Tải bản đầy đủ (.pdf) (6 trang)

Bài giảng Điện học (Phần 6) doc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (152.42 KB, 6 trang )

Bài giảng Điện học
(Phần6)
1.6 Mô hình bánh bông lan rắc nho của nguyên tử
Dựa trên thí nghiệm của ông,Thomsonđề xuất mộtbức tranh của nguyêntử
trở nên nổi tiếng là mẫu bánhbônglan rắc nho.Trongnguyên tử trung hòa, l, có4
electronvới điện tích tổng cộng -4e, nằm trong một hìnhcẩu (“bánhbông lan”) có
điện tích+4e rải đềuqua nó. Người ta đã biết rằng các phản ứng hóa học không thể
biến đổi nguyên tố này thànhnguyêntố khác, nêntrongngữ cảnhcủa Thomson,
mỗiquả cầu bánh của nguyên tố có một bán kính,khối lượng, vàđiện tích dương
cố địnhvĩnhcửu, khác với quả cầubánh của nguyên tố khác. Tuy nhiên, các
electronkhôngphải là đặc điểm cố định củanguyên tử và có thể được nhận thêm
hoặc lấybớt để hình thành nên các iontích điện. Ví dụ,mặcdù ngày nay chúng ta
biết rằng nguyên tử trung hòacó bốn electronlà nguyên tố beryllium, nhưng các
nhà khoahọcthời đó không biết cóbao nhiêu electroncó trongnhững nguyên tử
trung hòakhác nhau.
l/ Mô hình bánh bông lanrắc nhocủa nguyên tử với bốn đơn vị điện tích,
ngày nay chúng ta biết đây là beryllium.
Mô hình nàyrõ ràng làkhác với mô hình mà bạn đã học ở trường phổ thông
hoặc quanền văn hóa cộngđồng củabạn, theo đó điện tíchdươngtập trungtại hạt
nhânnhỏ xíu nằm ở chính giữa nguyên tử. Một thayđổi không kém phần quan
trọng trong ý tưởng về nguyên tử là sự nhận thức rằng nguyên tử và nhữnghạt hạ
nguyêntử thành phần củanó xử sự hoàn toàn khácvới các vật có kích thước hàng
ngày. Chẳng hạn,chúngta sẽ thấy trongphầnsau rằngmột electroncó thể ở nhiều
hơnmột nơi tại một thờiđiểm.Mô hình bánh bông lanrắc nho là mộtphần của
truyền thống lâu dài cố gắng tạo ra mô hìnhcơ giới của các hiện tượng,và
Thomsoncùngnhững người đươngthời của ông chưabao giờ đặt vấn đề sự thích
đáng của việcxây dựngmột môhình nguyên tử như mộtcỗ máy với nhữngbộ
phận nhỏ bêntrong nó.Ngày nay,môhình cơ giới của nguyên tử vẫn được sử
dụng(ví dụ như bộ lắp ráp mô hình phân tử kiểu đồ chơi mà Watsonvà Crick đã
sử dụng để tìm hiểu cấu trúcxoắn kép củaDNA), nhưng các nhà khoahọc nhận
thấyrằng các đối tượng vật chất chỉ là sự trợ giúp choquá trìnhxử lí hình ảnh và


