit cho đến siêu mafic, chiếm tổng diện tích
khoảng 400 km2, bao gồm các phức hệ Núi Ngọc, Điệng Bông, Đại Lộc, Quế Sơn, Chà
Vằn, Hải Vân, Bà Nà và các thành tạo đá mạch khác. Các thành tạo này phân bố rải rác


trên khu vực nghiên cứu với diện lộ khác nhau và có các kiểu kiến trúc và cấu tạo đặc
trưng của đá magma.

113


2. Đặc điểm thạch học của các phức hệ đá magma xâm nhập khu vực Thừa Thiên
Huế
2.1. Phức hệ Núi Ngọc (Gb PZ1 nn)
Phức hệ Núi Ngọc do Nguyễn Đức Thắng và nnk (1992) xác lập để mô tả các đá
gabro, gabrodiabas bị lục hóa có liên quan chặt chẽ với các đá metabasaalt hệ tầng Núi
Vú, phân bố rộng rãi ở Đức Phú, Sông Tranh, Núi Ngọc, Đaksa thuộc địa phận tỉnh
Quảng Nam. Trong phạm vi nghiên cứu, các thành tạo này gồm các thể nhỏ đá gabro,
gabrodiabas, diabas lộ ra ở khu vực A Pey, A Dang, Nhâm thuộc đới A Vương ở phía
Tây Nam khu vực Thừa Thiên Huế. Các thể xâm nhập này đều có dạng thấu kính, với
chiều rộng khoảng 2 m đến hơn 100 m, chúng có dạng kéo dài theo phương Tây BắcĐơng Nam khoảng 100-200 m, trùng với phương cấu trúc của đá vây quanh và có quan
hệ chặt chẽ về nguồn gốc với các đá metabasalt thuộc hệ tầng Núi Vú [2], [5].
2.2. Phức hệ Điệng Bông (G PZ1 đb)
Thành tạo magma phức hệ Điệng Bông trong khu vực nghiên cứu chỉ phân bố
trên đới A Vương, là phần nối tiếp thân xâm nhập kéo dài theo phương Tây Bắc- Đông
Nam, xuất hiện trong các trầm tích phun trào bị biến chất hệ tầng Núi Vú ở khu vực A
Lưới (hình 1). Đặc trưng cho phức hệ là tập hợp các thể xâm nhập nhỏ kéo dài theo
phương cấu trúc Tây Bắc- Đông Nam, chiều rộng 1 – 2 m đến 20 m, đôi khi đến 200 m,
chiều dài quan sát được từ 100 – 200 m đến hơn 1 km. Các đá của phức hệ này xuyên khá
chỉnh hợp với các trầm tích phun trào hệ tầng Núi Vú tạo nên đới biến đổi hẹp ở ranh giới
tiếp xúc [2].
2.3. Phức hệ Đại Lộc (G/aD1 đl)
Phức hệ Đại Lộc do Nguyễn Văn Trang và nnk (1985) xác lập, chúng phân bố ở
phía nam đứt gãy Đakrong – A Lưới, kéo dài không đều theo phương Tây Bắc - Đông
Nam, trùng với phương cấu trúc của đới A Vương, chiều rộng khối thay đổi từ 2 – 3 km,

kéo dài khoảng 15 km. Các đá xuyên cắt khá chỉnh hợp lên các trầm tích lục nguyên hệ
tầng A Vương, đới biến chất tiếp xúc rộng vài trăm mét, có khi hàng kilomet và có tính
phân đới.
Cấu thành nên khối đá này gồm có pha 1 là đá granit biotit dạng gneis hạt vừa
đến lớn, granit–biotit hạt nhỏ, granit biotit có muscovit bị cà ép có dạng dải, tonalit và
pha đá mạch (pha 2) gồm đá pegmatit và granit aplit [2], [5], [6].
2.4. Phức hệ Quế Sơn (Di–GDi–G PZ3 bg-qs)
Phức hệ Quế Sơn do Nguyễn Văn Trang và nnk (1985) xác lập khi đo vẽ bản đồ
địa chất và tìm kiếm khống sản tỷ lệ 1:200.000 nhóm tờ Huế - Quảng Ngãi. Theo
Phạm Huy Thông và nnk (1997) (Bản đồ địa chất và tìm kiếm khống sản tỷ lệ 1:50.000
nhóm tờ Huế) ở khu vực Thừa Thiên Huế phức hệ này có các khối Ca Puy, Khe Điền,
114


