Chuyên đề: “Quyền chọn chứng khoán” GVHD: Th.S Dương Kha
93
Phối hợp giữa công tác giám sát và công tác thanh tra, kiểm tra việc tuân thủ
pháp luật của các thành viên thị trường; áp dụng nghiêm các chế tài dân sự, hình sự đối
với các hành vi vi phạm pháp luật về chứng khoán và TTCK.
c) Nới lỏng vai trò điều hành của Nhà Nước vào thị trường tài chính:
Hoạt động giao dịch phải thật sự có ý nghĩa trong điều kiện tình hình biến động của
thị trường hoàn toàn khách quan. Các NĐT, DN, những người kinh doanh chứng
khoán, ngoại tệ,… dựa vào những phán đoán về diễn biến của thị trường, họ sẽ lựa
chọn các phái sinh, quyền chọn thích hợp để thực hiện những mục tiêu cụ thể của mình
là kinh doanh hay hạn chế rủi ro.
Trong bối cảnh hội nhập ở nước ta hiện nay, theo lộ trình hội nhập mà nước ta đã
cam kết với WTO, nhà nước cần nới lỏng dần chính sách can thiệp trực tiếp vào thị
trường. Đối với TTCK tập trung, biên độ giao động của chứng khoán cũng cần được
nâng dần theo mức độ phát triển của thị trường từ mức +/-5% ở HOSE và +/-7% ở
HASTC hiện nay. Điều này sẽ đảm bảo giá cả chứng khoán phản ảnh đúng cung cầu
trên thị trường. Khi đó, rủi ro đối với giao dịch chứng khoán sẽ dần hiện rõ, gây ra
những thiệt hại lớn hơn, buộc các DN, cá nhân, NĐT phải quan tâm đến các hợp đồng
quyền chọn để bảo hiểm, giảm thiểu rủi ro cho chính mình.
d) Thay đổi một số qui định về hạch toán kế toán:
Các vấn đề về hạch toán quyền chọn nói riêng và các công cụ phái sinh nói chung
hiện nay còn khá mới mẻ ở nước ta. Do đó, nhà nước nên điều chỉnh, hoàn thiện các
vấn đề pháp lý về hạch toán, xác định rõ ràng nghiệp vụ giao dịch hợp đồng quyền
chọn, phái sinh là một nghiệp vụ kinh doanh tài chính mang tính chất phòng ngừa rủi
ro của các DN không thuộc các tổ chức tài chính tín dụng, bảo hiểm, kinh doanh. Trên
cơ sở này, Bộ tài chính xác định phí giao dịch quyền chọn là một khoản chi phí hợp lý,
hợp lệ được tính vào chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế. Điều này sẽ góp phần
khuyến khích các DN sử dụng công cụ quyền chọn nhiều hơn, trong đó có quyền chọn
ngoại tệ và quyền chọn cổ phiếu.
3.3.2.3 Nhóm giải pháp phát triển thị trường:
a) Tăng cung- cầu hàng hóa cho TTCK:
Về cung hàng hóa:
Chuyên đề: “Quyền chọn chứng khoán” GVHD: Th.S Dương Kha
94
Việc tăng cung hàng hóa cho TTCK tập trung trong thời gian tới, cả trước mắt và
lâu dài, chắc chắn phụ thuộc vào nguồn cung hàng cổ phiếu của các DN nhà nước cổ
phần hóa. Trong công tác cổ phần hóa DN nhà nước, gắn cổ phần hóa DN nhà nước
với việc niêm yết đồng thời trên TTCK.
Nhà nước cần tích cực hơn trong việc tác động cũng như lựa chọn một số DN có
quy mô lớn, có tình hình tài chính lành mạnh, khả năng phát triển tốt để cổ phần hóa và
niêm yết ngay trên TTCK. Chính phủ cần có chỉ đạo sát sao cũng như các ngành các
cấp có liên quan cần phải quyết liệt thực hiện kế hoạc cổ phần hóa DN nhà nước theo
đúng tiến độ và gắn kết với TTCK một cách công khai, minh bạch. Tập trung cổ phần
hóa các DN và các tổng công ty lớn, các NHTM, mở rộng việc chuyển đổi các DN có
vốn đầu tư nước ngoài thành các công ty cổ phần kết hợp với việc chào bán ra công
chúng. Việc IPO những DN lớn là tạo thêm hàng hóa chất lượng cho thị trường. Điều
quan trọng là nên có cách thức mới trong việc IPO để vừa bảo đảm cam kết với giới
đầu tư, vừa để các đợt IPO lớn ổn định hơn và không tạo ra sức ép về cung cầu hàng
hóa cho thị trường trong từng thời điểm.
