Tải bản đầy đủ (.pdf) (17 trang)

Máy tính kinh doanh - Bài 1 potx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (206.86 KB, 17 trang )

Bài 1: Giới thiệu
1
BÀI 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT

I. Sự cần thiết phải biết máy tính

Mục tiêu của nội dung học không phải đào tạo học viên trở thành chuyên gia máy tính,
mục tiêu của học viên chỉ là nắm được những kiến thức tối thiểu về máy tính để sử dụng
máy tính một cách hiệu quả trong học tập, và trong công việc hàng ngày sau này.

Các nhà giáo dục đều đồng ý cho rằng sinh viên ngày nay cần có hiểu biết về máy tính.
Hiểu biết về máy tính nói đến các kỹ năng, kiến thức làm thế nào sử dụng một máy tính
cá nhân, một hệ điều hành máy tính (ví dụ như Microsoft Windows), các chương trình ứng
dụng cho văn phòng, và căn bảng về Internet (kể cả tìm thông tin trên Web và dùng thư
điện tử e-mail).

Sự hiểu biết máy tính sẽ giúp sinh viên làm việc tốt trong học tập và giúp họ đạt được mục
tiêu nghề nghiệp trong tương lai. Tuy nhiên, chỉ có sự hiểu biết về máy tính thì không đủ.
Những kỹ năng sinh viên học hôm nay sẽ lỗi thời trong vài năm tới. Công nghệ máy tính
thay đổi rất nhanh. Chỉ vài năm trước đây, Internet đã có nhưng không được biết đến rộng
rãi, ngày nay, nó đã trở thành từ ngữ thông dụng trong mỗi gia đình.

Nhòp độ thay đổi của máy tính làm cho nhiều người cảm thấy bất an, bất lực, và lúng túng,
mặc dù họ sử dụng máy tính hàng ngày. Khi họ chỉ tập luyện kỹ năng gõ những phím trong
một chương trình xử lý văn bản nào đó, nhưng lại thiếu kiến thức sâu hơn làm thế nào có
thể chuyển qua để sử dụng một cách nhanh chóng một chương trình xử lý văn bản mới
hoặc ngay cả phiên bản mới của cùng một chương trình. Họ đã không học những khái
niệm, những nguyên lý cơ bản và sâu xa để giúp họ đối mặt với sự thay đổi nhanh chóng.

Nội dung các bài đọc và thực hành sẽ cung cấp cho sinh viên những khái niệm và nguyên
lý của máy tính. Một khi học viên hiểu được chúng, học viên sẽ đánh giá đúng được những


điều mà máy tính và Internet mang lại và những điều chúng không thể làm được. Học viên
có thể áp dụng công nghệ máy tính trong học tập, và trong nghề nghiệp hiệu quả hơn.
Trong tương lai họ sẽ không bò bối rối với sự thay đổi nhanh của công nghệ. Học sẽ hiểu
sự thay đổi có gốc gác từ đâu, những thay đổi có nghóa là gì và làm thế nào họ thích nghi
được chúng.

Thuật ngữ hiểu biết máy tính mô tả những kiến thức mà học viên có được để có thể làm
việc thành công trong thế giới kỹ thuật số. Học viên có kỹ năng dùng máy tính và Internet.
Kiến thức của họ về những khái niệm và nguyên lý cơ bản của máy tính và Internet làm
cho họ có lợi thế rất lớn. Họ càng làm việc với công nghệ máy tính, sự hiểu biết của họ
càng nhiều và sâu hơn. Thay vì ngại dùng máy tính, họ lại phấn khích và muốn thử dùng
máy tính. Khi sự tự tin và kiến thức nhiều hơn, họ trở nên tinh thông hơn trong việc dùng
công nghệ máy tính. Họ sẽ là công dân tốt hơn vì họ hiểu về máy tính đủ để nhận ra
những rủi ro và lợi ích của công nghệ.

Bài 1: Giới thiệu
2


II. Máy tính là gì?

2.1 Đònh nghóa

Máy tính là một chiếc máy, với sự hướng dẫn và điều khiển của chương trình, thực hiện
bốn hoạt động cơ bản: nhận dữ liệu (Input), xử lý (Processing), xuất thông tin (Output), và
lưu trữ (Storage), xem hình 1.

Chương trình (Program) là một danh sách các hướng dẫn/chỉ thò ra lệnh cho máy tính cách
thực hiện bốn hoạt động này để hoàn thành một công việc.


Nhận dữ liệu (Input)
Máy tính nhận dữ liệu (data), dữ liệu được thể hiện theo cách máy tính có thể hiểu được
có thể là các con chữ, con số, hình ảnh, âm thanh hoặc là hình thức kết hợp giữa chúng.
Thiết bò nhập dữ liệu có thể là bàn phím, máy quét ảnh, micro thu âm thanh

Xử lý (Processing)
Máy tính thực hiện các phép tính số học hoặc so sánh logic trên dữ liệu nhận vào. Chung
quy lại, công việc mà bộ xử lý của máy tính thực hiện chỉ là phép cộng hai số hoặc so
sánh chúng xem số nào lớn hơn. Nghe có vẻ đơn giản nhưng điều làm cho máy tính thật
tuyệt vời là nó có thể thực hiện việc này rất nhanh, hàng triệu hàng tỉ phép tính trong một
giây. Tốc độ xử lý của máy tính làm cho nó có khả năng đáng kinh ngạc, ví dụ máy tính có
thể dùng để chuyển thông tin của cả một thư viện quốc gia từ thành phố Hồ Chí Minh đến
Hà Nội chỉ trong vài phút. Chẳng hạn, khi bạn tìm kiếm thông tin trên Internet, thông qua
Google, hàng triệu bản tin sẽ đến với bạn cũng chỉ trong vài phút.

Một yếu tố nữa làm cho máy tính có tính ưu việt là sự tin cậy. Một máy tính rẻ nhất cũng
có thể thực hiện hàng triệu phép tính mỗi giây trong nhiều năm, từ năm này qua năm khác
mà các bộ phận vật lý của máy không hề gây sai sót. (hầu hết các sai sót máy tính xuất
hiện đều do sai lầm của chương trình máy tính hoặc do sai sót trong dữ liệu mà con người
nhập vào máy tính).









Hình 1. Bốn hoạt động cơ bản của máy tính


Nhậ
p
dữ liệu Xử l
y
ù
Lưu trữ
Xuất thôn
g
tin
Esc
F1 F2 F3 F4 F5 F6 F7 F8 F9 F10 F11 F12
~
`
!
1
@
2
$
4
%
5
^
6
&
7
*
8
(
9

)
0
+
=
#
3
QW
ERT
Y
AS
D
F
G
H
ZX
C
V
B
UI O
P
JK
L
NM
{
[
}
]
:
;
"

'
<
,
>
.
?
/
Tab
Shift
Ctrl Alt
Caps
Lock
Alt Ctr l
Shift
Enter
Backspac e
Insert Home Page
Up
Delete
End
Page
Down
|
\
78
9
456
123
0
.

Num
Lock
Home PgUp
End PgDn
Ins
Del
Ente r
/
*
+
Print
Screen
Scroll
Lock
Pause
Scrol l
Lock
Caps
Lock
Num
Lock
Bài 1: Giới thiệu
3


Xuất thông tin (Output)
Máy tính trình bày kết quả xử lý theo cách mà con người có thể hiểu được, có thể là trên
màn hình, in ra giấy trên máy in, hoặc ra máy fax, phát âm thanh ra loa Dữ liệu đã được
xử lý sẽ được gọi là thông tin.


