Tải bản đầy đủ (.pdf) (12 trang)

Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công trình hạ tầng các xã vùng khó khăn, dân tộc thiểu số - 2 ppt

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (124.76 KB, 12 trang )

Như vậy để đảm bảo gia tăng nguồn lực cho sản xuất, gia tăng quy mô đầu tư, một
mặt phải tăng cường sản xuất tư liệu sản xuất ở khu vực I, đồng thời phải sử dụng
tiết kiệm tư liệu sản xuất ở cả hai khu vực. Mặt khác phải tăng cường sản xuất tư
liệu tiêu dùng ở khu vực II, thực hành tiết kiệm tư liệu tiêu dùng ở cả hai khu vực.
Với phân tích như trên, chúng ta thấy rằng theo quan điểm của C.Mác, con đường
cơ bản và quan trọng về lâu dài để tái sản xuất mở rộng là phát triển sản xuất và
thực hành tiết kiệm cả ở trong sản xuất và tiêu dùng. Hay nói cách khác, nguồn lực
cho đầu tư tái sản xuất mở rộng chỉ có thể được đáp ứng do sự gia tăng sản xuất và
tích luỹ của nền kinh tế.
Quan điểm về bản chất của nguồn vốn đầu tư lại tiếp tục được các nhà kinh tế học
hiện đại chứng minh. Trong tác phẩm nổi tiếng “Lý thuyết tổng quan về việc làm,
lãi suất và tiền tệ” của mình, Jonh Maynard Keynes đã chứng minh được rằng:
Đầu tư chính bằng phần thu nhập mà không được chuyển vào tiêu dùng. Đồng thời
ông cũng chỉ ra rằng, tiết kiệm chính là phần dôi ra của thu nhập so với tiêu dùng.
Tức là:
Thu nhập = Tiêu dùng + Đầu tư
Tiết kiệm = Thu nhập – Tiêu dùng
Như vậy:
Đầu tư = Tiết kiệm
(I) (S)
Theo Keynes, sự cân bằng giữa tiết kiệm và đầu tư xuất phát từ tính song phương
của các giao dịch giữa một bên là nhà sản xuất và bên kia là người tiêu dùng. Thu
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
nhập chính là mức chênh lệch giữa doanh thu từ bán hàng hoá hoặc cung ứng dịch
vụ và tổng chi phí. Nhưng toàn bộ sản phẩm sản xuất ra phải được bán cho người
tiêu dùng hoặc cho các nhà sản xuất khác. Mặt khác đầu tư hiện hành chính bằng
phần tăng thêm năng lực sản xuất mới trong kỳ. Vì vậy, xét về tổng thể phần dôi ra
của thu nhập so với tiêu dùng mà người ta gọi là tiết kiệm không thể khác vơí
phần gia tăng năng lực sản xuất mà người ta gọi là đầu tư.
Tuy nhiên, điều kiện cân bằng trên chỉ đạt được trong nền kinh tế đóng. Trong đó,
phần tiết kiệm của nền kinh tế bao gồm tiết kiệm của khu vực tư nhân và tiết kiệm