khối La Sam, Khe Thai… Chúng gồm 3 pha xâm nhập và pha đá mạch với thành phần
thay đổi từ diorit thạch anh (pha 1), granodiorit (pha 2), granit (pha 3) đến các đai mạch
aplit (pha đá mạch).
Các thành tạo này phân bố ở tây nam thành phố Huế, là phần kéo dài lên phía
bắc của động Cù Mơng ở Nam Đơng. Khối có dạng kéo dài theo phương bắc – nam dọc
đứt gãy Khe Điền. Chiều rộng khoảng 4 – 6 km, chiều dài khoảng 15 km. Khối Khe
Điền được cấu thành từ diorit hocblend – biotit (pha 1), granodiorit (pha 2) và granit
biotit, granit biotit có hocblend (pha 3)…[2], [5], [6].
2.5. Phức hệ Chà Vằn (Gb/aT3 cv)
Phức hệ Chà Vằn phân bố thành một vòng cung bao quanh khối granit Bạch Mã
thuộc phức hệ Hải Vân, ngoài ra chúng cịn lộ một vài nơi khác với diện tích nhỏ như ở
Lộc Điền, dọc sông Tả Trạch và bắc Nam Đơng (khu vực xã Hường Hữu). Trong đó
khối Chà Vằn (Phú Lộc) được xem là khối chuẩn của phức hệ. Tại mỏ Lộc Điền (Phú
Lộc) thường gặp các tàng lăn gabro pyroxenit bị phủ bởi các thành tạo cuội, cát sét, các
sản phẩm phong hóa… Dưới lớp phủ là đá gốc màu xanh đen đến đen tuyền, cấu tạo
khối rắn chắc, hạt lớn.

2.6. Phức hệ Hải Vân (G/aT3 hv)
Các thành tạo đá magma xâm nhập phức hệ Hải Vân trong khu vực nghiên cứu
xuất hiện ở các khối Sông Trăng, Tion, Bình Điền và khu vực ven biển Phú Lộc, trong
đó khối ở khu vực Phú Lộc là đặc trưng nhất, với tổng diện tích khoảng 120 km2. Cấu
thành nên phức hệ có pha xâm nhập chính bao gồm đá granit biotit, granit hai mica,
granodiorit và pha đá mạch aplit sáng màu hạt nhỏ [5].
2.7. Phức hệ Bà Nà (G/K2-E bn)
Trong phạm vi khu vực nghiên cứu, phức hệ Bà Nà xuất hiện ở các khối Bến
Tuần, Sông Bồ, Corperlai và một vài khối nhỏ ở khu vực Sông Trăng. Đặc trưng nhất
cho phức hệ là khối Bến Tuần nó nằm ở bờ trái sơng Hương, khu vực gần ngã ba sơng
Tả Trạch – Hữu Trạch với diện tích khoảng 17 km2. Các khối đều có dạng đẳng thước,
kích thước nhỏ hơn 1 km2 đến 25 – 30 km2. Phức hệ bao gồm một pha xâm nhập và một
pha đá mạch. Pha xâm nhập gồm chủ yếu là đá granit biotit, granit biotit có muscovit,
granit hai mica, granodiorit, tonalit. Pha đá mạch chủ yếu là các đá mạch aplit hạt nhỏ
sáng màu, pegmatit thạch anh turmalin… [2],[5].
3. Đặc điểm kiến trúc và cấu tạo đặc trưng của các đá magma khu vực Thừa Thiên
Huế
3.1. Khái niệm về kiến trúc - cấu tạo của đá magma
3.1.1. Kiến trúc
Kiến trúc là hình dáng hoặc bức tranh của đá được tạo nên bởi hình dạng, kích
115


thước và mối quan hệ của các hợp phần và đơi khi cả do thành phần các khống vật tạo
đá.
3.1.2. Cấu tạo:
Cấu tạo là thuật ngữ phản ánh đặc điểm thể hiện sự sắp xếp và phân bố của các
bộ phận hợp thành đá trong không gian và mối quan hệ giữa chúng, nó đặc trưng cho
mức độ đồng nhất của đá.
3.2. Một số kiến trúc và cấu tạo phổ biến của các đá magma