Lưu trữ (Storage)
Máy tính lưu trữ lại các kết quả để có thể dùng lại chúng lần nữa sau này. Máy tính có thể
lưu trữ một lượng rất lớn thông tin như tập bản đồ của cả thế giới, một bộ tự điển đầy đủ,
danh sách và thông tin của dân số thế giới và còn rất nhiều thông tin khác. Một cách khác
để bạn có thể hình dung khả năng lưu trữ của máy tính ngày nay: với đóa cứng dung lượng
30Gb, bạn có thể lưu trữ được lên đến gần 8 triệu trang in A4.

Cả bốn hoạt động cơ bản này gọi chung là chu kỳ xử lý thông tin (information processing
cycle). Chúng ta sẽ có dòp tìm hiểu kỹ hơn ở bài học sau.

2.2 Hệ thống máy tính

Hệ cấu trúc máy tính là tập hợp các bộ phận có liên quan được thiết kế để hoạt động nhòp
nhàng với nhau. Hệ máy tính gồm 2 phần chính:

• Phần cứng (Hardware): là các bộ phận vật lý, mạch điện tử hay cơ khí, gồm cả
các thiết bò bên ngoài (gọi là ngoại vi) mà mắt có thể thấy, tay có thể sờ được.
• Phần mềm (Software): là chương trình viết cho máy tính để thực hiện các công
việc cụ thể.

Nhìn chung bên ngoài hệ máy tính có thể minh họa như hình sau:

















3.
4.
7.
2.
9.
10.
5.
6.
1.
8.
Bài 1: Giới thiệu
4


Thiết bò nhập

Chuột (3) (Mouse): Là thiết bò trỏ, dùng tay di chuyển chuột sẽ thấy trên màn hình có
hình mũi tên di chuyển tương ứng, mũi tên dùng để chọn biểu tượng trên màn hình và
thực hiện các thao tác lệnh.

Bàn phím (4) (Keyboard): Thiết bò thường dùng nhất để nhập dữ liệu vào máy tính,
gồm các ký tự chữ và số giống như máy đánh chữ. Bàn phím có khoảng 104 phím,
ngoài các phím để gõ văn bản, con số, còn có các phím chức năng dùng để ra lệnh cho

máy tính thực hiện nhiều động tác khác nhau, tùy theo đònh nghóa của phần mềm đang
sử dụng.

Microphone (7): Micro dùng để tiếp nhận giọng nói từ ngoài lưu vào máy tính hoặc
truyền đi máy khác.

Thiết bò xuất

Màn hình (2) (Monitor): Thiết bò dùng để hiển thò các kết quả xử lý dữ liệu lên màn
ảnh như chữ, hình ảnh, màu sắc Những hiển thò này là cách để máy tính trả lời, đáp
ứng những yêu cầu của người dùng. Không có màn hình thì không thể làm gì được với
máy tính. Hầu hết màn hình dùng công nghệ ống tia điện tử giống như màn hình Ti-vi,
những màn hình tốt nhất có độ phân giải cao, nhiều màu, độ tương phản ánh sáng tốt,
độ quét cao tuy nhiên chúng rất đắt tiền. Màn hình dùng công nghệ ống tia điện tử
thường rất nặng tiêu hao điện năng nhiều, tỏa nhiệt, ngày nay loại màn hình tinh thể
lỏng (LCD) đang dần dần được sử dụng nhiều hơn, chúng rất mỏng và ít tiêu hao năng
lượng điện.

Loa (9) (Speaker): Bộ phận dùng để phát âm thanh, nhạc, từ máy tính

Máy in (10) (Printer): Thiết bò xuất ra giấy các dữ liệu như chữ, hình ảnh, số, bảng
biểu Hiện nay giá thành không cao lắm nên máy in được dùng khá phổ thông trong
gia đình. Máy in có 2 loại chính, máy in kim (impact printer) và không kim (non-impact
printer). Máy in kim tạo hình ảnh lên giấy bằng cách dùng kim gõ trên một ruy băng
đã thấm mực. Máy in không kim dùng những công nghệ khác để in. Hầu hết các máy
in hiện nay là dạng không kim, như máy in phun và máy in laser.

Thiết bò lưu trữ

Ổ đóa mềm (5) (Floppy disk drive): Bộ phận dùng để đọc loại đóa mềm có từ tính,

kích thước nhỏ gọn, lưu trữ dữ liệu có kích thước nhỏ hơn 1,4 MB (khoảng 200 trang
giấy đánh máy), cho phép máy tính đọc dữ liệu từ máy khác, hoặc chép dữ liệu để
đem đi máy tính khác sử dụng. Danh từ ổ đóa mềm dùng để phân biệt với ổ cứng nằm
Bài 1: Giới thiệu
5
cố đònh trong hộp máy và có dung lượng rất lớn để chứa dữ liệu và chạy các phần
mềm hay chương trình có kích thước lớn. Trước đây có loại ổ đóa mềm dung lượng
1,2MB nhưng nay không còn sử dụng phổ biến nữa.

Ổ đóa CD hoặc DVD (6): Bộ phận dùng để đọc đóa CD hoặc DVD, các loại đóa này
chứa lượng dữ liệu rất lớn. Hầu hết các phần mềm hiện nay đều lưu trên đóa CD. Ổ đóa
này có thể nằm bên ngoài hoặc bên trong hộp máy chính (case).

Thiết bò xử lý

Máy chính (1): Tất cả các phần quan trọng của máy đều nằm trong hộp máy (Case).
Từ bộ phận này có các đầu nối nối ra nhiều thiết bò khác bên ngoài. Bên trong hộp
máy có các bộ phận quan trọng như bộ xử lý trung tâm (CPU), bảng mạch điện chính
(mainboard), bộ nhớ truy xuất ngẫu nhiên (RAM), ổ đóa cứng, ổ đóa mềm, ổ đóa CD,
DVD, các loại card có chức năng riêng, và bộ nguồn cung cấp điện. Trên mainboard có
các khe cắm mở rộng dùng để cắm các loại card, các loại card này dùng để nối kết
máy tính với các thiết bò ngoại vi khác như màn hình, máy in, máy quét…

Modem (8): Thiết bò dùng để liên lạc với máy khác và nối mạng Internet thông qua hệ
thống điện thoại

Ngoài các bộ phận phần cứng vừa được nêu, máy tính còn phải có phần mềm hay chương
trình để vận hành và điều khiển máy tính. Phần mềm máy tính được phân làm hai loại
chính:


Phần mềm hệ thống (System Software): bao gồm hai loại là hệ điều hành (Operation
System – OS) và tiện ích hệ thống (System Utilities). Máy tính không thể làm việc nếu
thiếu hệ điều hành, hệ điều hành đóng vai trò điều phối các chương trình ứng dụng,
chương trình nào chạy trước, chương trình nào chạy sau hay chạy song song. Hệ điều hành
đứng trung gian giữa phần cứng và các phần mềm, quản lý các bộ nhớ… Hiện nay hệ điều
hành được dùng phổ biến là Windows.

Tiện ích hệ thống dùng để hỗ trợ thêm cho hệ điều hành, có thể được bán kèm theo hệ
điều hành hoặc phải cài đặt riêng, chúng có thể là chương trình quản lý tập tin, lưu trữ dự
phòng dữ liệu (Backup), chống virus, nén hoặc giải nén tập tin

Phần mềm ứng dụng (Application Software): bao gồm tất cả các chương trình khác ngoài
phần mềm hệ thống cho phép ứng dụng máy tính vào công việc hàng ngày, đó có thể là
phần mềm tạo văn bản như Microsoft Word, có thể là phần mềm tạo bảng tính như
Micorsoft Excel, có thể là phần mềm đồ họa CorelDraw, có thể là phần mềm kế toán,
phần mềm nghe nhạc CD, xem phim DVD…

2.3 Những điều máy tính chưa thực hiện được

Bài 1: Giới thiệu
6
Máy tính có thể chuyển dữ liệu thành thông tin. Nhưng chúng không thể lái xe đạp, viết
thơ về tình yêu, về ánh trăng… ngoại trừ có ai đó tìm hiểu để viết một chương trình bắt
chước những hoạt động phức tạp này của con người bằng những hoạt động xử lý đơn giản
lặp đi lặp lại được sắp xếp theo thủ tục từng bước, công việc này gọi là thuật toán lập
trình (algorithm)

Vài nhà khoa học tin rằng có những thuật toán có thể thực hiện bất cứ việc gì, kể cả viết
một bài thơ hay về ánh trăng nhưng có điều chúng chưa được khám phá. Ví dụ, các chuyên
gia đã từng nghó rằng phải cần nhiều thập niên để máy tính có thể sao chép lời nói con

người một cách chính xác. Nhờ vào những thuật toán mới rất mạnh, ngày nay việc nhận
biết lời nói đã thành hiện thực. Trong thực tế, bạn có thể trang bò một máy tính cá nhân để
chuyển lời nói của bạn với độ chính xác 95% hoặc hơn – tốt hơn khả năng đánh máy chính
xác nhất của con người.

