Tải bản đầy đủ (.pdf) (8 trang)

Nâng cao chất lượng tín dụng với doanh nghiệp nhỏ tại Ngân hàng No&PTNT Tây Hà Nội - 6 ppsx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (99.74 KB, 8 trang )

Bảng 5: Kết quả tài chính
Đơn vị: Triệu đồng
1. Tổng thu
2. Tổng chi
3. Quỹ thu nhập
4. Quỹ tiền lương theo đơn giá
5. Quỹ tiền lương thực chi
6. Hệ số lương đạt được
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh)
2.1.2. Thực trạng các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta hiện nay chiếm khoảng 96% tổng số doanh
nghiệp trên toàn quốc với gần 120.000 doanh nghiệp. Trong đó, doanh nghiệp Nhà
nước chiếm 3,5%, còn lại chủ yếu là doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm xấp xỉ
97%. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp và
tiểu thủ công nghiệp chiếm 17%, lĩnh vực xây dựng 14%, nông nghiệp 14%, còn lại
55% số doanh nghiệp này hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ.
Phần lớn các doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay thường hoạt động với mục tiêu
hướng nội, trong một phạm vi không gian rất nhỏ nên trình độ quản lý, quản trị doanh
nghiệp thường khá yếu kém. Kỹ năng sản xuất kinh doanh chủ yếu dựa vào kinh
nghiệm bản thân hoặc gia đình. Vì vậy khả năng lập kế hoạch kinh doanh tổ chức và
triển khai hoạt động sản xuất còn mang tính chất tự phát. Mỗi khi có sự thay đổi về môi
trường kinh doanh, bộ phận doanh nghiệp này sẽ gặp nhiều khó khăn để thích ứng.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế đang diễn ra gay gắt trong lĩnh vực khoa học
công nghệ thì trình độ khoa học kỹ thuật của phần lớn doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt
Nam đều sử dụng công nghệ lạc hậu từ 20-50 năm so với các nước trong khu vực. Do
vậy sản phẩm làm ra thường có giá trị công nghiệp thấp, hàm lượng chất xám ít, giá trị
thương mại và sức mạnh cạnh tranh kém so với các sản phẩm cùng loại của các quốc
gia trong khu vực cũng như thế giới. Bên cạnh đó, do hạn chế về vốn nên khả năng
quảng bá, tiếp cận thị trường trong nước và quốc tế của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
còn gặp nhiều khó khăn. Phần lớn chưa xác lập được kênh bán hàng nên các sản phẩm


làm ra vừa phải cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn trong nước vừa phải cạnh tranh
với các hàng hóa nhập khẩu.
Phần lớn đều thiếu thông tin, đặc biệt là thông tin kinh doanh. Những nguồn
thông tin về thị trường đầu vào như thị trường vốn, thị trường lao động, thị trường
nguyên vật liệu Bên cạnh đó, những thông tin về môi trường kinh doanh như hệ
thống pháp luật, các văn bản liên quan đến doanh nghiệp vừa và nhỏ, thị trường tiêu
thụ sản phẩm cũng chưa được cập nhật nên dẫn tới hậu quả là nhiều doanh nghiệp vừa
và nhỏ sản xuất kinh doanh theo kiểu “thầy bói xem voi” nên bỏ lỡ nhiều cơ hội kinh
doanh.
Bên cạnh những yếu kém từ phía chủ quan của các doanh nghiệp vừa và nhỏ,
còn phải kể đến những yếu tố khách quan kìm hãm sự phát triển của bộ phận doanh
nghiệp này. Đầu tiên phải kể đến là vẫn còn sự phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp
thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ chủ yếu thuộc
thành phần kinh tế tư nhân ở nhiều nơi vẫn còn bị đối xử bất bình đẳng trong các quan
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
hệ giao dịch về đất đai, mặt bằng sản xuất, vay vốn, hệ thống thông tin thị trường
Vấn đề vốn hiện nay được coi là bức xúc nhất. Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ
đều có nhu cầu vay vốn để đầu tư trang thiết bị khoa học kỹ thuật nhưng đều vướng
phải những hàng rào khó vượt qua về tài sản thế chấp nên rất khó tiếp cận các nguồn
vốn vay. Nhằm tháo gỡ những khó khăn về vấn đề này, bộ tài chính đã có nhiều văn
bản nhằm hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua quỹ bảo lãnh tín
dụng như trình thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số 193/2001/QĐ-TTg về việc
ban hành quy chế thành lập, tổ chức và hoạt động của quỹ bảo lãnh tín dụng; ban hành
thông tư số 42/2002/TT-BTC ngày 7/5/2002 hướng dẫn một số điểm quy chế thành lập
tổ chức và hoạt động của quỹ bảo lãnh tín dụng Tuy nhiên cho đến thời điểm hiện
nay, quỹ bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ hầu như chưa được triển
khai thành lập ở các địa phương. Sở dĩ xuất hiện tình trạng này là do hầu hết các địa
phương đều không huy động được nguồn vốn để đóng góp 30% vốn điều lệ hình thành
quỹ bảo lãnh tín dụng. Mặt khác, ngân hàng cũng không mặn mà với việc góp vốn vào
quỹ bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ do không đủ hấp dẫn về lợi