3.2.1. Các dạng kiến trúc phổ biến của đá magma
Kiến trúc toàn tinh: là kiến trúc được hình thành khi dung thể magma kết tinh
tạo đá gồm tồn những hợp phần kết tinh và khơng chứa thuỷ tinh.
Kiến trúc thủy tinh hay toàn thuỷ tinh: là kiến trúc trong đó gồm tồn thuỷ tinh.
Kiến trúc nửa thủy tinh hay nửa kết tinh: là kiến trúc khi trong đá có cả những
phần kết tinh và những hợp phần khơng kết tinh.
Kiến trúc hạt tồn tự hình: là kiến trúc mà trong đó các hợp phần tạo đá (khống
vật tạo đá) có dạng hạt tự hình (các hạt khống vật có hình dạng rỏ ràng theo mọi hướng
tạo nên hình tinh thể). Loại kiến trúc này đặc trưng cho các đá đơn khoáng và các
khoáng vật kết tinh đồng thời.
Kiến trúc hạt nửa tự hình: là kiến trúc mà trong đó các hợp phần tạo đá kết tinh
dạng hạt nửa tự hình (các hạt khống vật có một nửa hình dạng khơng rỏ ràng cịn một
nửa kết tinh rỏ ràng). Đây là kiến trúc đặc trưng cho đá granit với dạng kiến trúc granit,
kiến trúc khảm, kiến trúc ofit,...
Kiến trúc khảm: là kiến trúc hạt nửa tự hình, bên trong các hạt khoáng vật
fenspat chứa các lăng trụ nhỏ plagiocla hoặc các hạt nhỏ thạch anh, biotit.
Kiến trúc ofit: là kiến trúc trong đó bao gồm chủ yếu các tinh thể plagiocla hình
tấm dài tự hình nằm chéo nhau theo dạng tam giác, ở giữa khoảng trống được lấp đầy
bởi ít hạt pyroxen tha hình.
Kiến trúc hạt tha hình: là kiến trúc mà trong đó các hợp phần tạo đá có dạng méo
mó theo mọi hướng. Đặc trưng cho các đá aplit với kiến trúc aplit, gabro.
Kiến trúc aplit: là kiến trúc mà trong đó đá gồm những hạt đẳng thước của
fenspat, cịn thạch anh có dạng hạt tha hình.
Kiến trúc gabro: là kiến trúc của đá mà trong đó gồm những hạt plagiocla và các
hạt khống vật màu có mức độ tự hình như nhau và đều.
Kiến trúc pegmatit: là kiến trúc mà trong đó các đơn tinh thể lớn fenspat và
thạch anh tạo thành các tinh khảm đặc trưng cho kiến trúc pegmatit, các tinh khảm.
116