III. Các loại máy tính
Chúng ta có thể chia máy tính thành 2 loại, máy tính cho cá nhân và máy tính cho tổ chức.

3.1 Máy tính cho cá nhân (individual)

Các trạm máy chuyên dụng (professional workstations) trang bò các công cụ rất mạnh
cho kỹ sư, kiến trúc sư, người thiết kế mạch điện, phân tích tài chính và những người
chuyên nghiệp khác cần hoạt động xử lý đặc biệt và mạnh. Trong loại máy tính cho cá
nhân thì loại máy tính này là đắt nhất.

Máy tính cá nhân (personal computer – PC), còn gọi là máy vi tính (microcomputer) dùng
để thực hiện những nhu cầu cá nhân. Máy vi tính có giá ngày càng rẻ, tính năng rất mạnh
và hữu dụng. Hai loại PC được sử dụng phổ biến nhất là máy Macintosh của máy tính
Apple và dòng máy tính tương thích IBM được nhiều nhà sản xuất chế tạo.

Máy tính để bàn (Desktop computers) là các máy PC được thiết kế sử dụng riêng cho cá
nhân. Chúng được thiết kế để đặt vừa trên một bàn giấy văn phòng có tiêu chuẩn và được
trang bò một bộ nhớ đủ hiệu lực cùng với một bộ nhớ thứ cấp trên đóa để thực hiện các
công việc điện toán văn phòng. Máy để bàn cũng có thể được dùng để truy cập các tài
nguyên trên mạng như Internet.

Máy tính nối mạng (Network computers – NCs) có nhiều chức năng của một PC với giá
rất rẻ bởi vì chúng không cần các ổ đóa cứng, chúng lấy những phần mềm từ một mạng
máy tính. Trong thò trường tiêu dùng, WebTV là một dạng máy tính cho phép người tiêu
dùng dùng TV nối kết vào Internet.


Máy tính notebook rất nhỏ có thể bỏ vào một cặp xách tay. Nhiều máy notebook rất
mạnh và có đầy đủ bộ phận của một PC để bàn như card âm thanh nổi, ổ CD hay DVD và
modem. Người ta cũng nói về máy tính laptop, giống như notebook có thể bỏ vào một cặp
Bài 1: Giới thiệu
7
xách tay nhưng có kích thước lớn hơn và nặng hơn. Laptop ngày nay ít được sản xuất khi
máy notebook ngày càng có nhiều tính năng mạnh.

Máy tính subnotebook là loại notebook nhưng loại bỏ nhiều bộ phận, như ổ CD ổ mềm
để rời ra, để giảm kích thước và trọng lượng tối đa. Vài loại subnotebook có trọng lượng
nhẹ hơn 1,5 kg.

Thiết bò trợ giúp cá nhân kỹ thuật số (PDA), tập hợp những tính năng mạnh của
notebook thành một thiết bò nhẹ hơn rất nhiều nhỏ gọn bằng bàn tay. Hầu hết các thiết bò
này có những phần mềm thiết kế sẵn để lên lòch làm việc, nhắc nhở cuộc hẹn, gởi thư điện
tử, và có thể dùng bút viết lên màn hình để nhập dữ liệu.

3.2 Máy tính cho tổ chức

Máy siêu điện toán (supercomputers) là những máy tính cực nhanh được thiết kế để xử lý
khối lượng rất lớn dữ liệu khoa học. Một máy siêu điện toán IBM dùng cho bộ Năng lượng
Mỹ có thể thực hiện 3 nghìn tỷ lệnh chương trình mỗi giây và được trang bò bộ nhớ 2,5
nghìn tỷ byte. Giá ghi trên thẻ sản phẩm cho máy tính này là 95 triệu đô la.

Máy tính lớn (mainframes) là hệ thống máy có kích thước lớn để nhiều người dùng, được
thiết kế để xử lý những công việc khổng lồ trong những công ty lớn hoặc cơ quan chính
phủ, có thể lấy ví dụ xử lý việc đặt chỗ máy bay của một hãng hàng không nào đó. Vài
máy tính lớn được thiết kế để cho hàng chục ngàn người sử dụng, những người này dùng
thiết bò đầu cuối (terminal) hoặc các máy vi tính để kết nối với máy tính lớn. Các máy tính

lớn thường được đặt trong các căn phòng đặc biệt, bảo mật được điều hòa không khí. Chi
phí của chúng khoảng vài trăm ngàn đến vài triệu đô la Mỹ.

Máy tính nhỏ (minicomputers) cũng là các hệ thống nhiều người dùng, xử lý nhu cầu tính
toán cho các công ty hoặc tổ chức nhỏ hơn. Chúng cho phép vài chục, vài trăm thậm chí
vài ngàn người dùng cùng một lúc thông qua các thiết bò đầu cuối từ xa hoặc các máy vi
tính. Giá của các máy tính nhỏ trong khoảng từ 10.000 đến vài trăm ngàn đô la Mỹ.

Các máy chủ/phục vụ (servers), người dùng không sử dụng trực tiếp trên máy chủ, họ
phải móc nối vào máy chủ thông qua mạng máy tính để lấy chương trình và dữ liệu. Mạng
máy tính là tập hợp các máy tính được nối với nhau để có thể trao đổi dữ liệu. Để dùng
được máy chủ, người dùng phải chạy các chương trình của máy khách (clients) hướng dẫn
cách để tiếp xúc với máy chủ và lấy thông tin cần. Cách sử dụng máy tính dạng
client/server này đóng một vai trò quan trọng trong các doanh nghiệp thời nay. Máy chủ có
giá từ 5 ngàn đến 150 ngàn đô la Mỹ.

IV. Internet

Internet là mạng máy tính toàn cầu. Từ 1988 trở đi, mỗi năm Internet mở rộng gấp đôi.
Hiện nay Internet kết nối hàng trăm triệu người sử dụng khắp nơi trên thế giới. Internet
Bài 1: Giới thiệu
8
đang tạo ra một khối tài nguyên được chia sẻ rất lớn mà lòch sử loài người chưa từng thấy.
Ví dụ, theo ước tính tỷ lệ tăng trưởng Internet của tờ báo uy tín Science and Nature, hiện
nay có hàng tỷ trang thông tin có sẵn trên Internet và có khoảng 4 đến 5 triệu trang được
thêm vào mỗi ngày. Theo Internet Society, một tổ chức chuyên nghiệp phục vụ sự tiến bộ
của công nghệ Internet, Internet đang trên đà mở rộng và vượt qua qui mô mạng điện
thoại toàn cầu vào năm 2006.

Hầu hết người sử dụng dùng cách kết nối quay số (dial-up) để kết nối Internet, cần phải có

một modem và dây điện thoại. Nhà cung cấp dòch vụ Internet (ISP) sẽ thực hiện sự kết nối
này. Phạm vi hoạt động của một vài ISP có thể trong đòa phương, quốc gia thậm chí quốc
tế. American Online (AOL) và Microsoft Network (MSN) là hai trong số các ISP lớn nhất.