Ngoài ra nhà nước cũng cần có chính sách khuyến khích, thu hút nhiều loại hình
DN tham gia vào TTCK, đặc biệt là tạo điều kiện để các DN vừa và nhỏ làm ăn hiệu
quả tham gia niêm yết. Áp dụng các ưu đãi cho cho các đối tượng sắp tham gia vào thị
trường bằng công cụ về thuế, về các chính sách ưu đãi khác nhằm tạo sự thuận lợi cho
các DN này tham gia thị trường. Tiếp tục khuyến khích các DN tư nhân nói riêng và
các DN niêm yết nói chung bằng cách gia hạn ưu đãi thuế thu nhập DN khi niêm yết
Nhà nước muốn có nguồn thu ngân sách lớn thì phải kích thích cho TTCK phát triển vì
đây là nơi tạo ra nguồn thu lớn cho Ngân sách Nhà nước. Bên cạnh đó, UBCKNN cũng
tạo môi trường thông thoáng cho các DN sắp niêm yết trên sàn, hạn chế tối đa các thủ
tục rườm rà, không cần thiết nhằm giúp các DN tham vào thị trường một cách dễ dàng
hơn.
Chúng ta cũng cần quan tâm đến vấn đề xác định giá trị DN. Cho phép các DN
đánh giá lại tài sản và thương hiệu đúng giá trị đích thực thông qua các công ty định
giá với những quy định cụ thể và chặt chẽ, nên tổ chức đấu giá công khai trên thị
trường theo tình thần nghị định 109/2007/NĐ-CP. Có thể mời các công ty định giá
Chuyên đề: “Quyền chọn chứng khoán” GVHD: Th.S Dương Kha
95
nước ngoài tham gia, điều này góp phần làm gia tăng uy tín cổ phiếu công ty trên thị
trường.
Phát triển hàng hóa cho TTCK không chỉ là gia tăng số lượng mà còn phải nâng cao
chất lượng các công ty niêm yết. Các công ty niêm yết phải là các công ty lành mạnh
về tài chính, công khai minh bạch đối với cổ đông và kinh doanh ổn định có hiệu quả.
Đây là những nhân tố vô cùng quan trọng để tạo lòng tin cho các NĐT.
Về cầu hàng hóa:
Sự tham gia của các NĐT ngày càng tăng sẽ góp phần tăng tính thanh khoản và
hiệu quả của TTCK, từ đó khuyến khích các DN tăng cường sử dụng kênh TTCK để
huy động vốn và sử dụng vốn một cách có hiệu quả. TTCK muốn thành công phải dựa
trên sự cân bằng cung cầu. Lực lượng các NĐT tham gia trên TTCK còn quá nhỏ so
với quy mô dân số 86 triệu người, đa số tham gia theo phương thức ngắn hạn và nhỏ lẻ.
Cần mở rộng phạm vi các định chế trong nước tham gia vào thị trường như các công ty
bảo hiểm, bảo hiểm xã hội đồng thời khuyến khích các NĐT nước ngoài tham gia thị
trường như mở rộng giới hạn đầu tư cổ phiếu đối với các NĐT nước ngoài trên TTCK
Việt Nam, tiến tới xóa bỏ giới hạn về tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu của các cổ đông nước
ngoài đối với những ngành, lĩnh vực mà nhà nước không cần nắm quyền kiểm soát.
b) Cải tiến các phương thức phát hành trái phiếu, tạo sức hấp dẫn cho trái
phiếu:
Thị trường cổ phiếu phát triển đến đâu thì Chính phủ cũng nên quan tâm đến sự
phát triển của thị trường trái phiếu. Điều này đáp ứng phần lớn nhu cầu của các NĐT
muốn tham gia thị trường nhưng ngại rủi ro, xem mức độ an toàn của chứng khoán là
yếu tố quyết định sự lựa chọn của chính mình. Do đó, cần cải tiến phương pháp phát
hành trái phiếu Chính phủ, tăng cường phát hành theo phương pháp đấu thầu, đa dạng
hóa các kỳ hạn của trái phiếu Chính phủ, triển khai phát hành trái phiếu Quỹ hỗ trợ
phát triển, trái phiếu địa phương, trái phiếu công trình, đô thị lên niêm yết và giao dịch
trên TTCK. Xây dựng và thực hiện kế hoạch phát hành theo lịch biểu nhằm cung cấp
đều đặn khối lượng trái phiếu cho TTCK.