Kiến trúc nổi ban: là kiến trúc được đặc trưng với những tinh thể lớn (ban tinh)
nổi trên nền những tinh thể nhỏ hơn, hoặc nổi trên nền vi tinh, nền thuỷ tinh.
Kiến trúc cà nát: là kiến trúc của các đá granit do bị nén ép, cà nát dưới tác dụng của
các hoạt động nội sinh tạo nên. Các hạt khống vật thường có hình dạng méo mó, sắc cạnh.
Kiến trúc xi măng: là kiến trúc được hình thành do sự dập vở, nén ép các hạt
khoáng vật. Dọc theo ranh giới các hạt khoáng vật được lấp đầy bởi tập hợp hạt mịn
khác khơng có hình dạng rỏ ràng.
Kiến trúc mạng lưới: là kiến trúc được hình thành chủ yếu trong các đá siêu
mafic do biến đổi thứ sinh tạo nên. Các hạt khoáng vật của olivin và pyroxen bị
secpentin hố hoặc clorit hố từ ngồi vào trong, dọc theo các khe nứt, hướng cát khai
của các hạt khoáng vật.
3.2.2. Các dạng cấu tạo phổ biến của đá magma
Cấu tạo đồng nhất (cấu tạo khối): là cấu tạo mà các hợp phần tạo đá sắp xếp một
cách lộn xộn và phân bố đều theo mọi hướng trong toàn bộ khối đá và có tính đồng nhất
theo mọi phương.
Đây là cấu tạo phổ biến nhất trong đá magma như gabro, diorit, granit...
Cấu tạo cầu: là cấu tạo mà các hợp phần tạo đá sắp xếp theo những lớp đồng tâm
và có nhiều khống vật khác sắp xếp dạng toả tia. Đặc trưng cho loại cấu tạo này là do
sự di chuyển của các hợp phần bão hoà hoặc do các bao thể tác dụng với magma tạo nên
các riềm đồng tâm như cấu tạo cầu trong đá gabro.
Cấu tạo định hướng: là cấu tạo được hình thành do lực tác dụng bên ngồi tác
dụng tạo nên. Trong đó các hợp phần tạo đá (hay các khoáng vật) sắp xếp theo những
mặt hoặc các đường song song theo một phương.
Cấu tạo dải (dạng dòng chảy): là dạng cấu tạo mà các khoáng vật sắp xếp theo
phương di chuyển của magma tạo ra các dải sẫm màu xen song song dải sáng màu.
Ngồi ra, dạng cấu tạo này cịn được hình thành do sự nhấn chìm các khối đá
xuống sâu, một phần khống vật khơng bền vững ở điều kiện nhiệt động mới bị nóng
chảy tạo nên các dải sáng màu, sẫm màu xen kẽ nhau. Dạng cấu tạo này được đặc trưng
cho đá magma bị biến chất tướng gneis.
Cấu tạo bọt: là cấu tạo được đặc trưng cho đá magma phun trào do khi dung

nham đi lên bên trong chứa các bọt khí và hơi nước bị dung thể bao lấy, sau đó hơi nước
hay khí mất đi tạo các lổ hổng trong đá.
3.3. Mô tả những kiến trúc và cấu tạo đăc trưng của các đá magma xâm
nhập khu vực Thừa Thiên Huế
Trong phạm vi khu vực nghiên cứu, chúng tôi đã tiến hành lấy mẫu cho mỗi
117


phức hệ tương ứng với các loại đá thuộc các pha xâm nhập [1]. Mỗi phức hệ được tiến
hành gia cơng và phân tích 5-6 mẫu thạch học, từ đó chúng tôi rút ra được các kiến trúc
và cấu tạo đặc trưng cho các loại đá thuộc các phức hệ sau:
3.3.1. Đá Granit Biotit hạt vừa
Ký hiệu: ĐL1
Phức hệ: Đại Lộc, Bình Điền, Thừa Thiên Huế
Thành phần khống vật:
Đá chủ yếu gồm các khoáng vật sáng màu như thạch anh (Qtz), orthocla (Ort),
plagiocla (Pl) và ít vảy nhỏ biotit (Bt).
Cấu tạo: Khối (hình 1a)
Kiến trúc: Kiến trúc hạt nửa tự hình, đơi nơi có kiến trúc khảm (hình 1b).

a)Mẫu cục, đá có cấu tạo khối

b)Ảnh lát mỏng chụp dưới nicol (+), đá có
kiến trúc hạt nửa tự hình, đơi nơi có kiến
trúc khảm.Phóng đại 50 lần.

Hình 1. Đá granit biotit hạt vừa phức hệ Đại Lộc.