Bạn có thể tận dụng các dòch vụ Internet để sử dụng Internet. Dòch vụ Internet là một bộ
các tiêu chuẩn và phần mềm để người dùng có thể truy cập một loại tài nguyên cụ thể nào
đó có sẵn trên Internet. Các tài nguyên này có thể là các trang Web, tập tin, thư điện tử.
Hai loại phần mềm cần có là server và client. Phần mềm client cho phép người dùng đưa
ra yêu cầu tài nguyên cho server. Phần mềm server chấp nhận các yêu cầu này và gởi tài
nguyên đến cho client.

Sau đây là các dòch vụ Internet phổ biến nhất:
Thư điện tử (gọi là e-mail) cho phép người dùng Internet gởi và nhận thông điệp qua
mạng. Sự truyền tin không xảy ra tức thời nhưng hiếm khi vượt quá năm phút. E-mail
nhanh chóng trở nên không thể thiếu cho các cá nhân và các doanh nghiệp, đang dần thay
thế hệ thống thư bưu điện trên phương diện là công cụ chọn lựa để truyền thông tin văn
bản giữa các cá nhân với nhau. Để sử dụng E-mail Internet, bạn cần có một đòa chỉ e-mail
và một tài khoản e-mail. Đòa chỉ và tài khoản sẽ do ISP của bạn cung cấp.

World Wide Web (còn gọi là Web hoặc WWW) cho phép người dùng Internet truy cập
hàng triệu trang Web trên khắp thế giới. Để dùng Web, bạn cần một chương trình client
gọi là trình duyệt Web (Web browser). Các trình duyệt Web cung cấp các công cụ để truy
cập các web site, tìm kiếm web và đánh dấu ghi nhớ những web site ưa thích của bạn.

File Transfer Protocol (FPT) gọi là giao thức truyền tập tin cho phép người dùng Internet
trao đổi tập tin qua Internet. Các trình duyệt web có thể đóng vai trò như FTP clients.

Thương mại điện tử (còn gọi là e-commerce) dùng Internet để cung cấp hàng hóa và dòch
vụ cho công chúng và các doanh nghiệp khác. Nơi bán lẻ trên Web, gọi là e-tailers, có thể
bán sách, CD, quần áo, đồ chơi và nhiều thứ khác. Sự thăng trầm của các nhà bán lẻ điện

tử nổi tiếng ví dụ như Amazon.com. làm nên các câu chuyện đáng chú ý, nhưng số lượng
lớn thương mại điện tử liên quan sự giao dòch doanh nghiệp với doanh nghiệp (b2b), liên
kết các công ty với nhà cung cấp, phòng nghiên cứu và các khách hàng công nghiệp.
Thương mại điện tử không thay thế các phương thức mua bán trước đây, nhưng dạng mua
bán này đang tăng trưởng. Trong năm 2000, thương mại điện tử chiếm hai phần trăm tổng
sản phẩm quốc dân ở Mỹ.
Bài 1: Giới thiệu
9

Bạn sẽ tìm hiểu các loại hình dòch vụ này nhiều hơn ở bài học sau.

V. Lòch sử phát triển máy tính và xu hướng tương lai

Lòch sử máy tính cho thấy những thành công và thất bại qua đó thể hiện những bài học
quan trọng cho nền công nghiệp máy tính. Lòch sử phát triển của máy tính được đánh dấu
bằng chuỗi các sự kiện, từ những thiết bò tính cơ học đầu tiên với những nhánh điện cơ
khổng lồ được chế tạo đầu thế chiến thứ II, kế tiếp là công nghệ điện tử – tiền đề cho máy
tính ngày nay – với sự thành công của máy tính điện tử đầu tiên ENIAC cuối những năm
1940. Khi nói về máy tính kỹ thuật số, lòch sử cũng đề cập đến lòch sử của bốn thế hệ. Sau
đây là đôi nét chi tiết.

5.1 Các giai đoạn tiến tới tin học hiện đại

Thiết bò tính (calculator)

Trong những thế kỷ thứ 16 và 17, các nhà toán học Châu u đã phát triển một loạt các
thiết bò tính dùng cơ cấu bộ máy đồng hồ và các tai quay. Các thiết bò này không phải là
các máy điện toán theo nghóa hiện đại. Một thiết bò tính là một chiếc máy thực hiện các
chức năng số học với các con số, bao gồm chức năng cộng, trừ, nhân và chia.


Bước ngoặt công nghệ: điện tử học

Các máy điện toán ngày nay có tính tự động, chúng thực hiện hầu hết các nhiệm vụ không
cần sự can thiệp của con người. Chúng đòi hỏi một loại công nghệ không thể tưởng tượng
được trong thế kỷ 19. Nhà phát minh thế kỷ 19, Charles Babbage có một thiết kế đầu tiên
cho máy tính hiện đại, dùng cơ chế bộ máy đồng hồ, nhưng công nghệ thời ấy không thể
tạo ra các bánh răng khác nhau với độ chính xác cần thiết cần cho thiết bò hoạt động.

Công nghệ cho ngành máy tính ngày nay gọi là điện tử học. Điện tử học liên quan đến
hành vi và hiệu ứng của các điện tử khi chúng đi qua các thiết bò tại đó dòng chảy của các
điện tử được hạn chế bằng nhiều cách. Thiết bò điện tử đầu tiên là ống chân không, đó là
một ống thủy tinh không có không khí được chế tạo bởi Thomas Edison vào những năm
1880. ng chân không có thể được dùng để khuếch đại, đó là lý do chúng dùng cho các
máy thu thanh và thu hình buổi ban đầu và dùng để chuyển mạch. Chuyển mạch là một
trong các dạng vận hành của máy tính. Thực tế, ống chân không đã được dùng trong tất cả
các thiết bò điện tử (bao gồm thiết bò âm thanh nổi và máy tính) cho đến khi có các thiết bò
bán dẫn. Thiết bò bán dẫn hoạt động như ống chân không, nhưng chúng là thể rắn kết hợp
các chất khác nhau để hạn chế hoặc điều khiển dòng chảy của điện tử theo hướng đã đònh.

ENIAC

Bài 1: Giới thiệu
10
Với sự ra đời của ống chân không, cuối cùng công nghệ đã hiện diện để tạo ra máy tính
hiện đại thật sự lần đầu tiên, nhu cầu chiến tranh đã tạo ra vốn và động lực để chế tạo nó.

Trong chiến tranh thế giới thứ II, quân đội Mỹ cần một cách thức nhanh hơn để tính toán
đường đi của tên lửa. Quân đội đã yêu cầu tiến sỹ John Mauchly (1907 – 1980) tại đại
họcPennsylvania phát triển một chiếc máy cho mục đích này. Mauchly làm việc với một
sinh viên tốt nghiệp, J.Presper Eckert (1919-1995) để chế tạo thiết bò. Mặc dù được quân

đội đặt làm để phục vụ chiến tranh, nhưng ENIAC (tên của thiết bò) đã không hoàn tất cho
đến 1946 sau khi chiến tranh đã kết thúc.

Mặc dù được dùng chủ yếu để giải quyết các bài toán đầy thử thách, ENIAC thật sự là
một máy tính kỹ thuật số có thể lập trình được so với một thiết bò tính toán điện tử. ENIAC
có tốc độ nhanh hơn một ngàn lần so với bất cứ thiết bò tính thời đó, nó thu hút trí tưởng
tượng của công chúng sau khi các bản tin trên báo mô tả nó như là một “bộ não điện tử”.
ENIAC chỉ cần mất 30 giây để tính các đường bay trong khi tính tay phải mất 40 giờ.