của chính phủ. Điểm cần lưu ý là tiết kiệm và đầu tư xem xét trên góc độ toàn bộ
nền kinh tế không nhất thiết được tiến hành bởi cùng một cá nhân hay doanh
nghiệp nào. Có thể có cá nhân, doanh nghiệp tại một thời điểm nào đó có tích luỹ
nhưng không trực tiếp tham gia đầu tư. Trong khi đó, có một số cá nhân, doanh
nghiệp lại thực hiện đầu tư khi chưa hoặc tích luỹ chưa đầy đủ. Khi đó thị trường
vốn sẽ tham gia giải quyết vấn đề bằng việc điều tiết nguồn vốn từ nguồn dư thừa
hoặc tạm thời dư thừa sang cho người có nhu cầu sử dụng. Ví dụ, nhà đầu tư có
thể phát hành cổ phiếu, trái phiếu (trên cơ sở một số điều kiện nhất định, theo quy
trình nhất định) để huy động vốn thực hiện một dự án nào đó từ các doanh nghiệp
và các hộ gia đình - người có vốn dư thừa.
Trong nền kinh tế mở, đẳng thức đầu tư bằng tiết kiệm của nền kinh tế không phải
bao giờ cũng được thiết lập. Phần tích luỹ của nền kinh tế có thể lớn hơn nhu cầu
đầu tư tại nước sở tại, khi đó vốn có thể được chuyển sang cho nước khác để thực
hiện đầu tư. Ngược lại, vốn tích luỹ của nền kinh tế có thể nhỏ hơn nhu cầu đầu tư,
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
khi đó nền kinh tế phải huy động tiết kiệm từ nước ngoài. Trong trường hợp này,
mức chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư được thể hiện trên tài khoản vãng lai.
CA = S – I
Trong đó: CA là tài khoản vãng lai (current account)
Như vậy, trong nền kinh tế mở nếu như nhu cầu đầu tư lớn hơn tích luỹ nội bộ nền
kinh tế và tài khoản vãng lai bị thâm hụt thì có thể huy động vốn đầu tư từ nước
ngoài. Khi đó đầu tư nước ngoài hoặc vay nợ có thể trở thành một trong những
nguồn vốn đầu tư quan trọng của nền kinh tế. Nếu tích luỹ của nền kinh tế lớn hơn
nhu cầu đầu tư trong nước trong điều kiện thặng dư tài khoản vãng lai thì quốc gia
đó có thể đầu tư vốn ra nước ngoài hoặc cho nước ngoài vay vốn nhằm nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế.
1.4.Đầu tư công trình hạ tầng
1.4.1.Khái niệm công trình hạ tầng
Công trình hạ tầng là các công trình được thiết kế và xây dựng tại một địa điểm
nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người như đi lại ,học hành chữa

bệnh phcj vụ sản xuất và dân sinh …
Đối với các công trình hạ tầng tthuộc các xã đặc biệt khó khăn ,vùng sâu vùng xa
và đồng bằng thiểu số …gọi chung công trình hạ tầng thuộc chương trình 135.Chủ
yếu là công trình hạ tầng có quy mô nhỏ với mức vốn đầu tư từ 1 tỷ đồng trở
xuống được thực hiện theo cơ chế đặc biệt để phù hợp với khả năng thực tế của
cán bộ và đồng bằng các dân tộc tại địa phương thuộc chương trình 135 .Đó là
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
những công trình hạ tầng thiết yếu phịc vụ cho sản xuất dân sinh góp phần xoá đói
giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới.
Vai trò của việc đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng
1.4.2.Đầu tư xây dựng công trình hạ tầng có những vai trò chủ yếu sau
Thứ nhất ,nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào ,nhân dân .Thực tế
động bào ở nông thôn nói chung và các xã đặc biệt khó khăn nói riêng thì điều
kiện về cơ sở hạ tầng là rất khó khăn ,thường là khong có hoặc có nhưng rất đơn
sơ,xuống cấp vì thế khi chương trình được thực hiện thì cơ sở vật chất được cải
thiện phần nào .Mặt khác nhân dân ở các vùng này nói chung thường suốt ngày
làm quần quật thường không có các điều kiện để tham gia các hoạt động văn hoá
vì thế khi chương trình được đưa vào cuộc sống thì sẽ cải thiện được vấn đề
này.Mặt khác nó còn giúp các vùng khó khăn thoát khỏi tình trạng nghèo nàn lạc
hậuhoà nhập vào sự phát triển kinh tế chung của đất nước.
Góp phần tạo điều kiện xoá đói giảm nghèo với mục tiêu cụ thể là đến năm 2000
không còn hộ đói kinh niên mỗi năm giảm 4-5% hộ nghèo .Đến năm 2005 giảm tỷ
lệ hộ nghèo ở các xã đặc biệt khó khăn xuống còn 25%.Các công trình hạ tầng
phục vụ nhân dân,giúp trẻ em có trường để học tập,nâng cao trình độ văn hoá của
nhân dân,từ quá trình đó đào tạo ra nguồn nhân lực cho đất nước,tạo điều kiện cho
nhân dân được tiếp thu với các phương thức sản xuất mới ,kiến thức khoa học văn
hoá xã hội,chủ động vận dụng các kiến thức trên ghế nhà trường vào cuộc sống.
Các công trình hạ tầng như giao thông giúp cho giao thông trên các vùng khó khăn
được cải thiện đáng kể.Góp phần tạo ra sự giao lưu kinh tế giữa các vùng,các
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -

miền,các địa phương từ đó tạo ra các mối quan hệ kinh tế giữa các vùng góp phần
giúp kinh tế phát triển đi lên.Thường thì ở các xã đặc biệt khó khăn thì phát triển
kinh tế chủ yếu là nông nghiệp và lâm nghiệp nên khi giao thông thuận lợi sẽ góp
phần làm phong phú thêm các hoạt động khác như thương nghiệp trong đó có sự
buôn bán các sản phẩm nông nghiệp .Điều đó làm tăng thu nhập cho đồng bào
nhân dân các vùng này.
Các công trình hạ tầng như điện nó mang ánh sáng văn minh về các thôn bản .Có
điện sẽ rất lợi ích cho các hoạt động sản xuất cũng như tổ chức các hoạt động về
văn hoá …Điện giúp cho các hoạt động sản xuất được tiến hành dễ dàng hơnchẳng
hạn như khi áp dụng cơ khí hoá trong sản xuất trong nông nghiệp thì rất cần các
nguồn năng lượng như điện.Các công trình như bệnh viện thì giúp bảo vệ sức khoẻ
của nhân dân,điều trị khám chữa bệnh cho nhân dân,giúp tăng lực sản xuất cho
nhân dân….
1.5.Giới thiệu tổng quát chương trình 135
1.5.1.Sự cân thiết ra đời chương trình 135
Thực hiện công tác đổi mới dô Đảng cộng sản Việt Nam đè xướng và lãnh đạo
,với mục tiêu “Dân giàu nước mạnh ,xã hội công bằng dân chủ văn minh “,hơn 10
năm (1986_1998)chính phủ đã ban hành nhiều chính sách quan trọng nhằm đổi
mới công tác quản lý nền kinh tế ,giải phóng lực lượng sản xuất ,khơi dậy và phát
huy tiềm tàng của các thành phần kinh tế ,của mọi tầng lớp dân cư trong xã hội
nên đã đạt được nhiều thành tựu to lớn .Kinh tế tăng trưởng khá ,đời sống nhân
dân được nâng cao ,công tác quốc phòng an ninh ,chính trị và trật tự an toàn xã hội
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
được đảm bảo .Tuy nhiên quá trình chuyển đổi nền kinh tế sang vận hành theo cơ
chế thị trường đ• tạo ra sự phân hoá giàu nghèo càng gay gắt giữa các vùng các
miền ,khu vực giữa các tầng lớp dân cư trong x• hội .Để khắc phục tình trạng này
,Đảng và nhà nước ta chủ trương thực hiên chiến lược phát triển ,tăng trưởng đi
đôi với xóa đói giảm nghèo ,thực hiện công bằng x• hội ;ưu tiên phát triển các
vùng động lực ,các ngành kinh tế chủ chốt ,tạo nguồn thu cho ngân sách ,có tích
luỷ để có điều kiện vật chất hỗ trợ chô vùng khó khăn .Yêu cầu của quá trình đổi

mới là phải có những chính sách hợp lý ,đáp ứng được mục tiêu phát triển của cả
nước ,đồng thời thực hiện công bằng xã hội phải có những chính sách đặc thù
,phải có nguồn lực hỗ trợ cho các địa phương nghèo cùng phát triển .Để thực hiện
chương trình nàythủ tướng chính phủ đã có quyết định phê duyệt chương trình
mục tiêu chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo.Đây là một chương
triình quan trọng của đất nước.

Xóa đói giảm nghèo là nhiệm vụ đã được xác đình trong nghị quyết Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ bảy và lần thứ tám,mục tiêu đề ra là đến hết năm 2000 tỷ lệ hộ
đói nghèo bình quân trong cả nước xuống còn 10% nhưng đến năm 1998 vẫn còn
17% .Nguyên nhân chủ yếu là do công tác xoá đói giảm nghèo thực hiện còn nhiều
hạn chế,nguồn vốn xoá đói giảm nghèo còn hạn hẹp,còn quá nhiều các xã đặc biệt
khó khăn vẫn còn khá nhiều,nhiều xã quá rộng có địa hình khá phức tạp ,dân cư
thưa thớt ,nhiều tập tục lạc hậu trong sản xuất và đời sống đã làm hạn chế khả
năng phát triển kinh tế của các vùng này.Nhưng một nguyên nhân sâu sắc nhất đó
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
là chưa có chương trình quốc gia và những chính sách đặc biệt hướng tới các vùng
này.Để giải quyết và đáp ứng đòi hỏi đó chính phủ đã ban hành quyết định
135/1998/QĐ-TTg ngày 31/7/1998 phê duyệt chương trình phát triển kinh tế –xã
hội các xã đặc biệt khó khăn(sau này gọi là chương trình 135).Chương trình 135 là
chương trình quốc gia được chính phủ ban hành với mụctiêu sử dụng các nguồn
vốn trong đó vốn ngân sách nhà nước là chủ yếu,bên cạnh đó còn tận dụng cũng
như huy động các nguồn vốn khác nhằm sử dụng tối đa các nguồn vốn cho công
tác xóa đói giảm nghèo .Chương trình bên cạnh hỗ trợ phát triển kinh tế còn có vai
trò xoá bỏ các tập tục lạc hậu trong đời sống hoạt động sản xuất kinh doanh cũng
như nâng cao trình độ văn hoá cho đồng bào ,giúp đồng bào các vùng này tiếp cận
với các phương thức sản xuất tiến bộ hơn,giúp đồng bào có điều kiện đẻ phát triển
tốt hơn.Từ khi có chương trình 135 đến nay nhiều khu vực đặc biệt khó khăn đã
được hỗ trợ phát triển sản xuất ,tạo chuyển biến khá căn bản trong tăng trưởng
kinh tế ,giảm nghèo và phát triển xã hội .Hoạt động chương trình phải được

hưởng ứng tích cực từ phía nhân dân cũng như phối hợp tích cực từ chính quyền
địa phương các cấp.Hoạt động của chương trình nhằm ra sự phát triển cân đối kinh
tế giữa các vùng ,các ngành,các địa phương.Thực tế đó đa bổ sung tương đối căn
bản lý luận về đổi mới cơ chế quản lý kinh tế phù hợp với yêu cầu phát triển kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.Các công trình hạ tầng 135 được tiến
hành công khai dân chủ được hội đồng nhân dân xã quyết định danh mục,quy mô
thứ tự ưu tiênđầu tư và khả năng huy động nguồn lực tại xã để xây dựng công
trình nên đa nâng cao được vai trò của người dân trong việc thực hiện dự án.Các
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
dự án sẽ được thiết kế theo phương pháp mới là trao quyền cho cấp xã và cộng
đồng tự quyết định.Theo phương châm “dân biết dân bàn dân làm dân kiểm tra”.
1.5.2.Cơ sở lý luận và phương pháp luận
* Quan điểm chỉ đạo
- Xuất phát từ mục tiêu tổng quát của chiến lược phát triển đất nước đã được
khẳng định trong các văn kiện Đại hội Đảng là đảm bảo phát triển hài hoà giữa
tăng trưởng với công bằng xã hội, từ đó hệ thống chính sách phát triển đã được
hoạch định trên những quan điểm đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và
công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển. Công
bằng xã hội phải thể hiện ở cẩ khâu phân phối hợp lý tư liệu sản xuất lẫn khâu
phân phối kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người đều có cơ hội phát
triển và sử dụng tốt năng lực của mình. Tạo điều kiện cho tất cả các vùng đều phát
triển trên cơ sở khai thác thế mạnh và tiềm năng cảu mỗi vùng để hình thành một
cơ cấu kinh tế hợp lý và liên kết giữa các vùng, tạo nên sự phát triển kinh tế, xã
hội mạnh mẽ của cả nước. Kết hợp phát triển có trọng điểm với phát triển toàn
diện các vùng lãnh thổ, giảm bớt sự chênh lệch quá xa về nhịp độ tăng trưởng
giữa các vùng, điều tiết một phần tích luỹ từ nền kinh tế để hỗ trợ cho vùng khó
khăn. Vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, khu căn cứ cách mạng
được xác định là địa bàn còn nhiều khó khăn nhất cần được hỗ trợ, nhằm tạo điều
kiện ban đầu để các vùng đó từng bước vươn lên, hoà nhập với cả nước cùng phát
triển.

Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
- Thực hiện công bằng xã hội được thể hiện trên mọi phương diện, trong đó việc
tạo cơ hội cho mọi tầng lớp dân cư thuộc mọi dân tộc có điều kiện tham gia vào
quá trình phát triển là hết sức cần thiết, thể hiện trên các mặt: được bình đẳng
trong việc đầu tư phát triển hạ tầng, hỗ trợ sản xuất,phát triển kinh tế, văn hoá,
giải quyết vấn đề x• hội, cải thiện cuộc sống của đồng bào các dân tộc…, được
trực tiếp đóng góp công sức, vật lực của mỗi người, mỗi gia đình, mỗi cộng đồng
thôn xóm cho xây dựng quên hương mình; được đào tạo nâng cao kiến thức sản
xuất, tổ chức cuộc sống, nâng cao năng lực mọi mặt cho cán bộ và người dân trong
vùng; giúp họ tham gia sản xuất hàng hoá để trao đổi với bên ngoài; được cung
cấp thông tin về thị trường, giá cả, định hướng cho hoạt động sản xuất kinh doanh;
được tiếp cận với các dịch vụ xã hội khác.
Vùng ĐBKK miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng, vùng đồng bào
dân tộc thiểu số có vai trò quan trọng trong lịch sử đấu tranh cách mạng của dân
tộc. Từ xa xưa, các cuộc khởi nghĩa chống giặc ngoại xâm đều lấy vùng sâu, vùng
xa làm căn cứ; trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, vùng này
tiếp tục được dùng làm căn cứ, làm an toàn khu, đồng bào các dân tộc trong vùng
đã hết lòng ủng hộ cách mạng, ủng hộ kháng chiến, góp phần vào thắng lợi chung
của dân tộc. Sau khi chiến tranh kết thúc, đất nước rơi vào khó khăn mới nên chưa
có điều kiện hỗ trợ cho các vùng này, nay cần được đền đáp lại một cách xứng
đáng. Vì vậy, đây là đối tượng và phạm vi đầu tư của Chương trình 135.
*. Mục tiêu phát triển của các vùng lãnh thổ
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Dựa trên cơ sở định hướng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước trong
các kỳ Đại hội Đảng, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định về quy hoạch, kế
hoạch dài hạn, kế hoạch 5 năm đối với các vùng đô thị, vùng kinh tế trọng điểm,
vùng công nghiệp và vùng nông nghiệp hàng hoá; nhìn chung các vùng trên có
nhiều điều kiện thuận lợi và có định hướng rõ ràng, vấn đề đặt ra là tạo điều kiện
thu hút nguồn lực để đảm bảo chất lượng và tốc độ phát triển. Riêng vùng miền
núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số là địa bàn có nhiều khó khăn, là vùng ít có cơ

hội thuận lợi, khó huy động nguồn lực nên cần được Nhà nước ưu tiên đầu tư, tạo
điều kiện hỗ trợ ban đầu, để:
- Trước mắt thực hiện chương trình XĐGN, việc làm, tạo thu nhập nâng cao đời
sống cho đồng bào các dân tộc trong vùng.
- Từng bước tăng khả năng khai thác các lợi thế và nguồn lực tại chỗ giải quyết
việc làm, tăng nguồn thu cho ngân sách.
- Tạo bước đi ban đầu để tăng tính hấp dẫn trong việc thu hút đầu tư.
Việc lựa chọn những đại bàn xung yếu, những lĩnh vực ưu tiên để hỗ trợ phát triển
là nhiệm vụ bức thiết có ý nghĩa quyết định đối với việc phát triển kinh tế - xã hội
khu vực này.
1. Sự hình thành các khu vực phát triển ở các xã miền núi, vùng dân tộc thiểu số
nước ta trước khi có chương trình 135
Sau hơn 10 năm thực hiện đường lối đổi mới (1986 - 1997), tình hình kinh tế - xã
hội miền núi và vùng dân tộc thiểu số ở nước ta đã đạt được những tiến bộ đáng
kể, đến cuối năm 1996 đã hình thành 3 khu vực phát triển với trình độ khác nhau:
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
- Khu vực I: gồm các khu trung tâm đô thị, các thị trấn, các khu công nghiệp: có
806 xã, phường; 1.068.845 hộ với 5.275.369 người, chiếm tỷ lệ 39,02% dân số của
các tỉnh miền núi và vùng dân tộc.
Nét nổi bật của khu vực này là kinh tế hàng hoá phát triển khá, là vùng động lực
phát triển chính của các tỉnh, huyện miền núi; GDP bình quân đầu người có địa
phương đạt cao hơn mức bình quân chung của cả nước. Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã
hội đã được xây dựng tương đối đồng bộ, bước đầu phục vụ tốt sản xuất, đời
sống đồng bào. Trình độ dân trí, đời sống văn hoá - xã hội cộng đồng khá tiến bộ.
- Khu vực II: là khu vực đệm giữa khu vực I (đô thị…) với khu vực III (vùng sâu,
vùng xa…); có 1.737 x•, phường; 1.516.005 hộ với 7.764.202 người, chiếm tỷ lệ
44,18% dân số của các tỉnh miền núi và vùng dân tộc.
Nhìn chung kinh tế khu vực này phát triển chậm, sản phẩm hàng hoá ít; GDP bình
quân đầu người chỉ bằng 70% mức bình quân chung cả nước; sản xuất nông lâm
nghiệp còn nhiều hạn chế, một bộ phận dân cư còn phát rừng làm rẫy, khả năng tái