Chuyên đề: “Quyền chọn chứng khoán” GVHD: Th.S Dương Kha
96
c) Chủ động giới thiệu, quảng bá thông tin về các sản phẩm, dịch vụ quyền
chọn đến khách hàng:
Ngày nay, TTTC cạnh tranh ngày một gay gắt. Các định chế tài chính chuyên
nghiệp như NHTM, CTCK xuất hiện ngày càng nhiều. Việc tuyên truyền, quảng bá,
giới thiệu sản phẩm, dịch vụ cơ bản của mỗi tổ chức tài chính là cần thiết để có thể thu
hút các đối tượng khách hàng. Đối với công cụ quyền chọn, một trong những loại hình
dịch vụ mới, khá phức tạp đối với khách hàng, việc làm này càng trở nên cần thiết,
thiết thực hơn, nhằm tạo ra sự nhận thức và hiểu biết cho khách hàng, nhà phát hành và
nhà hoạch định chính sách về công dụng, lợi ích và cách thức sử dụng các công cụ
quyền chọn, từ đó phát triển nhu cầu sử dụng sản phẩm, dịch vụ này.
Để thực hiện điều đó CTCK cần rút kinh nghiệm và thay đổi cách tiếp thị chào bán
các sản phẩm phái sinh nói chung và quyền chọn nói riêng, theo hướng là lựa chọn và
huấn luyện kiến thức tiếp thị, bán hàng cho những nhân viên thật sự am hiểu về sản
phẩm để trực tiếp giới thiệu và chào bán cho khách hàng. Ngoài ra, về lâu dài, các
CTCK cần lập ra bộ phận chuyên phân tích, tư vấn và hỗ trợ cho khách hàng tìm kiếm
thông tin, cách thức sử dụng các công cụ quyền chọn cho cả hai mục tiêu kinh doanh
và hạn chế rủi ro.
Phối hợp với các bộ, ngành như Bộ Tài Chính, Giáo Dục, Truyền Thông, NHNN,
UBCK…để tăng cường hơn nữa công tác quảng bá và giới thiệu sản phẩm quyền chọn
đến các khách hàng DN và NĐT, trong đó chú trọng đầu tư cho hình thức quảng bá
trên internet…
Tổ chức các buổi tư vấn hướng dẫn thực hành tham gia vào giao dịch quyền chọn
chứng khoán cho các DN, NĐT. Trong đó đưa ra cho các tình huống mẫu để khách
hàng thử ứng dụng. Từ đó, phân tích cho các khách hàng thấy lợi ích của việc sử dụng
công cụ quyền chọn trong bảo hiểm rủi ro và tìm kiếm lợi nhuận trong các hoạt động
đầu tư của mình.
Chuyên đề: “Quyền chọn chứng khoán” GVHD: Th.S Dương Kha
97
d) Cải thiện và nâng cao hiệu quả của hệ thống giao dịch, hệ thống đăng
ký-lưu ký-thanh toán bừ trừ chứng khoán:
Đây là giải pháp tạo ra động lực cho việc ứng dụng giao dịch quyền chọn chứng
khoán ở Việt Nam. Việc cải thiện và nâng cao hiệu quả của hệ thống giao dịch bao
gồm những công việc cụ thể như sau:
Cần có những thay đổi căn bản để đáp ứng yêu cầu của giới đầu tư như: giảm
thời gian thanh toán giao dịch chứng khoán nhằm nâng cao tính thanh khoản cho thị
trường, rút ngắn thời hạn thanh toán từ T+3 xuống T+2 và T+1.
Tăng biên độ giá: việc tăng biên độ giá chứng khoán là một trong những bước đi
cần thiết trong tiến trình hoàn thiện hóa TTCK Việt Nam. Trên thị trường các nước
trong khu vực, biên dộng dao động giá được áp dụng thường là 10% hoặc thậm chí
không có biên độ dao động. Khi TTCK Việt Nam đã hội tụ đủ những điều kiện phát
triển ,biên độ dao động có thể cũng được áp dụng ở mức 10%. Đối với NĐT việc tăng
biên độ dao động cũng cho phép đưa ra nhiều lựa chọn khác nhau trong quá trình đặt
lệnh và do đó nâng cao tính tự chủ và bản lĩnh kinh doanh của họ.