Khái niệm chương trình lưu trữ

ENIAC có một số bất tiện khi sử dụng. Nó sẽ không chạy nổi quá vài phút nếu không thổi
mát ống khí, và làm cho hệ thống ngưng hoạt động. Tệ hơn, mỗi khi cần giải một bài toán
mới, nhân viên phải nhập những hướng dẫn mới một cách khó khăn là mắc lại dây điện
cho toàn bộ máy. Giải pháp cho sự bất tiện này là khái niệm chương trình được lưu trữ,
một ý tưởng xảy đến cho mọi người làm việc với các máy tính điện tử sau thế chiến thứ II.

Với khái niệm chương trình được lưu trữ, chương trình máy tính cũng như dữ liệu được lưu
trong bộ nhớ máy tính. Một ưu điểm chính của kỹ thuật này là máy tính lặp lại một hướng
dẫn có trước một cách dễ dàng. Hầu hết các nhiệm vụ mà các máy tính ngày nay thực
hiện bắt nguồn từ sự lặp lại các thao tác nào đó hết lần này đến lần khác. Nhưng ưu điểm
quan trọng nhất là sự tiện lợi. Bạn không cần phải mắc lại dây điện máy tính để cho nó
thực hiện một việc khác. Nếu không có khái niệm chương trình lưu trữ, các máy tính sẽ
vẫn còn thực hiện những công việc cụ thể, như tính toán đường đạn cho tên lửa mà thôi.
Tất cả các máy tính được bán thương mại hóa đều dùng khái niệm chương trình lưu trữ.

5.2 Các thế hệ máy tính

Thế hệ đầu tiên (thập niên 1950)


Cho đến 1951, các máy tính điện tử là đặc quyền của các nhà khoa học, kỹ sư và quân đội.
Không ai thử tạo máy tính kỹ thuật số điện tử để kinh doanh. Khi Trường Đại học
Pennsylvania nghiên cứu các kế hoạch của họ để chuyển ENIAC thành sản phẩm thương
mại, các viên chức của trường đã phát biểu trường họ sở hữu bằng sáng chế kép. Eckert và
Mauchly từ chức để lập công ty riêng, Công ty Máy tính Eckert-Mauchly, và giành được
một tài trợ của chính phủ để phát triển chiếc máy của họ. Tuy nhiên họ đánh giá thấp
những nỗ lực cần có và đã không thể phân phối máy tính nếu họ không được bảo lãnh bởi
Bài 1: Giới thiệu
11
Remington Rand, nhà sản xuất dao cạo điện. Với sự hỗ trợ tài chính của Rand, Eckert và
Mauchly phân phối chiếc UNIVAC đầu tiên cho Cục Điều Tra Dân Số Mỹ vào 1951.

UNIVAC nổi tiếng khi dự đoán chính xác người thắng cử trong cuộc bầu cử tổng thống
năm 1952, Dwight Eisenhower. Kể từ đó, máy tính được dùng để dự đoán người thắng cử
trong mỗi đợt bầu cử tổng thống.

Máy tính thế hệ đầu dùng đầu vào là những thẻ đục lỗ (punched card), mặc dù UNIVAC
có thể tiếp nhận được băng từ. Các ống chân không “đói năng lượng” dùng làm bộ nhớ,
tuy nhiên chúng thường xuyên bò hư do đó các máy tính thế hệ mới có thời gian không
hoạt động rất lớn. Xét tất cả những hạn chế của máy tính thế hệ đầu thì UNIVAC hiện đại
hơn nhiều so với ENIAC bởi vì nó dùng ít ống chân không hơn do đó đáng tin cậy nhiều
hơn. Nó ứng dụng khái niệm chương trình lưu trữ, trang bò một máy đánh chứ có chức năng
giám sát để điều khiển máy tính và sử dụng băng từ để lưu trữ với khối lượng vô hạn. Vì
tính năng chương trình lưu trữ cho phép người dùng chạy các chương trình khác nhau,
UNIVAC được xem là chiếc máy tính có mục đích chung (general-purpose) thành công
đầu tiên. Máy tính có mục đích chung có thể dùng cho các mục đích kinh doanh và khoa
học, phụ thuộc vào cách nó được lập trình.

Mặc dù khái niệm chương trình lưu trữ làm cho các máy tính thế hệ đầu dễ sử dụng hơn
nhưng chúng phải được lập trình bằng ngôn ngữ máy (machine language), được soạn theo

các con số 0 và 1 bởi vì các máy tính điện tử dùng hệ thống số nhò phân, chỉ chứa các con
số 0 và 1. Các số nhò phân thường làm cho người ta gặp khó khăn khi đọc. Hơn nữa, mỗi
loại máy tính có một ngôn ngữ máy duy nhất được thiết kế để kết nối trực tiếp với tập
lệnh (instruction set) của bộ xử lý. Do làm việc với ngôn ngữ máy rất khó, nên chỉ có một
ít chuyên gia hiểu cách làm thế nào lập trình cho các máy tính thû đầu này.

Nhận thấy các máy tính mới của công ty Rand đe dọa công cuộc kinh doanh cốt lõi của
mìnhï, IBM đã phản ứng nhanh chóng. Vào 1953, công ty đã giới thiệu chiếc máy tính
thương mại đầu tiên của họ, IBM 701, nhưng chiếc máy này không phổ biến vì nó không
hoạt động với thiết bò thẻ đục lỗ của IBM. IBM 701 nhanh chóng được nối đuôi bởi IBM
650 thành công hơn và thân thiện với người dùng hơn, nó giao diện được với hầu hết công
nghệ thẻ đục lỗ phổ biến trên thế giới. Nhờ vào nỗ lực của lực lượng bán hàng, IBM đã
bán hơn một ngàn IBM 650 trong năm đầu tiên khi có sự hiện diện của máy tính.

Thế hệ thứ hai (đầu những năm 1960)

Thế hệ máy tính đầu tiên mang tiếng là không đáng tin cậy chủ yếu vì các ống chân
không thường bò cháy. Ví dụ để giữ cho ENIAC hoạt động, các sinh viên với những chiếc
xe chất đầy các bóng chân không phải thay bằng tay trung bình hàng chục cái bò hư trong
một phiên làm việc. Nhưng vào năm 1947, phát minh của Bell Laboratories, bóng bán dẫn,
đã thay đổi cách chế tạo các máy tính, dẫn đến sự hình thành thế hệ thứ hai của công nghệ
máy tính. Một bóng bán dẫn là một thiết bò điện tử nhỏ, giống bóng chân không, dùng để
điều khiển dòng điện tử trong mạch điện, nhưng có trọng lượng, sức tiêu thụ điện và tỏa
nhiệt rất nhỏ so với bóng chân không. Bởi vì các máy tính thế hệ hai được chế tạo bằng
Bài 1: Giới thiệu
12
bóng bán dẫn thay cho bóng chân không nên các máy tính này nhanh hơn, nhỏ hơn và tin
cậy hơn các máy tính thế hệ đầu tiên.

Các máy tính thế hệ thứ hai nhìn gần giống như những chiếc máy chúng ta dùng ngày nay.

Mặc dù chúng vẫn sử dụng các thẻ đục lỗ để nhập liệu, nhưng chúng có máy in, lưu trữ
bằng băng từ, lưu trữ bằng đóa. Trái với thế hệ đầu chỉ dựa vào ngôn ngữ máy, thế hệ thứ
hai đã thấy sự phát triển của ngôn ngữ lập trình cấp cao đầu tiên (high-level programming
languages), dễ hiểu và làm việc hơn so với ngôn ngữ máy. Ngôn ngữ lập trình cấp cao cho
phép người lập trình viết những hướng dẫn chương trình bằng cách dùng những lệnh giống
tiếng Anh và các số A-rập. Không giống như hợp ngữ (assembly language), ngôn ngữ cấp
cao không có tính đặc thù của máy. Điều này làm cho các máy tính của những nhà sản
xuất khác nhau có thể dùng dùng cùng chương trình. Hai ngôn ngữ lập trình được giới thiệu
ở thế hệ thứ hai là COBOL (Common Business_Oriented Language) và FORTRAN
(Formula Translator), chúng vẫn tồn tại trong các ngôn ngữ lập trình sử dụng rộng rãi
ngày nay. COBOL được ưa chuộng trong doanh nghiệp, và FORTRAN được các nhà khoa
học và kỹ sư sử dụng.