biểutượng của não nghĩ về các nguyên tử.
Mặcdù khôngcó bằngchứngthực nghiệm rõràng nào cho nhiều chi tiết của
mô hình bánh bông lanrắc nho,nhưng các nhà vật lí vẫntiến lên và bắtđầu nghiên
cứu những hàm ý của nó. Vídụ, giả sử bạn có một nguyêntử 4 electron.Cả 4
electronsẽ đẩy lẫn nhau, nhưngchúng cũngđều bị hút về phíatâm củaquả cầu
“bánh”. Kếtquả sẽ là mộtsố dạngsắp xếp đối xứng, ổnđịnh, trong đó tất cả các lực
triệt tiêulẫn nhau.Những người đủ khéo léo với toán học sớm thấy rằngcác
electrontrongmột nguyên tử 4 electron sẽ bố trí ở các đỉnh của một hình chóp
theo kiểu kimtự tháp Ai Cập thu nhỏ, tức làmột tứ diện đều. Suy luận này hóa ra
sai lầm, vì nó dựa trênnhững đặcđiểm không chính xác của mô hình đó,nhưng mô
hình cũng cóthành côngnhất định,một vài thànhcông trong số đó chúng ta sẽ nói
tới ngaybây giờ.
Ví dụ 3. Dòng điện tích trong dây dẫn
Một trong nhữnghọc trò của tôi là con trai củamộtngười thợ điện, và chính
anh ta cũng trở thànhmột người thợ điện.Anh ta kể với tôi làmsao màcha anhta
cả đời mình vẫn từ chối tin rằng cácelectronthật sự chảy qua dâydẫn. Nếu chúng
chảynhư vậy, ông giải thích, kimloại đó sẽ dần dầnbị phá hủy, cuối cùng thì vỡ
vụn ra thànhbụi.
Quan điểm củaông không phải khôngcó lí dựa trên thực tế là các electronlà
những hạt vậtchất, và vật chất bìnhthường không thể truyền xuyên quavật chất
mà không tạo ra một lỗ trốngtrong đó.Các nhà vậtlí thế kỉ thứ 19 sẽ chia sẻ quan
điểm nàyvới ôngphảnđối mô hình hạt tích điện của dòngđiện tích.Tuy nhiên,
trong mô hình bánh bônglan rắc nho,cácelectron cókhối lượng rất thấp, và dođó
có lẽ cũng có kích thước rất nhỏ. Khôngcó gì ngạc nhiên khichúng có thể chạy qua
giữacác nguyên tử mà khônglàm pháhủy chúng.
Ví dụ 4. Dòng điện tích băng qua màng tế bào
Hệ thần kinhcủa bạnhoạt độngtrên cơ sở các tínhiệu mangbởi điện tích đi
từ tế bào thần kinh này tới tế bào thần kinhkhác. Cơ thể củabạn về cơ bản đều ở
thể lỏng, và các nguyên tử trong mộtchấtlỏng thì luôn linhđộng. Điều này có
nghĩa là, khônggiống như trạng thái điện tích chạy trong dây dẫn rắn, toàn bộ các

nguyêntử tích điện có thể chạy trong hệ thần kinh của bạn.
Ví dụ 5. Sự phát xạ electron trong ống tia catôt
Tại sao các electrontự bứt ra khỏi catôt củaống chân không? Tấtnhiên,
chúng đượckhuyến khích làm như thế bởi lực đẩy của điệntích âm đặt trên catôt
và lựchút từ phía lưới điện tích dươngcủa anôt, nhưng những lựcnày không đủ
mạnhđể bứt các electron rakhỏi nguyên tử bằng lựcchính– nếuchúng làmđược,
thì toàn bộ cơ cấu sẽ bốc hơi ngay tức thì vì mỗinguyêntử đồng thời cũngbị xé
toạc ra!
Mô hình bánh bông lanrắc nhođưa tới mộtlời giải thích đơngiản.Chúng ta
biểt rằng nhiệtlà năng lượng của chuyển động ngẫu nhiêncủa các nguyên tử.Do
đó, cácnguyêntử trong bấtkì vật nào cũngxô đẩy nhau một cách dữ dội mọi lúc,
và mộtvài trong số những vachạmđó đủ mạnhđể đánhbật electron rakhỏi
nguyêntử. Nếu như điều này xảy raở gần bề mặt của một vậtrắn, thìelectron cólẽ
có thể bị thất thoát.Tuy nhiên, bình thườngthì sự thất thoát electronnàylà một
quá trìnhtự hạn chế;sự mất electron để lại cho vật mộtđiện tích tổng thể dương,
nó sẽ hút chúcừu nonđi lạc kiatrở lại với gia đình. (Đối với các vật nằm trong
khôngkhí chứ không phải trong chân không, cũng sẽ có một sự trao đổi cân bằng
của cácelectrongiữa không khí và vật).
Cách hiểu này giải thích sự ấm lên và lóe sángmàu vàng thân thiện của ống
chân không của chiếc radio cổ. Để khuyến khích sự phát xạ electrontừ catôt của
ống chân không, catôt đượccố ýlàm nóng lên bằng cuộn dây cấp nhiệt.
Câu hỏi thảo luận
A. Ngày nay,nhiều người địnhnghĩa ion là một nguyên tử (hay phân tử) bị
mấtelectron hoặc nhận thêmelectron. Hỏi làm thế nào người ta cóthể địnhnghĩa
từ “ion” trước khi khám phá raelectron?
B. Vì nguyêntử trunghòa về điện được biếtlà tồn tại, nênphải có một chất
liệu hạ nguyên tử tích điện dương để triệttiêu với các electrontích điện âmtrong
nguyêntử. Dựa trênnền tảngkiến thứcvừa mới biết sau những thí nghiệm của
Millikanvà Thomson,liệu cóthể nào chấtliệu tích điện dương đó có một lượng
điện tíchkhôngbị lượng tử hóa haykhông? Nó có thể đượclượng tử hóa bằng