ích. Do vây, các tổ chức tín dụng này cũng ít quan tâm đến việc tham gia đóng góp để
hình thành 70% quỹ bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Về vấn để mặt bằng sản xuất, hiện nay đại đa số các doanh nghịêp dân doanh
vẫn đang phải tự xoay xở tìm kiếm đát đai làm mặt bằng sản xuất kinh doanh, làm tăng
chi phí đầu tư của doanh nghiệp. Theo báo cáo điều tra của viện nghiên cứu quản lý
kinh tế trung ương; để có mặt bằng kinh doanh, doanh nghiệp phải “mua lại” đất của
ngừơi khác bao gồm cả tiền đền bù giải phóng mặt bằng, tự san lấp mặt bằng kinh
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
doanh, thuê lại mặt bằng đã mua với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Mặt khác,
diện tích đất Nhà nước có để cho thuê thường quá ít so với nhu cầu ở một số tỉnh thành
phố tập trung nhiều doanh nghiệp. Như ở Hà Nội, theo điều tra của ban quản lý các khu
công nghiệp và chế xuất Hà Nội, từ năm 1994-2002, chỉ có 376 doanh nghiệp dân
doanh thuê được đất của Nhà nước để làm mặt bằng kinh doanh, trongkhi đó, chỉ riêng
10 tháng đầu năm 2002 đã có thêm ít nhất 400 doanh nghiệp có nhu cầu thuê đất. Nếu
có đất để cho thuê thì giá lại quá cao, phải trả tiền một lần cho thời gian dài từ 10-60
năm vượt quá khả năng tài chính của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Các chương trình
trợ giúp thông tin, trợ giúp đào tạo nguồn nhân lực, trợ giúp xúc tiến xuất khẩu cho
các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng đã được các Bộ ngành, địa phương tổ chức triển
khai nhưng nhìn chung kết quả đạt được còn rất khiêm tốn. Điều quan trọng nhất là
nhận thức của các doanh nghiệp vừa và nhỏ về việc tăng cường khả năng cạnh tranh
trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế còn rất hạn chế. Nếu các doanh nghiệp này
không nhanh chóng chuyển đổi thì sẽ không bắt kịp với quá trình hội nhập, có nguy cơ
tụt hậu
2.2. Thực trạng chất lượng tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ
2.2.1. Cho vay theo dư nợ
2.2.1.1. Dư nợ tín dụng đến /06/2004
Bảng 6 : Doanh số cho vay
Đơn vị: Triệu đồng
Tổng dư nợ
Doanh nghiệp vừa và nhỏ

Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Doanh nghiệp lớn
Hộ gia đình, cá nhân
(Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2004)
Cuối năm 2003 và năm 2004 là thời gian mà nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng
cao, ổn định, các cơ chế chính sách được bổ xung hòan thiện phù hợp với thực tiễn.
Ngân hàng NHo&PTNT tiếp tục phát triển ổn định và nâng cao uy tín trên thị trường
trong nước và quốc tế, đặc biệt là khi được Nhà nước phong tặng là đơn vị anh hùng
lao động thời kỳ đổi mới. Từ đây đã tạo điều kiện thuận lợi cho Chi nhanh
NHNo&PTNT Tây Hà Nội nói riêng và cho toàn Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam
nói chung có những lợi thế trong cạnh tranh và mở rộng hoạt động kinh doanh.
Ngay từ đầu năm NHNo & PTNT đã đề ra các giải pháp và phương hướng hoạt
động kinh doanh của năm và tiếp tục chỉ đạo, tạo điều kiện cho Chi nhánh thực hiện tốt
nhiệm vụ của mình.
Qua bảng ta thấy: Tổng dư nợ đến 06/2004 đã tăng 275.324 triệu đồng so với
năm 2003. Sau hơn một năm thành lập Chi nhánh đã hoạt động khá hiệu quả đạt đựơc
những kết quả bước đầu trong cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Tổng dư nợ của Chi nhánh tăng nhanh một cách đáng kể là nhờ những chính
sách thích hợp của NHNo&PTNT Việt Nam và phương hướng hoạt động của Chi
nhánh NHNo&PTNT Tây Hà Nội. Chi nhánh đã có những chủ trương thích hợp nhằm
tăng cường huy động vốn để cho vay và đã đạt được kết quả khá khả quan.
Nhìn chung tổng dư nợ đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã tăng qua các
thời kỳ. Điều này cho thấy các doanh nghiệp đó đã hoạt động kinh doanh có hiệu quả
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
và Chi nhánh đã đựơc nhiều doanh nghiệp biết đến và trở thành khách hàng của Chi
nhánh.
2.2.1.2. Dư nợ tính đến hết 31/12/2004
Bảng 7 : Dư nợ theo thành phần kinh tế
Đơn vị : Triệu đồng
Đối tượng đầu tư 31/11/2004 31/12/2004

Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Doanh nghiệp khác
HTX
Hộ gia đình
Đầu tư chứng khoán
(Báo cáo giao ban tháng 1 năm 2005)
Nhìn vào bảng ta thấy tổng dư nợ đối với các thành phần kinh tế đã tăng rất
đáng kể, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ các khỏan dư nợ tăng khá
nhanh. Điều này cho thấy Chi nhánh đã được nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ chú ý
đến và thiết lập quan hệ.
Nhìn vào bảng ta thấy dư nợ đối với các thành phần kinh tế tháng 12 đã giảm so
vơi tháng 11 của năm 2004 điều này cho thấy một số khoản nợ đã đựơc thu hồi và tiếp
tục đầu tư vào lĩnh vực khác như đầu tư chứng khoán.
Bảng 8: Dư nợ theo thời hạn
Đơn vị: Triệu đồng
Chỉ tiêu Thực hiện 30/11/04 Thực hiện 30/12/04
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Tổng dư nợ
Ngắn hạn
Trung hạn
Dài hạn
(Nguồn: Báo cáo giao ban tháng 1 năm 2005)
Nhìn vào bảng ta thấy cho vay ngắn hạn chiếm tỷ lệ lớn (chiếm 55,1% tổng dư
nợ) còn lại là cho vay trung và dài hạn chiếm 44,9%. Điều này cho thấy Chi nhánh chủ
yếu là cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn và dài hạn cũng đã tăng những vẫn chưa
nhiều lắm.
Bảng 9: Dư nợ theo ngành kinh tế
Đơn vị: Triệu đồng
Chỉ tiêu Thực hiện 30/11/04 Thực hiện 30/12/04
Ngành công nghiệp, TTCN

Ngành thương nghiệp, dịch vụ
Ngành khác
(Nguồn: Báo cáo giao ban tháng 1 năm 2005)
Nhìn vào bảng ta thấy cho vay đối với các ngành thương nghiệp và dịch vụ
chiếm tỷ lệ rất lớn (64,8%), ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp (TTCN) cũng chi
chiếm 25,9%, còn các ngành khác chỉ chiếm 9,4%, điều này cho thấy khách hàng của
Chi nhánh chủ yếu là thuộc ngành thương nghiệp và dịch vụ trong đó cho vay khách
hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực này cũng chiếm tỷ lệ khá lớn.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Trong lĩnh vực thương nghiệp và dịch vụ thì chu kỳ kinh doanh thường là ngắn hạn
điều này phù hợp với việc thực hiện cho vay chủ yếu là ngắn hạn như ơ bảng 8.
2.2.2. Chất lượng tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Đến thời điểm hiện tại Chi nhánh chưa phát sinh các khoản nợ quá hạn, tình
trạng sử dụng vốn của ở một số doanh nghiệp đến thời điểm hiện tại vẫn có được kết
quả tương đối tốt nhưng đã có một số các doanh nghiệp đã phát sinh hiện tượng trả lãi
chậm hoặc không trả được tiền lãi trong một thời gian dài . Do Chi nhánh mới được
thành lập được gần 2 năm mà đa số các khoản tín dụng đối với doanh nghiệp là trung
hạn ( từ 3-5 năm) do đó phần lớn các khoản cho vay đối với doanh nghiệp là chưa đến
hạn nên phần thu hồi gốc thi chưa đến hạn còn các khoản lãi đã phát sinh như: lãi trả
chậm, không trả lãi trong thời gian dài, các khoản cho vay ngắn hạn để kinh doanh thì
phần lớn đựơc trả đúng hạn và đầy đủ vì các khoản ngắn hạn thường có rủi ro thấp và
phù hợp với thời kỳ kinh doanh,. nhưng vẫn còn một số các doanh nghiệp đã không trả
được nợ đúng hạn và đã phải đến để ra hạn nợ, còn có các doanh nghiệp thì lãi trả chậm
hoặc không đủ và phải để đến kỳ sau.
Để khắc phục những hiện tượng như trên Chi nhánh cũng đã thực hiện một số
biện pháp:
+ Ban lãnh đạo Chi nhánh luôn bám sát định hướng hoạt động kinh doanh của
NHNo&PTNTVN gắn với tình hình thực tế tại Chi nhánh để chỉ đạo cụ thể và có nhiều
biện pháp giải quyết, xử lý nghiệp vụ phù hợp, cụ thể, kịp thời.
+ Tập thể cán bộ tín dụng đoàn kết, nhất trí, có nhiều cố gắng trong thực hiện nhiệm vụ

được giao, phong cách làm việc dứt khoát
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -

×