Chiếc máy tính thế hệ thứ hai hàng đầu là IBM 1401 hoàn toàn bằng bán dẫn, nó gia tăng
khối lượng kinh doanh cho loại máy tính lớn (mainframe computer). Công ty đã xuất hơn
12.000 máy tính loại này. Kiểu 1620, anh em với 1401, được phát triển cho tính toán khoa
học và trở thành một chọn lựa cho các phòng thí nghiệm nghiên cứu của các trøng đại
học.

Trong tính toán kinh doanh, năm 1959 tập đoàn General Electric có ERMA (Electronic
Recording Machine Accounting), công nghệ đầu tiên có thể đọc được những ký tự đặc biệt.
Các ngân hàng cần hệ thống này để quản lý khối lượng ngày càng khổng lồ sec thanh
toán. Bởi vì ERMA số hóa thông tin của tài khoản ký gởi, nên nó đặt nền móng cho
thương mại điện tử.

Năm 1963, có một phát triển quan trọng là bộ ký tự cho máy tính ASCII (American
Standard Code for Information Interchange), cho phép máy tính trao đổi thông tin và là
tiêu chuẩn công nghiệp máy tính đầu tiên. Mặc dù ASCII đã không có tác động đáng kể
trong 15 năm, nhưng sau đó nó minh họa cho tầm quan trọng của việc tiêu chuẩn hóa đối
với quản trò công nghiệp.


Năm 1964, IBM giới thiệu một dòng máy tính mới gọi là System/360 thay đổi cách nghó
của con người về máy tính. Một dòng các máy tính tương thích (compatible computer – là
các máy tính có thể dùng các chương trình và thiết bò ngoại vi giống nhau), System/360
loại bỏ sự khác biệt giữa các máy tính dùng chủ yếu cho kinh doanh và những máy dùng
cho khoa học. Tập lệnh của máy tính lớn đủ để bao gộp hai mục đích sử dụng.

Thế hệ thứ ba (Giữa những năm 1960 đến giữa những năm 1970)

Bài 1: Giới thiệu
13
Thế hệ một và hai có thể tách biệt rõ bởi sự thay thế bóng chân không bằng bóng bán dẫn.
Tuy nhiên thế hệ thứ ba so với thế hệ thứ hai không hoàn toàn rạch ròi bởi liên quan đến
nhiều cách tân quan trọng.

Một cách tân quan trọng là chia sẻ thời gian (timesharing). Những máy tính thế hệ hai thû
đầu sử dụng khá bất tiện bởi vì chúng chỉ có thể chạy mỗi lần một công việc. Người sử
dụng phải đưa những thẻ đục lỗ cho người vận hàng máy, sau đó người này chạy chương
trình và trả kết quả lại cho người sử dụng. Kỹ thuật này, gọi là xử lý theo đợt (batch
processing), rất tốn thời gian và không hiệu quả. Tuy nhiên khi chia sẻ thời gian, máy tính
được thiết kế sao cho nhiều người có thể sử dụng cùng một lúc. Họ truy cập máy tính từ xa
bằng phương tiện thiết bò đầu cuối (terminals), các thiết bò điều khiển được trang bò một
màn hình video và bàn phím. Trong hệ thống chia sẻ thời gian được thiết kế hợp lý, người
dùng có một cảm giác ảo là không có ai đang sử dụng máy tính.

Ở thế hệ thứ ba, sự kiện công nghệ then chốt là sự phát triển máy tính dựa trên mạch tích
hợp hay vi mạch IC (Integrated Curcuit), tích hợp nhiều bán dẫn và mạch điện tử trên một
miếng silicon nhỏ. Mạch tích hợp được phát minh bởi Jack St. Clair Kirby và Robert Noyce
vào năm 1958, hứa hẹn sẽ giảm chi phí sản xuất của máy tính đáng kể bởi vì mạch IC có
thể nhân đôi chức năng của bán dẫn nhưng có chi phí ít hơn nhiều so với bán dẫn. Mạch IC

đầu tiên dùng một công nghệ ngày nay gọi là tích hợp cỡ nhỏ (small-scale integration,
SSI), gồm 10 đến 20 bóng bán dẫn trên một con chip. Cuối những năm 1960, các kỹ sư đã
đạt đến tích hợp cỡ trung (medium-scale integration, MSI), có thể tích hợp 20 đến 200 bán
dẫn trên một con chip. Đầu thập niên 70, đạt đến tích hợp cỡ lớn (LSI), một con chip có
thể chứa 5.000 bán dẫn.
Công nghệ mạch tích hợp đã tháo gỡ giai đoạn phát minh của công nghệ máy tính. Ở thế
hệ thứ hai, các nhà khoa học đã biết rằng có thể sản xuất ra các máy tính mạnh hơn khi
tạo ra nhiều mạch phức tạp. Nhưng vì các mạch này phải nối bằng thủ công, các máy tính
này quá phức tạp và sẽ rất đắt. Với các mạch tích hợp, những thiết kế mới và mang tính
cách tân trở thành hiện thực lần đầu tiên.
Với mạch IC, có thể chế tạo các máy tính nhỏ hơn, rẻ nên nhiều tổ chức có khả năng mua
chúng. Tuy nhiên, các nhà sản xuất máy tính lớn như IBM đã không nhận thức ra thò
trường này. Không có khả năng thấy được thò trường mới, các nhà sản xuất máy tính lớn đã
bỏ ngỏ thò trường máy tính nhỏ này cho những công ty mới. Công ty đầu tiên là Digital
Electronic Corporation (DEC) đã khởi đầu ngành công nghiệp máy tính nhỏ
(minicomputer).
Các máy tính nhỏ đầu tiên của DEC sử dụng mạch tích hợp để giảm giá. Kiểu PDP-8
(1965) có khả năng đặt gọn trong góc một căn phòng không cần sự giám sát liên tục của
người vận hành máy. Thêm vào đó, người dùng có thể truy cập máy tính từ những vò trí
khác nhau trong cùng tòa nhà bằng phương tiện chia sẻ thời gian. Giá niêm yết của máy
tính nhỏ này bằng một phần tư giá của máy tính lớn truyền thống. Lần đầu tiên, các công
ty vừa và những trường đại học nhỏ đã có thể mua được những máy tính này.
Bài 1: Giới thiệu
14
Năm 1969, có rất nhiều ngôn ngữ lập trình được sử dụng nên IBM đã quyết đònh tách hệ
thống của họ và bán phần cứng và phần mềm riêng biệt nhau. Trướcđó, các nhà sản xuất
máy tiếp nhận phần mềm đi theo với phần cứng đã mua. Lúc này, người mua có thể mua
phần mềm từ chỗ khác với nhà sản xuất phần cứng, nếu họ muốn. Sự tự do này khởi đầu
cho ngành công nghiệp phần mềm.
Công nghiệp máy tính nhỏ đã cỗ vũ mạnh mẽ cho các tiêu chuẩn, chủ yếu là dùng để

phân biệt những thông lệ kinh doanh của họ với những nhà sản xuất máy tính lớn. Trong
ngành máy tính lớn, thông lệ chung là tạo cấu trúc quyền sở hữu (proprietary architecture)
(còn gọi là cấu trúc đóng) để nối với các thiết bò máy tính. Trong cấu trúc quyền sở hữu,
công ty dùng một kỹ thuật bí mật để xác đònh cách thức những bộ phận máy tính nối với
nhau. Nếu muốn có một máy in để dùng, phải mua máy in này ở cùng một hãng đã bán
máy tính. Trong khi đó các công ty máy tính nhỏ nhấn mạnh vào cấu trúc mở (open
architecture), khi đó các bộ phận khác nhau của máy tính kết nối với nhau theo những tiêu
chuẩn được ban bố, không độc quyền.