Tăng cường củng cố sơ sở hạ tầng, phát triển mạnh hệ thống công nghệ thông
tin ngành chứng khoán, đẩy mạnh giao dịch qua internet. Hệ thống giao dịch và công
bố thông tin của cả SGDCK HCM và Hà Nội còn nhiều hạn chế. Do đó, chúng ta cần
xây dựng một cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin một cách hiệu quả bằng các biện pháp
cụ thể như sau:
Ứng dụng và hoàn thiện hệ thống giao dịch tự động hiện đại vận hành tại
SGDCK TP HCM và Hà Nội. Kết nối mạng diện rộng giữa hệ thống giao dịch của các
Sở, Sàn giao dịch với các CTCK thành viên. Xây dựng hệ thống giám sát tự động kết
nối với các hệ thống giao dịch, công bố thông tin, lưu ký, thanh toán,…
Đảm bảo có một hệ thống công bố thông tin có thể truyền phát rộng và truy cập
dễ dàng cho các đối tượng tham gia thị trường, đặc biệt là các NĐT. Mở rộng phạm vi
thông tin cần công bố trên cơ sở xây dựng cở sở dữ liệu thông tin đầy đủ.
Tự động hóa hệ thống lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán. Thực hiện dịch
vụ lưu ký cho các chứng khoán chưa niêm yết. Giảm thời gian thanh toán giao dịch
chứng khoán nhằm nâng cao tính thanh khoản cho thị trường. Thực hiện nối mạng giữa
Chuyên đề: “Quyền chọn chứng khoán” GVHD: Th.S Dương Kha
98
các thành viên lưu ký và các Sở, Sàn giao dịch để cung cấp chính xác, kịp thời những
thông tin có liên quan.
Hệ thống bù trừ thanh toán chứng khoán là một trong số cấu thành nên cơ sở hạ
tầng của TTCK, nó đóng vai trò trọng yếu trong việc hoàn tất các giao dịch chứng
khoán, theo đó các bên mua và bán chứng khoán được đảm bảo đầy đủ quyền lợi và
đồng thời cũng phải thực hiện các nghĩa vụ của mình đối với các đối tác giao dịch. Kết
hợp hệ thống lưu ký chứng khoán, hệ thống bù trừ thanh toán chứng khoán được xem
là yếu tố nền tảng, có ý nghĩa quyết định tới sự thành công và hiệu quả của bất kỳ một
TTCK nào. Tuy nhiên với một môi trường kinh tế, chính trị, xã hội và pháp lý đặc thù
riêng của Việt Nam thì để phát triển một hệ thống bù trừ thanh toán phù hợp thì phải có
những điều hỉnh cần thiết nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ
thống này.
e) Nâng cao hiệu quả thị trường thông qua việc công khai hóa và minh
bạch hóa thông tin:
TTTC Việt Nam mới chỉ tăng tốc phát triển trong một thời gian ngắn, vấn đề truyền
thông tài chính cũng đã bắt đầu nhận được sự quan tâm của xã hội. Nhưng nhìn chung,
truyền thông tài chính ở Việt Nam chỉ mới phát triển sơ khai, hầu như là mang tính tự
phát, thiếu sự quản lý, ràng buộc trách nhiệm từ các cơ quan quản lý nhà nước. Với
một TTTC bậc cao như thị trường quyền chọn, thông tin càng đóng một vai trò quan
trọng trong các quyết định đầu tư, phòng ngừa rủi ro của DN, NĐT…Do đó, để phát
triển thị trường quyền chọn, đặc biệt là quyền chọn quyền chọn chứng khoán, cần chấn
chỉnh và thúc đẩy truyền thông tài chính phát triển. Thông tin tài chính cần được công
khai, minh bạch hóa. Nhà nước cần tiếp tục ban hành các qui chế, thông tư, hướng
dẫn…chi tiết hơn việc công bố thông tin ra TTCK cũng như chế tài nghiêm khắc đối
với các vi phạm về công bố thông tin.