3.3.2. Đá Granit hai mica
Ký hiệu: ĐL2

Phức hệ: Đại Lộc, Bình Điền, Thừa Thiên Huế
Thành phần khoáng vật:
Đá bao gồm chủ yếu là khoáng vật thạch anh (Qtz), orthocla (Ort), plagiocla (Pl),
mica (Bt và Mus) và ít khống vật quặng (Q).
Cấu tạo: Khối
Kiến trúc: Kiến trúc hạt nửa tự hình, đơi nơi có kiến trúc khảm, vi chữ cổ (hình
2b).
118


(a)

(b)

Hình 2. Ảnh lát mỏng của đá granit 2 mica phức hệ Đại Lộc.
Đá có kiến trúc hạt nửa tự hình, đơi nơi có kiến trúc khảm, vi chữ cổ.
a,b) ảnh chụp dưới nicol (+), độ phóng đại 50.

3.3.3. Đá Pegmatit chứa Turmalin
Ký hiệu: ĐL4
Phức hệ: Đại Lộc, Bình Điền, Thừa Thiên Huế
Thành phần khoáng vật:
Thành phần chủ yếu của đá là orthocla (Ort), thạch anh (Qtz), plagiocla (Pl) và
turmalin (Tur).
Cấu tạo: Khối
Kiến trúc: Kiến trúc hạt thô không định hướng (hình 3).

(b)

(a)


Hình 3. Ảnh lát mỏng đá Pegmatit phức hệ Đại Lộc. Đá có kiến trúc hạt thơ khơng định hướng
a,b) ảnh lát mỏng chụp dưới nicol (+), độ phóng đại 50.
119


3.3.4. Đá Granit bị Milonit hóa
Ký hiệu: ĐL6
Phức hệ: Đại Lộc, Bình Điền, Thừa Thiên Huế
Thành phần khống vật:
Đá có thành chủ yếu là thạch anh (Qtz) dạng hạt, kích thước hạt khơng đều, có
hạt kích thước lớn đóng vai trò như những mắt bao bọc bởi tập hợp hạt nhỏ hơn. Thạch
anh sắp xếp định hướng theo một phương bao quanh là các vảy nhỏ của biotit.
Cấu tạo: Định hướng (hình 4a).
Kiến trúc: Đá có kiến trúc milonit (nát nhừ) (hình 4b).

(a) mẫu cục có cấu tạo định hướng

(b) ảnh lát mỏng chụp dưới nicol (+), độ
phóng đại 50, đá có kiến trúc milonit (nát nhừ)

Hình 4. Ảnh đá granit bị milonit hóa phức hệ Đại Lộc.

3.3.5. Đá Granodiorit chứa thạch anh
Ký hiệu: QS3
Phức hệ: Quế Sơn, Bình Điền, Thừa Thiên Huế.
Thành phần khống vật:
Đá có thành phần chủ yếu là plagiocla (Pl), orthocla (Ort), thạch anh (Qtz),
hocblend (Hbl), biotit (Bt) và khống vật quặng (Q).
Cấu tạo: Đá có cấu tạo khối

Kiến trúc: Đá có kiến trúc porphyr – khảm (hình 5).

120


(a) mẫu cục có cấu tạo định hướng

(b) ảnh lát mỏng chụp dưới nicol (+), độ
phóng đại 50, đá có kiến trúc milonit (nát nhừ)

Hình 5. Ảnh lát mỏng đá granodiorit chứa thạch anh phức hệ Quế Sơn.
a,b) ảnh chụp dưới nicol (+), độ phóng đại 50. Đá có kiến trúc porphyr, khảm

3.3.6. Đá Granit Biotit hạt thô
Ký hiệu: HV1
Phức hệ: Hải Vân, Phú Lộc, Thừa Thiên Huế
Thành phần khoáng vật:
Đá có thành phần các khống vật sáng màu tương đối đều nhau bao gồm thạch
anh (Qtz), Orthocla (Ort), plagiocla (Pl) và biotit (Bt).
Cấu tạo: Đá có cấu tạo khối.
Kiến trúc: Đá có kiến trúc hạt nửa tự hình-khảm (hình 6a), granophyr (hình 6b).