Thế hệ thứ tư (1975 đến nay)
Khi có cuộc cách mạng mạch tích hợp, các kỹ sư đã biết cách chế tạo những mạch phức
tạp hơn trên một con chip silicon. Với công nghệ tích hợp cỡ cực lớn (Very-large-scale
integration, VLSI), họ có thể sắp hơn 5000 bán dẫn trên một con chip, đủ cho một đơn vò
xử lý. Điều tất yếu là sẽ có ai đó thử chế tạo một con chip chứa các mạch xử lý cốt lõi
trong một máy tính.
Đầu những năm 1970, một kỹ sư của Intel Corporation, tiến só Ted Hoff, được giao nhiệm
vụ thiết kế một mạch tích hợp để cấp năng lực cho một chiếc đồng hồ kỹ thuật số. Trước
đó, những mạch này đã được thiết kế lại mỗi khi một kiểu đồng hồ mới được giới thiệu.
Hoff đã quyết đònh chế tạo một máy điện toán nhỏ trên một con chip để tránh việc thiết kế
lại tốn chi phí. Kết quả thể hiện trong Intel 4004, con vi xử lý đầu tiên của thế giới. Một
con chip vi xử lý chứa toàn bộ đơn vò điều khiển và đơn vò số học logic của một máy tính.
So với bộ vi xử lý ngày nay, Intel 4004 là một thiết bò đơn giản, chứa 2200 bán dẫn. Tiếp
theo sau 4004 là 8080, và máy vi tính đầu tiên sớm xuất hiện, máy vi tính (microcomputer)
là máy tính dùng các bộ vi xử lý cho đơn vò xử lý trung tâm (CPU) để xử lý dữ liệu.

Cũng theo kiểu lặp lại trước đây là những công ty hiện tại không nhận ra thò trường cho
máy tính nhỏ và rẻ hơn, những công ty máy tính lớn xem máy vi tính không khác một món
đồ chơi. Họ đã để thò trường bỏ ngỏ cho số đông các công ty mới thành lập. Công ty đầu
tiên là MITS, một công ty Arizona, đã tiếp thò một bộ máy vi tính, chiếc này gọi là Altair
sử dụng con chip 8080 của Intel.


Khoảng giữa những năm 1970, những người có sở thích máy tính đã lắp ráp các máy vi
tính từ những bộ phận hoặc từ những phần đã dùng mua từ những nhà cung cấp điện tử.
Tuy nhiên, hai nhà khởi nghiệp trẻ, Steve Jobs và Steve Wozniak, đã ước mơ một “chiếc
máy tính thích hợp”. Họ muốn một máy vi tính thật đơn giản có thể lấy ra từ một cái hộp,
Bài 1: Giới thiệu
15
cắm điện và dùng nó, giống như khi dùng một cái lò nướng bánh. Jobs và Wozniak đã lập
một xưởng trong một nhà xe sau khi bán chiếc xe Volkzwagen với giá 1300$ để làm vốn.
Họ đã lập nên công ty máy tính Apple vào tháng 4 năm 1977. Sản phẩm đầu tiên của họ,
Apple I, là một bảng xử lý dự kiến cho những người yêu thích máy tính, nhưng qua kinh
nghiệm chế tạo Apple I, họ đã chế tạo ra hệ máy Apple II.

Máy Apple II đã thành công rất lớn. Nó có hệ điều hành, bàn phím, màn hình và ổ đóa
mềm. Apple II là một chiếc máy vi tính dựa trên vi xử lý 6502 của Motorola. Công ty
Apple mau chóng trở thành một trong các công ty có ảnh hưởng mạnh đến thò trường máy
vi tính, làm Jobs và Wozniak và những nhà đầu tư khác thành triệu phú. Sự ra đời phần
mềm bảng tính điện tử đầu tiên vào 1979 VisiCalc đã khẳng đònh với thế giới rằng máy vi
tính không chỉ là món đồ chơi. Tiếp theo đó, Apple II không những tìm được thò trường
trong doanh nghiệp mà còn cho trường học và hộ gia đình.

Vào 1980, IBM đã quyết đònh không thể bỏ qua thò trường máy vi tính quá hứa hẹn và đã
ký hợp đồng với công ty Microsoft viết một hệ điều hành cho một máy vi tính mới dựa
trên con vi xử lý Intel 8080. Năm 1981, máy tính cá nhân IBM (PC) chạy bằng chip vi xử
lý của Intel và hệ điều hành MS-DOS của Microsoft được tung ra thò trường. Dựa vào các
bài học trước đây của thò trường máy tính nhỏ, IBM áp dụng mô hình cấu trúc mở cho PC,
chỉ có một ít bộ phận chế tạo trong máy có mã bản quyền. IBM đã mời các nhà cung cấp
bên thứ ba chế tạo các thiết bò phụ tùng cho IBM PC, và IBM đã không phản đối các công
ty cạnh tranh chế tạo những máy tính tương thích với IBM (gọi là IBM-compatible), những
máy này có thể chạy các phần mềm được phát triển cho IBM PC. Điều này làm cho thò

trường hưng thònh vì nhiều công ty phần cứng và phần mềm có cam kết với nhau.

Thò phần máy PC của IBM mau chóng bò giảm. Sự giảm thò phần là do cạnh tranh khắc
nghiệt từ các công ty chế tạo máy tương thích, nhưng một phần cũng do cấp quản lý IBM
nhất đònh cho rằng PC giống món đồ chơi, được dùng chủ yếu để giới thiệu cho người mua
mua những hệ thống máy tính lớn hơn của IBM. Cũng trớ trêu là vì nhãn hiệu IBM rất nổi
tiếng trong giới kinh doanh, nên PC của IBM đã giúp hình thành một tư tưởng PC không
chỉ là món đồ chơi hay máy tính cho giáo dục mà còn đóng vai trò quan trọng trong một
doanh nghiệp.

Apple II và PC của IBM đã tạo nên ngành công nghiệp máy tính cá nhân, nhưng chúng
cũng hình thành sự phân chia tiếp tục đến ngày nay. Bởi vì phần mềm chỉ được gia công
cho một tập lệnh trong vi xử lý cho trước, phần mềm viết cho một loại máy này có thể
không chạy trực tiếp được trên loại máy khác. Apple chọn vi xử lý Motorola cho các dòng
máy của họ, IBM chọn Intel. Các PC ngày nay dùng vi xử lý nâng cao của Intel; hậu duệ
của Apple II, Macintosh dùng các con chip của Motorola.

Tại sao Apple II và PC của IBM thành công lớn? Một phần có thể quy cho là các bài học
từ ngành công nghiệp máy tính nhỏ. Những người mua máy tính không thích việc các nhà
sản xuất dùng các giao thức độc quyền để buộc họ mua các phụ tùng cùng một hãng. Cả
Apple II và IBM PC đều là các hệ thống cấu trúc mở cho phép người dùng mua máy in,
màn hình và phụ tùng khác sản xuất bởi bên thứ ba. Mặc dù chiến lược cấu trúc mở sẽ làm
Bài 1: Giới thiệu
16
ảnh hưởng hoạt động kinh doanh ban đầu, nhưng sau cùng công ty sẽ có lợi vì điều này sẽ
khuyến khích sự phát triển của toàn bộ ngành công nghiệp có liên quan đến hệ thống máy
tính của công ty. Khi có càng nhiều phần mềm và phụ kiện, số người sử dụng sẽ tăng và
làm cho lợi nhuận tăng.

Máy vi tính đầu tiên không phải dễ sử dụng. Để vận hành chúng, người dùng phải đối phó

với giao diện người dùng bằng dòng lệnh (command-line user interface). Giao diện người
dùng (UI) là một cách thức để người dùng điều khiển máy tính. Trong giao diện này, người
dùng phải đánh các lệnh để thực hiện những hoạt động như đònh dạng đóa, hay bắt đầu
chạy một chương trình. Mặc dù Apple II và IBM PC rất phổ biến lúc đó, nhưng để trở
thành một vật dụng đặt trong nhà và văn phòng thì chúng phải dễ sử dụng hơn. Đó là lý do
vì sao giao diện người dùng bằng đồ họa (Graphic User Interface, GUI) cũng là một đổi
mới quan trọng.

GUI đầu tiên được phát triển tại Trung tâm Nghiên cứu Palo Alto của công ty Xerox
(PARC) vào những năm 1970. Trong giao diện đồ họa, người dùng tương tác với chương
trình chạy trong những cửa sổ riêng có thể thay đổi kích thước được. Họ có thể dùng chuột
(cũng được phát triển tại PARC) để chọn những tùy chọn của chương trình bằng cách nhấp
những biểu tượng (gọi là icon) đại diện cho các chức năng của chương trình. Trong khu vực
làm việc của chương trình, người dùng sẽ thấy những văn bản giống như khi chúng được in
trên những máy in đồ họa. Để in những văn bản này, các nhà khoa học của PARC cũng
phát triển máy in laser.

Rất khó để đánh giá thấp những đóng góp mà các nhà khoa học của PARC đã thực hiện
cho ngành máy tính. Gần như mọi công nghệ chúng ta dùng hôm nay kể cả mạng nội bộ
Ethernet, cũng xuất phát từ nghiên cứu của PARC. Nhưng tập đoàn Xerox chưa bao giờ
thành công khi tư bản hóa công nghệ của PARC, chúng ta đã nhớ rằng các công ty lớn
thỉnh thoảng rất khó khăn để nhận diện ra thò trường mới.

Tiềm năng công nghệ của PARC đã không bò bỏ lỡ bởi một vò khách viếng thăm vào cuối
những năm 1970, Steve Jobs của công ty Apple. Nhanh chóng chộp lấy ý nghóa của công
nghệ ở PARC, nhà khởi nghiệp trẻ tài giỏi trở về Apple và đánh cuộc tương lai của Apple
với một máy tính mới, mang ảnh hưởng của PARC gọi là Macintosh. Vào 1984, Apple đã
đưa ra bán chiếc Macintosh đầu tiên, với tất cả các phát kiến của PARC, bao gồm font
chữ, biểu tượng, các cửa sổ, điều khiển bằng chuột và những danh mục kéo xuống. Công
ty Apple duy trì sự tiên phong của công nghệ trong lónh vực này cho đến khi Microsoft đưa

ra phiên bản sửa đổi của Microsoft Windows vào đầu những năm 1990. Windows được
thiết kế để chạy trên các máy tính tương thích IBM, những máy tính này có số người dùng
rất lớn và nói chung rẻ hơn các máy Macintosh. Windows cũng thể hiện ảnh hưởng của
những phát minh PARC và ngày nay là chương trình giao diện người dùng trên máy tính
được sử dụng rộng rãi trên thế giới.

Mặc dù phần cứng thế hệ thứ 4 được cải thiện với nhòp độ chóng mặt, nhưng phần mềm thì
không như vậy. Trong suốt thế hệ thứ tư, người lập trình phải tiếp tục dùng các ngôn ngữ
cấp cao. Thực tế, COBOL bắt đầu có từ thế hệ thứ hai, vẫn là ngôn ngữ được sử dụng rộng
Bài 1: Giới thiệu
17
rãi trên thế giới. Ngôn ngữ cấp cao không hiệu quả, tốn thời gian, và dễ mắc lỗi. Tóm lại,
phần mềm làm trì hoãn sự phát triển của ngành máy tính cho đến rất gần đây. Sau này có
vài cải tiến trong ngôn ngữ lập trình, như lập trình hướng đối tượng (Object-Oriented, OO),
một phương pháp chia các chương trình thành các thành phần có thể dùng đi dùng lại được,
bạn sẽ biết thêm trong bài học số 4, các thế hệ ngôn ngữ lập trình.

Thế hệ máy tính thứ 5?

Qua nhiều năm, các chuyên gia dự đoán rằng thế hệ kế tiếp nếu có sẽ được gán tên là trí
tuệ nhân tạo (AI), theo đó máy tính sẽ có những đặc trưng của trí tuệ con người. Tuy nhiên
sự tiến triển đến mục tiêu đó không hứa hẹn lắm.

Về mặt công nghệ, chúng ta vẫn ở thế hệ thứ 4, các kỹ sư đang cố gắng xem có bao nhiêu
bán dẫn có thể nén trên một con chip. Nỗ lực đơn độc này sẽ mang đến vài điều gọi là trí
tuệ nhân tạo, ví dụ như khả năng của máy tính nhận dạng và chép lại giọng nói của con
người. Mặc dù công nghệ của thế hệ thứ tư chắc chắn sẽ đạt đến những rào cản vật lý, các
kỹ sư không mong đạt được điều này trong nhiều năm (có thể vài thập kỷ).

Sự khác nhau thật sự từ cuối những năm 1990 so với những năm trước đó là sự tiến bộ như

tên lửa của mạng máy tính, ở cấp độ mạng nội bộ (LAN) và mạng diện rộng (WAN). Hiện
nay, nhiều căn nhà có mạng LAN để nối các máy tính trong nhà và làm cho chúng có thể
truy cập Internet. Một phát kiến ở thế hệ thứ ba là sự phát triển các tiêu chuẩn cho mạng
máy tính. Từ cuối những năm 1960, Cơ quan Dự án Nghiên cứu Cấp cao của Mỹ (ARPA)
đã hỗ trợ một dự án phát triển mạng diện rộng (WAN), một mạng máy tính có khả năng
nối nhòp các lục đòa. Chủ nhiệm là Vincent Cerf, dự án đã tạo ra một mạng thử nghiệm gọi
là ARPANET, nối một số trường đại học đã có hợp đồng nghiên cứu với Bộ Quốc Phòng.
Kết quả của dự án này sau đó là Internet đã làm rung chuyển thế giới. Rất thú vò là
APRANET đã chứng minh một điều từng xảy ra trong lòch sử máy tính: người phát minh
thường không thể đoán được người khác sẽ sử dụng những gì họ tạo ra như thế nào.
ARPRANET được thiết kế để các nhà khoa học truy cập các siêu máy tính từ xa. Tuy
nhiên, hầu hết người sử dụng lại xem đó là một phương tiện liên lạc. Họ đã triển khai
những cuộc tán gẫu thời gian thực, thư điện tử và các nhóm tin tức. Internet tiếp tục đóng
vai trò xã hội quan trọng đối với người dùng.

Năm 1973, APRANET hoàn toàn thực hiện xong giao thức Internet (còn gọi là TCP/IP), là
các tiêu chuẩn cho phép Internet hoạt động. Một cách trùng hợp, trong năm đó Bob
Metcalfe và các nhà nghiên cứu khác ở PARC của tập đoàn Xerox đã phát triển các tiêu
chuẩn cho mạng LAN, một mạng cáp trực tiếp nối các máy tính trong một tòa nhà. Các
tiêu chuẩn này gọi là Ethernet hiện nay được dùng rộng rãi trên thế giới.

Internet đã và sẽ tác động đến thế giới, con người có thể làm việc tại nhà và giao tiếp với
nhau bằng phương tiện truyền tin dựa trên hệ thống máy tính. Sự phát triển của thương mại
điện tử sẽ làm thay đổi cách mua hàng truyền thống, con người dùng Internet để xem và
đặt sản phẩm hay dòch vụ trực tuyến.

×