Ngoài ra, cần thúc đẩy các nguồn thông tin đa dạng, đầy đủ và cần thiết đến với
mọi đối tượng tham gia thị trường. Trước mắt, nên thành lập các tổ chức chuyên
nghiên cứu phát triển các công cụ dự báo giá và công bố kết quả dự báo giá cả, đặc biệt
là giá của một số mặt hàng quan trọng như ngoại tệ, chứng khoán, vàng, xăng dầu…
qua các phương tiện thông tin đại chúng hoặc qua các tạp chí chuyên ngành để các
Chuyên đề: “Quyền chọn chứng khoán” GVHD: Th.S Dương Kha
99
NĐT có cơ sở phân tích, đánh giá và đưa ra các quyết định kinh doanh hay phòng
ngừng rủi ro cho riêng mình.
f) Triển khai nghiệp vụ bán khống trên TTCK:
Bán khống là một chiến lược được thực hiện dựa trên dự đoán về một thị trường giá
xuống. NĐT vay cổ phiếu từ các nhà môi giới, sau đó bán ở một mức giá và mua lại
như kỳ vọng ở mức giá thấp hơn. Nếu giá cổ phiếu mua lại với giá thấp hơn giá đã bán
khống, giao dịch sẽ kiếm được lợi nhuận. Việc thực hiện nghiệp vụ bán khống sẽ thu
hút được các NĐT tham gia thị trường, đặc biệt là cải thiện mạnh mẽ tính thanh khoản
của thị trường- điểm yếu của các thị trường mới nổi như Việt Nam. Bán khống là xu
thế tất yếu để đảm bảo lợi ích của các NĐT, cũng như các tổ chức môi giới chứng
khoán chuyên nghiệp.
3.3.2.4 Giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực:
a) Tăng cường công tác đào tạo nghiên cứu và tuyên truyền:
Con người đóng vai trò quyết định trong mọi hoạt động. Do đó, việc đào tạo và đào
tạo lại là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục, nhất là trong lĩnh vực năng động như chứng
khoán và các công cụ tài chính phái sinh. Quá trình đào tạo không chỉ cho những nhà
phân tích, nhà môi giới, nhà quản lý mà cho quảng đại công chúng. Việc đào tạo phải
có sự kết hợp giữa những yêu cầu thực tế đặt ra với việc đào tạo nguồn nhân lực ở các
trường đại học trong và ngoài nước. Hình thức đào tạo cũng cần đa dạng như chính
khoá, hội thảo, đào tạo từ xa,… nhằm đáp ứng nhu cầu của các đối tượng và thông tin
tuyên truyền, phổ biến kiến thức về TTCK cho công chúng.
Để đáp ứng được yêu cầu về nhân lực cho TTCK thì chương trình đào tạo trong các
trường đại học cần chú trọng đến các môn học liên quan đến TTCK. Nội dung của
chương trình phải đáp ứng những tiêu chuẩn tiên tiến nhất.
Ngoài ra, cần thường xuyên phổ biến kiến thức về chứng khoán và TTCK cho công
chúng thông qua các chuyên mục về tìm hiểu kiến thức chứng khoán trên đài phát
thanh, truyền hình, internet,… Đây là kênh tuyên truyền nhanh nhất đến quảng đại
công chúng đầu tư.
Chuyên đề: “Quyền chọn chứng khoán” GVHD: Th.S Dương Kha
100
b) Phát triển đội ngũ hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán và các công cụ
tài chính phái sinh:
Các CTCK, các ngân hàng cần lựa chọn các cá nhân để làm việc trong lĩnh vực này
dựa trên: Nền tảng đào tạo, nền tảng cá nhân và khả năng phát triển.
Nền tảng đào tạo: Người ta thường cho rằng người có học vị cao phù hợp với
công việc này. Tất nhiên, có được bằng cấp đó là rất tốt nhưng chưa hẳn là đủ và cũng
chưa hẳn là chỉ những người đó mới phù hợp. Thực tế, một trực giác tốt để nhận biết
nhanh còn quan trọng hơn nền tảng đào tạo, đôi khi tài sản quan trọng nhất của một
chuyên gia là “giác quan” nhạy bén, hay có thể nói là họ có sở trường trong lĩnh vực
này. Thực tế cho thấy nhiều người thành công trên lĩnh vực này là những người biết
nắm bắt, xử lý thông tin, biết phân tích và ra quyết định đúng lúc. Một bộ phận kinh
doanh quyền chọn tốt cần có những con người có các nền tảng khác nhau với thế mạnh
của họ có thể bổ sung cho nhau và những điểm yếu của mỗi người được người khác bù
đắp.