Hình 6. Ảnh lát mỏng đá granit biotit hạt thô phức hệ Hải Vân.
a,b) ảnh chụp dưới nicol (+), độ phóng đại 50. Đá có kiến trúc hạt nửa tự hình - khảm,
granophyr.
121


3.3.7. Đá granit biotit chứa turmalin
Ký hiệu: HV4

Phức hệ: Hải Vân, Phú Lộc, Thừa Thiên Huế
Thành phần khoáng vật:
Đá gồm khoáng vật thạch anh (Qtz), orthocla (Ort), plagiocla (Pl), turmalin
(Tur) và ít vảy biotit (Bt).
Cấu tạo: Khối
Kiến trúc: Đá có kiến trúc hạt nửa tự hình (hình 7a), xi măng (hình 7b).

(b)

(a)

Hình 7. Ảnh lát mỏng đá granit biotit chứa tuamalin phức hệ Hải Vân.
Đá có kiến trúc hạt nửa tự hình, xi măng. a,b) ảnh chụp dưới nicol (+), độ phóng đại 50.

3.3.8. Đá Granit hạt nhỏ
Ký hiệu: BN5
Phức hệ: Bà Nà, Bến Tuần, Thừa Thiên Huế.
Thành phần khoáng vật:
Đá có thành phần chủ yếu là thạch anh, orthocla, plagiocla và ít vảy biotit. Các
hạt khống vật có dạng hạt tương đối đẳng thước, đá bị pelit hóa yếu.
Cấu tạo: Khối
Kiến trúc: Đá có kiến trúc hạt nửa tự hình (hình 8a), pegmatit (hình 8b).

122


(b)

(a)


Hình 8. Ảnh lát mỏng đá granit hạt nhỏ phức hệ Bà Nà.
Đá có kiến trúc hạt nửa tự hình, pegmatit. a,b) ảnh chụp dưới nicol (+), độ phóng đại 50.

3.3.9. Đá dacit porphyr
Ký hiệu: BN1
Phức hệ: Bà Nà, Bến Tuần, Thừa Thiên Huế.
Thành phần khoáng vật:
Đá gồm chủ yếu các ban tinh plagiocla (Pl) và hocblend (Hbl), trong đó
plagiocla tạo thành đám bị sericit hóa, biotit, epidot thay thế còn tàn dư. Nền vi tinh
gồm tập hợp vi hạt plagiocla, orthocla, thạch anh, đôi nơi bị hydrocit, epidot phát triển
thay thế.
Cấu tạo: Đá có cấu tạo dịng chảy (hình 9a).
Kiến trúc: Đá có kiến trúc nổi ban nền fenzit (hình 9b).

a) mẫu cục có cấu tạo dịng chảy

b) lát mỏng chụp dưới nicol (+), độ phóng đại
50, Đá có kiến trúc nổi ban nền fenzit.

Hình 9. Ảnh đá dacit porphyr phức hệ Bà Nà.
123


3.3.10. Đá gabro hocblend
Ký hiệu: NN1
Phức hệ: Núi Ngọc, A Lưới, Thừa Thiên Huế.
Thành phần khống vật:
Đá có thành phần chủ yếu là hocblend và plagiocla có hàm lượng tương đối như
nhau, ngồi ra cịn có các khống vật màu khác như pyroxen, olivin và các khoáng vật
quặng.

Cấu tạo: Khối
Kiến trúc: Đá có kiến trúc gabro, khảm (hình 10).

a) ảnh chụp dưới nicol(+)

b) ảnh chụp dưới nicol (-), độ phóng đại 50.

Hình 10. Ảnh lát mỏng của đá Gabro hocblend của phức hệ Núi Ngọc, A Lưới, Thừa Thiên Huế.
Đá có kiến trúc gabro - khảm.

3.3.11. Đá Gabro Norit
Ký hiệu: NN3
Phức hệ: Núi Ngọc, A Lưới, Thừa Thiên Huế.
Thành phần khống vật:
Đá có thành phần chủ yếu là plagiocla, hocblend và ít khống vật màu của olivin,
pyroxen và khống vật quặng.
Cấu tạo: Đá có cấu tạo khối, vành hoa (hình 11a).
Kiến trúc: Đá có kiến trúc hạt thơ nửa tự hình - khảm (hình 11b).