du canh du cư và tái trồng cây thuốc phiện còn nhiều; đời sống kinh tế tuy đã được
cải thiện nhưng thiếu bền vững. Số hộ đói nghèo chiếm tỷ lệ cao (20-50%). Cơ sở
hạ tầng kinh tế - xã hội đã được xây dựng nhưng chưa đồng bộ hoặc còn tạm bợ,
chưa phục vụ tốt sản xuất, đời sống đồng bào. Mặt bằng dân trí còn thấp, đời sống
văn hoá -xã hội cộng đồng còn nhiều mặt hạn chế so với khu vực I.
- Khu vực III: gồm 1.557 xã vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng giáp biên. Vùng
căn cứ kháng chiến; có 799.034 hộ với 4.533.598 người, chiếm tỷ lệ 25,8% dân số
của các tỉnh miền núi và vùng dân tộc.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Đây là khu vực còn nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng kinh tế -xã hội rất yếu kém
(còn 672 xã chưa có đường ô tô đến trung tâm xa) - nhiều nơi thiếu đất canh tác
nông nghiệp, thiếu nước sinh hoạt nghiêm trọng. Sản xuất còn mang nặng tính tự
nhiên, tự cấp, tự túc, phát, đốt rừng làm rẫy, sống du canh du cư hoặc định cư
nhưng còn du canh… Số hộ đói nghèo chiếm trên 60%. GDP bình quân đầu người
chỉ bằng 31% mức bình quân chung cả nước. Trình độ dân trí rất thấp, số người
mù chữ, thất học chiếm trên 60%. Đời sống văn hoá - xã hội cộng đồng chậm cải
thiện, thiếu thông tin liên lạc, truyền thanh, truyền hình nhiều nơi chưa đến dân…
Tuy nhiên, khu vực này lại có vị trí rất quan trọng đối với quốc phòng, an ninh và
là vùng đầu nguồn của các con sông lớn nên có vai trò to lớn bảo vệ môi trường
sinh tái của cả nước.
Để tạo điều kiện cho các khu vực khai thác lợi thế của mình, đẩy nhanh nhịp độ
phát triển kinh tế - xã hội trong những năm tới, góp phần tích cực vào sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, cần xác định đúng cơ chế đầu tư và có
chính sách hỗ trợ phát triển phù hợp với điều kiện và trình độ của từng khu vực.
*. Cơ chế đầu tư đối với từng khu vực
- Đối với khu vực I: Cần tạo điều kiện cho khu vực này tiếp tục phát triển với nhịp
độ cao hơn hoặc bằng mức bình quân chung cả nước, phát huy vai trò vùng động
lực, thúc đẩy ở các vùng phụ cận phát triển, làm đầu mối giao lưu với các vùng
khác trong nước và với nước ngoài. Cơ chế đầu tư thích hợp với khu vực là tích
cực huy động nguồn lực từ cộng đồng, sử dụng vốn vay trong nước và nước ngoài

để phát triển là chính. Nhà nước hỗ trợ chủ yếu cho việc hoàn thiện và nâng cấp
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -

×