đơn vị +e haykhông? Hay bằng đơn vị +2e ? Bằng đơn vị +5/7e ?
Tóm tắt
Mọilực mà chúngta gặp trongcuộcsống hàng ngày rút lại có hailoại cơ bản:
lực hấpdẫn vàlực điện.Mộtlực như lực ma sát hay “lực nhớt” phát sinhtừ lực
điện giữa từngnguyên tử với nhau.
Giống như việc chúngta sử dụng từ “khối lượng” để mô tả mức độ mạnh mà
một vật tham gia vào lực hấp dẫn, chúngta dùngtừ “điệntích” chocường độ lực
điện củanó. Có hai loại điện tích. Hai điện tích cùngloại đẩy nhau ra,nhưngnhững
vật có điện tíchkhác nhau thì hút nhau lại.Điện tích đượcđo bằng đơn vị coulomb
(C).
Mô hình hạtmang điện linh động:Rất nhiềuhiện tượng cóthể hiểu dễ dàng
nếu chúngta tưởngtượng vật chất gồm hai loạihạt tíchđiện, ít nhất thì chúng
cũng
có phần nào đó chuyển động raxung quanh.
Điện tích dương và điện tích âm: Những vật bìnhthườngkhôngbị làm cho
nhiễmđiện cócả hai loại điện tích trải đều đặntrong chúngvới số lượng bằng
nhau. Khi đó, vật khôngcó xuhướng tác dụng lựcđiện lênbất kì vật nàokhác, vì
bất kì lực hút nào do một loại điện tích sẽ cân bằngvới lựcđẩy từ loại điện tích kia.
(Chúngta nói “có xu hướngkhông”bởi vì mang vật đó đến gần mộtvật cólượng
điện tíchkhôngcân bằng có thể làm cho điệntích của nó táchra xa nhau và lực sẽ
khôngcòn triệt tiêu dokhoảngcách không bằng nhau). Dođó, người ta môtả hai
loại điện tích bằng kí hiệu dươngvà âm, chonên một vậtkhông nhiễm điện sẽ có
điện tíchtoàn phần bằngkhông.
Địnhluật Coulomb phát biểu rằng độ lớn củalực điện giữa haihạt mangđiện
được chobởi biểu thức |F| = k |q
1
||q
2
|/r
2

.
Bảo toàn điệntích: Một lí do còn cơ bản hơn nữa choviệcsử dụng kí hiệu
dươngvà âm chođiệntích là với địnhnghĩa này, điệntích toàn phần của một hệ cô
lập làmột đại lượng được bảo toàn.
Lượngtử hóa điện tích: Thí nghiệm giọt dầucủa Millikan cho thấy điện tích
toànphần của một vậtchỉ có thể là bội số nguyên củamộtđơn vị cơ bản củađiện
tích (e). Kếtquả này củng cố choý tưởng cho rằng“dòng”điện tích là chuyểnđộng
của nhữnghạtnhỏ xíu chứ không phải chuyển độngcủa một số loại chấtlỏng điện
bí ẩn.
Phân tích của Einstein về chuyển động Brownlà bằng chứng dứt khoátđầu
tiên cho sự tồn tại của nguyên tử. Thí nghiệmcủa Thomson với ốngchân không
chứng minhsự tồn tại của mộtloại hạt vi mômớicó tỉ số khối lượngtrênđiện tích
rất nhỏ. Thomson nhận thứcmột cách đúng đắn đây là nhữngviêngạch cấu trúc
của vật chấtcòn nhỏ hơn cả nguyêntử: đó là khám phá đầu tiênra một hạt hạ
nguyêntử. Những hạt này đượcgọilà electron.
Bằng chứng thực nghiệm trên đây đã đưa tới mô hìnhhữu ích đầu tiên của
cấu trúcbêntrong của nguyêntử, gọi là mô hìnhbánhbônglan rắc nho.Theo mô
hình bánhbônglan rắcnho,quả cầu tích điện dương có mộtsố nhất địnhcác
electrontích điện âmấn vào nó.

×