124


a)mẫu cục có cấu tạo khối, vành hoa

b) ảnh lát mỏng chụp dưới nicol (+), độ
phóng đại 50, đá có kiến trúc hạt thơ nửa tự
hình, khảm.

Hình 11. Ảnh đá gabro norit của phức hệ Núi Ngọc.


4. Kết luận
Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu chúng tôi rút ra được một số kết luận sau:
1. Các thành tạo đá magma xâm nhập khu vực Thừa Thiên Huế rất phong phú và
đa dạng, thành phần từ siêu mafic cho đến axit. Các khối magma này phân bố rải khắp
trên toàn diện tích khu vực Thừa Thiên Huế với diện lộ khác nhau và có nhiều khối đặc
trưng cho phức hệ đó như phức hệ Hải Vân, phức hệ Chà Vằn…
2. Các thành tạo magma xâm nhập ở khu vực Thừa Thiên Huế đa dạng về kiến
trúc và cấu tạo như: kiến trúc hạt nửa tự hình - khảm, porphyr, nổi ban, granophyr,
gabro, ofit, granit, pegmatit… Cịn cấu tạo gồm có cấu tạo khối, cấu tạo định hướng, á
định hướng, vành hoa, bọt, dòng chảy… các dạng kiến trúc và cấu tạo này là dấu hiệu
cơ bản để nhận biết và phân loại các đá magma.
Bài báo này được thực hiện với sự hỗ trợ một phần kinh phí của đề tại NCKH và
CN của Bộ Giáo dục và Đào tạo năm 2008.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hồng Hoa Thám (chủ trì), Báo cáo tổng kết đề tài NCKH cấp Bộ: Thành lập bộ atlas
kiến trúc - cấu tạo các đá magma khu vực miền Trung (từ Huế đến Quảng Ngãi) phục
vụ đào tạo. Đại học Huế, 2010.
2. Phạm Huy Thông (chủ biên), Báo cáo địa chất và khống sản nhóm tờ Huế, tỷ lệ:
1/50.000, Tập II: Địa chất, magma, kiến tạo, vỏ phong hóa, địa mạo thủy văn. Cục địa
chất và Khoáng sản Hà Nội, Hà Nội, 1997.
125


3. Đào Đình Thục, Huỳnh Trung (đồng chủ biên), Địa chất Việt Nam, Tập II. Các thành
tạo magma. Tổng cục Mỏ và Địa chất xuất bản, Hà Nội, 1995.
4. Nguyễn Văn Trang (chủ biên), Bản đồ địa chất và khoáng sản Việt Nam, tỷ lệ
1/200.000. Loạt tờ Huế – Quảng Ngãi, kèm theo thuyết minh. Cục địa chất Việt Nam,
Hà Nội, 1989.
5. Huỳnh Trung và nnk, Các thành tạo xâm nhập granitoit khối Đại Lộc, Sa Huỳnh,Chu

Lai, ĐCKSVN, Tập I, Liên đoàn BĐĐC, Hà Nội (1979) 159–169.
6. Huỳnh Trung và nnk, Các thành tạo xâm nhập granitoit khối Bến Giằng–Quế Sơn,
ĐCKSVN, Tập I, Liên đoàn BĐĐC, Hà Nội (1979) 159–169.

GENERALIZING SPECIFIC STRUCTURES AND TEXTURES OF INTRUSIVE
MAGMA ROCKS IN THUA THIEN HUE AREA
Hoang Hoa Tham, Nguyen Thi Thuy
College of Sciences, Hue University

SUMMARY
Intrusuve magma complexes in Thua Thien Hue area are abundant ranging from ultramafic to acid in petrological composition and are exposed, distributing in secluded zones with a
total outcrop-area of about 400 km2. These complexes include the Nui Ngoc, Dieng Bong, Dai
Loc, Que Son, Cha Van, Hai Van and Ba Na complex. They also have varied specific textural
types such as: granito texture, cyclopean textuqưre, ophite texture… In structure, the rocks
mainly have structures that are blocky, flow or sub-directional… Therefore, this paper presents
some characteristic structures and textures of the magma complexes in order to be of advantage
in describing, identifying and in searching various rocks.

126



×