Nền tảng cá nhân: Cá tính mỗi con người cũng đóng góp đáng kể cho nghề
nghiệp kinh doanh công cụ phái sinh. Đây là hoạt động chịu nhiều áp lực, những người
kinh doanh trong lĩnh vực này thường rất muốn kiếm được nhiều lợi nhuận, nhưng nếu
họ qua đề cao chủ nghĩa cá nhân có thể dẫn đến những sai lầm lớn. Việc cư xử công
bằng, không độc đoán và không quá dựa trên lợi nhuận sẽ tạo được môi trường làm
việc lành mạnh để các giao dịch viên có thể đạt kết quả tốt.
Khả năng phát triển: Đây là vấn đề rất khó đánh giá khi bắt đầu lựa chọn một
nhân viên giao dịch vì không biết người đó có đủ năng lực, kinh nghiệm, đủ minh mẫn
để cạnh tranh khi thị trường phát triển hay không. Vì vậy, ngoài khả năng của người
đó, các tổ chức này phải thường xuyên tổ chức các buổi huấn luyện, đào tạo về nghiệp
vụ, thi sát hạch cho các nhân viên của mình nhằm nâng cao tay nghề và cập nhật kiến
thức cho họ.
Các CTCK phải chủ động tuyển dụng có chọn lọc một đội ngũ nhân viên tư vấn có
năng lực thực sự, có ý thức, tác phong năng động, hoạt bát, có đạo đức nghề nghiệp tốt.
Đây là một trong những vấn đề khó khăn đối với các CTCK hiện nay khi mà vấn đề
nhân sự trong lĩnh vực tài chính trở nên khan hiếm trong thời gian qua. Định kỳ, các
Chuyên đề: “Quyền chọn chứng khoán” GVHD: Th.S Dương Kha
101
CTCK nên tổ chức các buổi hội thảo, tọa đàm về nghiệp vụ chuyên môn, để các nhân
viên nghiệp vụ học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau, tức là không chỉ đào tạo theo hướng
chuyên nghiệp, mà còn phải đào tạo song phương theo hướng đào tạo và tự đào tạo.
Bên cạnh đó, các CTCK cần phải tổ chức các buổi tư vấn, thuyết trình, giải đáp những
thắc mắc để nâng cao kiến thức và kinh nghiệm cho các NĐT. Các CTCK cũng cần có
chế độ đãi ngộ xứng đáng đối với các nhân viên tư vấn làm tốt chuyên môn, nhằm
khuyến khích họ phát huy hơn nữa năng lực của mình.
3.3.2.5 Các nhóm giải pháp khác:
a) Học hỏi kinh nghiệm của các nước trên thế giới:
Đây là giải pháp vô cùng quan trọng trong việc ứng dụng các giao dịch quyền chọn
chứng khoán ở Việt Nam. Chúng ta có thể học hỏi và áp dụng kinh nghiệm của các
nước tiên tiến trên thế giới về các lĩnh vực như: việc tổ chức sàn giao dịch, nguyên tắc,
cơ chế và quy trình giao dịch; việc xây dựng chính sách phát triển và quản lý thị
trường; việc xây dựng khuôn khổ pháp luật cho TTCK; việc đào tạo đội ngũ cán bộ,
công chức quản lý,… và đặc biệt là từ đó áp dụng một cách hiệu quả lên thị trường
chứng khoán Việt Nam.
b) Giải pháp để tiến tới thành lập một sàn giao dịch quyền chọn niêm yết
tập trung:
Để thị trường quyền chọn thực sự phát triển và trở thành một trong những trụ cột
của thị trường tài chính, khi thị trường quyền chọn và các giao dịch quyền chọn đạt đến
độ chín mùi cần thiết, bên cạnh một thị trường quyền chọn phi tập trung, nhà nước cần
tiến hành tham khảo, học hỏi kinh nghiệm từ các sàn giao dịch quyền chọn lớn trên thế
giới, đặc biệt là ở Mỹ, để thành lập một sàn giao dịch quyền chọn tập trung chính thức
(giống như một sàn giao dịch chứng khoán niêm yết tập trung) như ở các nước có
TTTC phát triển, với các tài sản cơ sở ở đây có thể là cổ phiếu, trái phiếu, ngoại tệ, chỉ
số chứng khoán, vàng, lãi suất Điều này sẽ làm tăng tính thanh khoản, khối lượng
giao dịch trên thị trường quyền chọn cũng như thị trường các tài sản cơ sở, đặc biệt là
TTCK; dần dần tiến đến chuyên nghiệp hóa, tạo thuận tiện, phổ biến và đưa thị trường
quyền chọn trở thành một một trong những thị trường thiết yếu trên thị trường tài
chính.
Chuyên đề: “Quyền chọn chứng khoán” GVHD: Th.S Dương Kha
102
Việc xây dựng hệ thống kỹ thuật công nghệ cho sàn giao dịch quyền chọn tập trung
đòi hỏi sự đầu tư lớn và đồng bộ. Các nhà quản lý có thể dựa vào kinh nghiệm xây
dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật công nghệ cho SGDCK và tham khảo từ các sàn giao
dịch quyền chọn tập trung ở các nước, kết hợp với khả năng, tình hình thị trường hiện
tại để trang bị hệ thống kỹ thuật công nghệ phù hợp với điều kiện nước ta.
Các hệ thống lưu ký, giao dịch, thanh toán bù trừ, hệ thống kết nối với các thành
viên (NHTM, CTCK môi giới quyền chọn)… cần được trang bị đồng bộ, thống nhất,
giúp đơn giản hóa các qui trình giao dịch, đồng thời tăng tính chính xác, thanh khoản
và độ an toàn cho các NĐT tham gia thị trường.
Về phía các CTCK: ngoài các giải pháp đã nêu ở trên, khi một sàn giao dịch quyền
chọn tập trung được thành lập, cũng giống như TTCK; các hoạt động giao dịch, chuyển
nhượng quyền chọn sẽ diễn ra. Các CTCK sẽ đóng vai trò là thành viên của sở giao
dịch quyền chọn, đứng ra môi giới và thu phí đối với các giao dịch chuyển nhượng
quyền chọn đối với khách hàng.
Khi đó, phí môi giới quyền chọn cần được các CTCK tính toán kỹ lưỡng để có thể
bù đắp được các khoảng chi phí đầu tư đã bỏ ra, đảm bảo khả năng cạnh tranh và bước
đầu thu lợi nhuận. Trong điều kiện các giao dịch chuyển nhượng quyền chọn mới bắt
đầu hình thành, các CTCK nên chào một mức phí cạnh tranh, để bước đầu thu hút được
khách hàng, giúp cho NĐT làm quen cũng như hứng thú hơn với việc tham gia giao
dịch các quyền chọn tập trung, đóng vai trò tích cực trong việc phát triển một thị
trường giao dịch quyền chọn tập trung chính thức.
3.4 Mô hình giao dịch đề xuất cho Việt Nam:
Nhằm giúp thị trường chứng khoán Việt Nam có thể áp dụng quyền chọn chứng
khoán vào giao dịch thì tôi có một mô hình đề xuất tương tự của sàn giao dịch CBOE
nhưng đơn giản hơn và thuận tiện cho người muốn mua (bán) hợp đồng quyền chọn ở
TTCK Việt Nam.
Mỗi cá nhân giao dịch quyền chọn cần có một tài khoản tại CTCK mà người môi
giới của mình đang làm việc để có thể tiện cho giao dịch thanh toán khi hợp đồng
quyền chọn được giao dịch.
Chuyên đề: “Quyền chọn chứng khoán” GVHD: Th.S Dương Kha
103
Hình 3.3: Mô hình giao dịch quyền chọn chứng khoán đề xuất
cho thị trường chứng khoán Việt Nam
Người mua và người bán chỉ thị cho người môi giới của mình tiến hành giao
dịch quyền chọn.
Nhà môi giới của người mua (bán) quyền chọn yêu cầu CTCK của mình thực
hiện giao dịch.
Các CTCK đặt lệnh lên sàn giao dịch, các giao dịch khớp nhau hình thành nên
lệnh với mức giá xác định.
Thông tin giao dịch được thông báo về trung tâm thanh toán bù trừ.
CTCK thông báo giá giao dịch cho người môi giới, sau đó thông báo với người
mua (bán).
Người mua (bán) ký gửi phí quyền chọn cho người môi giới
Người môi giới ký gửi phí quyền chọn cho CTCK của mình.
CTCK thanh toán giao dich quyền chọn cho người mua (bán).
Chuyên đề: “Quyền chọn chứng khoán” GVHD: Th.S Dương Kha
104
KẾT LUẬN
Hiện nay Việt Nam đang trong quá trình hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế
giới đặc biệt là kể từ khi gia nhập vào WTO. Hội nhập kinh tế quốc tế đã đem lại cho
chúng ta nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức đối với nền kinh tế nói chung và
TTCK nói riêng. Cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế Việt Nam TTCK
cũng đang có sự phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây. Tuy nhiên, sự phát
triển nhanh này đã bộc lộ những rủi ro tiềm ẩn cho công chúng đầu tư, đặc biệt là NĐT
nhỏ lẻ. Đã đến lúc cần phải có công cụ bảo vệ cho họ và việc xây dựng thị trường
quyền chọn chứng khoán tại Việt Nam là việc làm hết sức cần thiết. Nó cũng tạo thêm
một sân chơi mới cho các NĐT và góp phần nâng cao tính cạnh tranh của TTCK Việt
Nam trong quá trình hội nhập.
Qua chuyên đề tốt nghiệp về quyền chọn, ta có thể nắm được cơ sở lý luận về
quyền chọn chứng khoán, kinh nghiệm về thị trường giao dịch quyền chọn ở một số
nước trên thế giới và đi vào thực trạng TTCK tại Việt Nam, phân tích tình hình thị
trường và mức độ cần thiết của công cụ quyền chọn chứng khoán, chuyên đề cũng đã
đưa ra một số giải pháp cũng như mô hình đề xuất cho việc áp dụng quyền chọn chứng
khoán tại Việt Nam.
Tuy nhiên, đây là lĩnh vực phức tạp và mới, do những hạn chế của bản than trong
quá trình làm bài, chuyên đề chắc chắn sẽ không tránh khỏi thiếu sót. Rất mong được
nhận ý kiến đóng góp, bổ sung của thầy cô giáo và những người quan tâm, đang nghiên
cứu về vấn để này. Để chúng ta có thể sớm áp dụng nó vào Việt Nam, mở ra cho thị
trường chứng khoán một công cụ để có thể phát triển mạnh hơn.
Chuyên đề: “Quyền chọn chứng khoán” GVHD: Th.S Dương Kha
105
Tài liệu tham khảo
1. “Quản trị rủi ro tài chính” – TS. Nguyễn Thị Ngọc Trang (Chủ biên), PGS.TS
Trần Ngọc Thơ, TS Nguyễn Khắc Bảo, GV Hồ Quốc Tuấn (2006).
2. “Tài chính doanh nghiệp” – PGS.TS Trần Ngọc Thơ (Chủ biên), PGS.TS
Nguyễn Thị Ngọc Trang, PGS.TS Phan Thị Bích Nguyệt, TS Nguyễn Thị Liên Hoa,
TS Nguyễn Thị Uyên Uyên.
3. “Tài chính quốc tê” PGS.TS Trần Ngọc Thơ & PGS.TS Nguyễn Ngọc Định
(Đồng chủ biên), TS Nguyễn Thị Ngọc Trang, TS Nguyễn Khắc Bảo, PGS.TS Nguyễn
Thị Liên Hoa.
4. Luận văn thạc sĩ kinh tế Nguyễn Thanh Tâm (2007): “Quyền chọn chứng
khoán và việc áp dụng quyền chọn chứng khoán vào thị trường chứng khoán Việt
Nam”.
5. Nghiên cứu khoa học “Công cụ phái sinh – Gốc nhìn từ cuộc khủng hoảng tài
chính toàn cầu” Nhóm sinh viên:Nguyễn Ngọc Linh + Trịnh Thị Thanh Tâm, GVHD:
Lê Đạt Chí.
6. Các thông tin trên trang web của Trung tâm giao dịch Chứng khoán Hà Nội:
7. Các thông tin trên trang web của chuyên đề về phân tích tài chính, quản trị
doanh nghiệp, ngân hàng, chứng khoán: www.saga.vn
8. Các thông tin trên trang web của Thời báo kinh tế Việt Nam:
www.vneconomy.com.vn
9. Các thông tin trên trang web của Sở giao dịch chứng khoán Tp. Hồ Chí Minh:
www.hsx.vn
10. Các thông tin trên trang web của Ủy ban chứng khoán Nhà nước:
11. Các thông tin trên trang web của Đầu tư chứng khoán online:
12. Các thông tin trên trang web:
Chuyên đề: “Quyền chọn chứng khoán” GVHD: Th.S Dương Kha
106
13. Các thông tin trên trang web của Tin nhanh Việt Nam:
14. Các thông tin trên trang web của Xa lộ tin tức:
Tài liệu nước ngoài:
1. “Option, Futures, and other derivatives” John C.Hull (2006)
2. Chicago Board Options Exchange:
3. Euronext N.V: http://www/euronext.com
4. London International Financial Futures and Options Exchange:
http:/www.liffe.com
5. Tokyo Stock Exchange: