Tải bản đầy đủ (.doc) (95 trang)

Phát triển kinh tế tư nhân ở tỉnh thái bình giai đoạn 2001 2010 và giải pháp đến năm 2020

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (434.75 KB, 95 trang )

MỤC LỤC
1.1.3.1. Về đặc điểm, bản chất của kinh tế tư nhân 12
1.1.3.2. Vai trò của kinh tế tư nhân 17
Vị trí, địa hình và khí hậu 34
Tài nguyên thiên nhiên 34
Biểu 2.1: Số lượng, cơ cấu các loại hình doanh nghiệp ở Thái Bình những năm gần đây
39
Công ty cổ phần xe khách Hoàng Hà- thương hiệu mạnh ngành vận tải
hành khách Thái Bình 42
Bệnh viện Đa khoa Lâm Hoa 44
Bảng biểu 2.2: Vốn đầu tư phát triển theo giá thực tế phân theo thành phần kinh tế giai
đoạn 2001 – 2010 49
Biểu 2.3 : Tỷ trọng ngành nông nghiệp của các tỉnh đồng bằng sông Hồng ( năm 2003)
50
Biểu 2.4: Tổng sản phẩm trên địa bàn theo giá thực tế phân theo khu vực kinh tế 50
Biểu 2.5: Trình độ kỹ thuật công nghệ của ngành công nghiệp Thái Bình 55
(tính theo tỷ lệ % ) 55
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Nhìn tổng thể, sau 25 năm đổi mới, Việt Nam đã chuyển đổi thành
công từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong nền kinh tế mới này, chế độ sở
hữu và cơ cấu các thành phần kinh tế được đổi mới một cách cơ bản. Trước
đây, sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể là
chủ yếu. Hiện nay, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam được dựa trên nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, đan
xen hỗn hợp, gồm có: Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, và
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Kinh tế tư nhân được xác định có vai trò
quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế. Các loại hình doanh
nghiệp của tư nhân được khuyến khích phát triển không hạn chế về quy mô
trong mọi ngành nghề, lĩnh vực, kể cả các lĩnh vực sản xuất kinh doanh quan


trọng của nền kinh tế mà pháp luật không cấm.
Trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, kinh tế tư nhân
ở nước ta đã phát triển khá mạnh, đặc biệt là từ năm 2001 đến nay. Những
đóng góp nổi trội của kinh tế tư nhân thể hiện ở chỗ đã tạo thêm nhiều việc
làm; huy động ngày càng nhiều nguồn vốn trong xã hội đầu tư vào sản xuất
kinh doanh; tỷ trọng của kinh tế tư nhân trong GDP ngày càng tăng; góp phần
chuyển dịch cơ cấu kinh tế; tăng kim ngạch xuất khẩu, thúc đẩy cạnh tranh, tăng
thêm số lượng công nhân và doanh nhân Việt Nam… Tuy nhiên, kinh tế tư nhân
ở nước ta đến nay vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém: phần lớn có quy mô nhỏ,
vốn ít, công nghệ sản xuất lạc hậu, trình độ quản lí thấp, hiệu quả và sức cạnh
tranh yếu; mặt khác, hầu hết các doanh nghiệp tư nhân cũng đang khó tiếp cận
các nguồn lực - nhất là về vốn, còn gặp nhiều trở ngại về mặt bằng sản xuất kinh
doanh, về môi trường pháp lí và môi trường tâm lí xã hội
1
Là một bộ phận của nền kinh tế Việt Nam, Thái Bình có vị trí quan
trọng, gần các trung tâm kinh tế lớn của miền Bắc như Hải Phòng, Quảng
Ninh, Hải Dương… và lại nằm trên trục đường 10 nối liền với các cảng biển,
rất thuận tiện trong giao thông vận tải. Kinh tế tư nhân ở Thái Bình trong
những năm vừa qua đã có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển chung
của cả tỉnh: giải quyết việc làm, tạo nguồn thu cho ngân sách, thúc đẩy
chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn,…
Tuy nhiên, kinh tế tư nhân ở Thái Bình cũng còn nhiều hạn chế, yếu
kém, đặc biệt là trước áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt của cơ chế thị
trường. Hầu hết các doanh nghiệp tư nhân ở địa phương này chỉ có quy mô
nhỏ, hiệu quả sản xuất kém, môi trường kinh doanh còn nhiều bất cập, khả
năng tiếp cận các nguồn lực phát triển còn nhiều vướng mắc,
Tình hình nói trên đòi hỏi phải nghiên cứu, đánh giá đúng thực trạng,
tìm ra nguyên nhân, chỉ ra xu hướng phát triển của kinh tế tư nhân trên địa
bàn tỉnh Thái Bình; trên cơ sở đó xác định phương hướng và các giải pháp
thích hợp để thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển, phát huy tốt hơn vai trò của

thành phần kinh tế này ở tỉnh Thái Bình trong những năm tới.
2. Tình hình nghiên cứu
Cho đến nay, ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu về sự tồn tại
khách quan, vai trò, giải pháp phát triển kinh tế tư nhân trong quá trình xây
dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn
diện về phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Thái Bình trong quá trình
đổi mới.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích
Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế tư nhân ở tỉnh Thái
Bình trong quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường (tập trung vào giai
2
đoạn 2001 - 2010); từ đó đề xuất phương hướng và các giải pháp phát triển
thành phần kinh tế này trên địa bàn của địa phương ở giai đoạn 2011 - 2020.
3.2. Nhiệm vụ
- Hệ thống hoá, góp phần làm rõ thêm một số vấn đề lý luận cơ bản;
chủ trương, quan điểm, chính sách đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam và
Nhà nước Việt Nam về kinh tế tư nhân; nghiên cứu kinh nghiệm của một số
tỉnh, thành phố trong nước về phát triển kinh tế tư nhân trong thời kỳ đổi mới
và rút ra những vấn đề có thể tham khảo cho tỉnh Thái Bình.
- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế tư nhân ở tỉnh Thái
Bình trong quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường (tập trung vào giai
đoạn 2001 - 2010).
- Đề xuất và luận chứng cơ sở khoa học về phương hướng và giải pháp
góp phần thúc đẩy kinh tế tư nhân ở tỉnh Thái Bình phát triển mạnh mẽ và có
hiệu quả hơn trong giai đoạn 2011 - 2020.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về sự phát triển kinh tế tư nhân ở Thái Bình trong

quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Tập trung nghiên cứu về sự phát triển kinh tế tư nhân
trong quá trình chuyển đổi trên địa bàn tỉnh Thái Bình.
- Về thời gian: Tập trung vào giai đoạn 2001 – 2010 và đặt trong tầm
nhìn đến năm 2020.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, luận văn áp dụng một số phương pháp nghiên cứu phù
hợp với đối tượng, nhiệm vụ đã xác định, như logic kết hợp với lịch sử, thống
3
kê, xử lý các số liệu, tư liệu; phân tích, tổng hợp, so sánh, mô hình hóa; kế
thừa các kết quả nghiên cứu đã có…
6. Đóng góp của luận văn
- Phân tích đặc điểm của kinh tế tư nhân nhìn từ góc độ sở hữu để thấy
được tầm quan trọng của sở hữu tư nhân.
- Phân tích sự tồn tại khách quan và chỉ ra tính phổ biến của kinh tế tư
nhân trong nền kinh tế thị trường thế giới.
- Nghiên cứu việc phát triển kinh tế tư nhân của các tỉnh Hưng Yên và
Hải Dương để rút ra bài học kinh nghiệm cho Thái Bình.
- Dự báo những tác động về mặt kinh tế- xã hội tới sự phát triển của
kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Thái Bình.
- Đưa ra những giải pháp mới thúc đẩy sự phát triển và nâng cao vai trò
hiệu quả của kinh tế tư nhân ở Thái Bình giai đoạn 2011- 2020.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn được kết cấu thành 03 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về phát
triển kinh tế tư nhân
Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân ở tỉnh Thái Bình trong
giai đoạn 2001 – 2010

Chương 3: Phương hướng, giải pháp phát triển kinh tế tư nhân trên địa
bàn tỉnh Thái Bình trong giai đoạn 2011 – 2020
4
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN
1.1. KINH TẾ TƯ NHÂN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
CỦA NHÂN LOẠI
1.1.1. Đặc điểm của kinh tế thị trường nhìn từ góc độ sở hữu
Lịch sử phát triển của xã hội loài người là lịch sử phát triển không
ngừng của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội, đồng thời cũng là
quá trình thay thế lẫn nhau của các phương thức sản xuất xã hội. Nhưng bất
cứ nền sản xuất xã hội nào cũng đều phải giải quyết ba vấn đề cơ bản: Sản
xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai? Để giải quyết những vấn đề
này, về cơ bản, có ba kiểu tổ chức kinh tế - xã hội, đó là kinh tế tự nhiên, kinh
tế kế hoạch hóa tập trung và kinh tế hàng hóa mà giai đoạn phát triển cao của
nó là kinh tế thị trường.
Kinh tế hàng hóa ra đời từ kinh tế tự nhiên, trên cơ sở phân công lao
động xã hội phát triển và sự tách biệt về kinh tế của những người sản xuất.
Đó là phương thức tổ chức hoạt động kinh tế - xã hội, ở đó người sản xuất ra
sản phẩm không phải để thỏa mãn nhu cầu trực tiếp của mình, mà nhằm để
trao đổi, để bán trên thị trường. Kinh tế hàng hóa ra đời từ rất sớm và đã từng
tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất. Hình thức đầu tiên của nó là kinh tế
hàng hóa giản đơn, đã được hình thành và phát triển từng bước trong xã hội
chiếm hữu nô lệ, và tiếp tục phát triển cao hơn trong xã hội phong kiến. Khi
quan hệ hàng hóa – tiền tệ phát triển mạnh trong thời kỳ tan rã của phương
thức sản xuất phong kiến, một số nước tiên tiến nhất ở Tây Âu đã đi đầu trong
việc quá độ sang chủ nghĩa tư bản. Đây cũng là quá trình chuyển từ kinh tế
hàng hóa giản đơn sang kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa. Với sự ra đời và
5

phát triển của chủ nghĩa tư bản, kinh tế hàng hóa giản đơn phát triển thành
kinh tế thị trường.
Kinh tế thị trường như chúng ta đã biết là kinh tế hàng hóa đạt đến trình
độ xã hội hóa cao và trình độ kỹ thuật cao, trong đó toàn bộ hay hầu hết các
yếu tố đầu vào và đầu ra của nền sản xuất xã hội đều phải thông qua thị
trường. Kinh tế thị trường tồn tại trong xã hội chiếm hữu nô lệ, phong kiến,
trong chế độ tư bản chủ nghĩa và cả trong chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong các
thời kỳ lịch sử và ở những nước khác nhau, kinh tế thị trường có những đặc
điểm riêng cụ thể; nhưng dù ở đâu và lúc nào cũng phải vận động, phát triển theo
những nguyên tắc phổ biến có tính quy luật, trong đó nổi bật là: tự do trong sản
xuất kinh doanh (tự do đầu tư), tự do trong quan hệ trao đổi (tự do thương mại),
tự do trong tiêu dùng (mua hàng hóa hay không mua, mua ở đâu, của ai là do
người tiêu dùng tự quyết định); cạnh tranh trong nội bộ từng ngành, cạnh tranh
giữa các ngành bên trong nền kinh tế thị trường của một nước, cạnh tranh giữa
các nước cùng sử dụng phương tiện kinh tế thị trường…
Lịch sử phát triển của nền kinh tế thị trường đến nay cho thấy nó có
mặt ở nhiều chế độ kinh tế - xã hội khác nhau, mà điều kiện tiên quyết cho sự
tồn tại và phát triển của nó là sự hiện diện của nhiều hình thức sở hữu. Sở hữu là
quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất, phản ánh quá
trình chiếm hữu của cải vật chất, mà ở đó sở hữu về tư liệu sản xuất giữ vai
trò quyết định. Sở hữu là mặt cơ bản của quan hệ sản xuất, vận động và biến
đổi cùng với hệ thống kinh tế - xã hội, đặc biệt là có quan hệ mật thiết với quá
trình phát triển của lực lượng sản xuất xã hội .
Khi nhà nước xuất hiện, các quan hệ sở hữu được thể chế hoá bằng
pháp luật, hình thành nên chế độ sở hữu. Chế độ sở hữu quy định các quyền:
sử dụng, định đoạt, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp…, và là cơ sở
kinh tế và pháp lý để bảo đảm việc thực hiện các lợi ích của các chủ thể kinh
6
tế. Quan hệ sở hữu còn chứa đựng nội dung kinh tế - xã hội gắn liền với quan
hệ tổ chức - quản lý; với quan hệ phân phối thông qua các lợi ích kinh tế.

Hình thức sở hữu là cơ sở khách quan của chế độ sở hữu tương ứng với
những trình độ phân công lao động xã hội và trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất. Xã hội loài người đã trải qua nhiều hình thức sở hữu khác nhau, từ
sở hữu bộ lạc đến các hình thức sở hữu tư nhân và sở hữu xã hội. Trên thực
tế, cho đến nay, chỉ tồn tại ba hình thức sở hữu cơ bản: sở hữu công cộng, sở
hữu tư nhân (sở hữu tư nhân nhỏ và sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa), sở hữu
hỗn hợp. Trong một hình thái kinh tế - xã hội, sự tồn tại cùng lúc nhiều hình
thức sở hữu là một tất yếu khách quan. Sự tác động lẫn nhau giữa sở hữu và
các hình thức kinh tế được nối liền qua khâu trung gian là lợi ích kinh tế. Sự
tương tác lẫn nhau giữa các lợi ích điều chỉnh các hình thức sở hữu cho phù
hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, khơi dậy động
lực, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Sở hữu không phải là động lực trực tiếp
nhưng chính quan hệ sở hữu lại quyết định bản chất, cơ cấu hệ thống lợi ích
kinh tế và trở thành nguồn gốc sâu xa của động lực kinh tế.
Như vậy, xét từ góc độ sở hữu thì kinh tế thị trường có những đặc điểm sau:
- Kinh tế thị trường tất yếu phải dựa trên sự tồn tại khách quan của
nhiều hình thức sở hữu, trong đó quan trọng nhất là sở hữu tư nhân. Lịch sử
phát triển của kinh tế thị trường cho thấy nó có mặt ở nhiều chế độ kinh tế -
xã hội khác nhau mà điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển của nó là
sự hiện diện của nhiều hình thức sở hữu. Trong một nền kinh tế, có nhiều hình
thức sở hữu, nhiều chủ thể kinh tế, sẽ tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ thúc đẩy
kinh tế phát triển. Động lực chung của mọi nền kinh tế thị trường là lợi ích
kinh tế - nói cách khác, là lợi nhuận. Khả năng tạo ra lợi nhuận cao hay thấp
lại phụ thuộc chặt chẽ vào tính hợp lý và minh bạch của quan hệ sở hữu. Khi
các nguồn lực đầu tư là sở hữu của tư nhân, thì các nhà đầu tư tư nhân phải
7
bằng mọi cách để bảo đảm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đó nhằm tạo ra
lợi nhuận và lợi nhuận siêu ngạch. Lịch sử của kinh tế thị trường hơn 200
năm qua ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển cho thấy, khu vực kinh tế tư
nhân bao giờ cũng có hiệu quả cao hơn so với khu vực kinh tế nhà nước trong

việc sử dụng các nguồn lực đầu tư.
- Bắt nguồn từ tính xác định và minh bạch của quan hệ sở hữu, lợi ích
kinh tế được hình thành và trở thành động lực thúc đẩy các chủ thể kinh tế
phát triển sản xuất kinh doanh. Với tư cách là người sở hữu, mọi chủ thể hoạt
động trong kinh tế thị trường đều hướng vào mục tiêu lợi ích mà trước hết là
lợi ích kinh tế của chính mình. Bởi vậy, trong nền kinh tế thị trường lợi nhuận
được coi là mục đích, là động lực của hoạt động kinh doanh và cạnh tranh là
môi trường và điều kiện tất yếu.
- Trên cơ sở tồn tại khách quan của nhiều hình thức sở hữu, đặc biệt là
sở hữu tư nhân, cơ chế thị trường hình thành và chịu sự chi phối, điều tiết
của các quy luật kinh tế: quy luật giá trị, quy luật cung - cầu, quy luật cạnh
tranh, quy luật lưu thông tiền tệ…
- Do được đảm bảo về phương diện sở hữu, các chủ thể thị trường đều
có tính độc lập. Người sản xuất – kinh doanh có quyền tự do kinh doanh, tự
chủ trong việc ra các quyết định sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản
xuất cho ai; họ có quyền tự quyết định lựa chọn loại hình tổ chức và quản lý
sản xuất – kinh doanh thích hợp; độc lập trong gánh vác rủi ro và tự chịu
trách nhiệm lỗ - lãi trong sản xuất kinh doanh; theo đó, họ phải lấy lợi nhuận
làm động lực và mục tiêu của hoạt động kinh tế. Còn người tiêu dùng được
chủ động trong lựa chọn hàng hóa trên thị trường và được xem là “thượng
đế”, người quyết định “ bỏ phiếu” cho việc mở rộng hay thu hẹp việc sản
xuất, kinh doanh một mặt hàng nào đó.
8
- Tính đa sở hữu là cơ sở để thị trường giữ vai trò quyết định phân bổ
các nguồn lực của xã hội. Các yếu tố đầu vào và đầu ra của sản xuất phải
được lưu thông tự do trên thị trường. Muốn vậy, hệ thống thị trường các loại
phải được hình thành đồng bộ và vận hành trôi chảy theo tín hiệu của thị
trường, gồm: Thị trường tư liệu sản xuất, hàng tiêu dùng và các sản phẩm
dịch vụ; thị trường tài chính; thị trường sức lao động; thị trường đất đai và bất
động sản; thị trường khoa học và công nghệ… Để các thị trường này vận

hành thông suốt và làm tròn chức năng quyết định phân phối tài nguyên thì
phải có chủ thể thị trường đông đảo, nhằm khắc phục tình trạng cơ cấu độc
quyền từ phía người bán hoặc từ phía người mua. Điều đó gắn liền với hệ
thống pháp luật đảm bảo quyền tự do sản xuất – kinh doanh và tự do tiêu
dùng của các chủ thể thị trường.
- Bắt nguồn từ quyền tự do trong hoạt động sản xuất – kinh doanh cuả
các chủ thể sở hữu, giá cả hàng hóa, dịch vụ hình thành tự do trên thị trường,
phụ thuộc vào hao phí lao động xã hội cần thiết và sự điều tiết của cung cầu
thị trường. Theo đó, tính cạnh tranh của nền kinh tế được đề cao, tạo động lực
phát triển, điều tiết và điều chỉnh các hoạt động kinh tế, để các nguồn lực có
hạn của xã hội được phân bổ hợp lý, hiệu quả. Mọi sự can thiệp của con
người không tương thích với thị trường trong việc hình thành giá đều dẫn tới
bóp méo các tín hiệu thị trường và làm tổn hại đến sự vận hành trôi chảy và
hiệu quả của cả nền kinh tế.
- Sự tồn tại khách quan của nhiều hình thức sở hữu, mà trong đó “ hạt
nhân” là sở hữu tư nhân cũng đóng vai trò là cơ sở để tạo nên thuộc tính nổi bật
của nền kinh tế thị trường – đó là nền kinh tế mở (cả bên trong và với bên ngoài),
thị trường dân tộc thông suốt, gắn liền với thị trường quốc tế. Điều đó xuất phát từ
quyền được tự do kinh doanh của các chủ thể thị trường và tính lưu động của các
nguồn lực xã hội: Vốn, hàng hóa, sức lao động do thị trường điều tiết.
9
- Trên cơ sở thừa nhận, tôn trọng sự tồn tại tất yếu của nhiều hình thức
sở hữu, và nhất là sở hữu tư nhân trong nền kinh tế thị trường, các chính phủ
quản lý vĩ mô nền kinh tế: Do bản thân cơ cấu thị trường có tính tự phát, khó
đảm bảo được sự cạnh tranh hoàn hảo và khắc phục những bất ổn về xã hội,
nên trong nền kinh tế thị trường hiện đại cần có sự quản lý của nhà nước để
khắc phục các khuyết tật của thị trường. Chính phủ tập trung thực hiện quản
lý các cân đối vĩ mô, sử dụng rộng rãi các công cụ, kế hoạch định hướng, hệ
thống luật pháp, chính sách và các đòn bẩy kinh tế mà không can thiệp sâu
vào hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.

1.1.2. Sự tồn tại khách quan và tính phổ biến của kinh tế tư nhân
trong các nền kinh tế thị trường trên thế giới
Xã hội loài người trải qua nhiều hình thức sở hữu khác nhau, từ sở hữu
bộ lạc đến các hình thức sở hữu tư nhân và sở hữu xã hội. Trên thực tế, cho
đến nay, chỉ tồn tại ba hình thức sở hữu cơ bản: Sở hữu công cộng, sở hữu tư
nhân và sở hữu hỗn hợp. Trong đó, sở hữu tư nhân, xét về nguồn gốc lịch sử
là hình thức sở hữu tồn tại lâu dài qua nhiều phương thức sản xuất. Nó là hệ
quả trực tiếp của quá trình phát triển lực lượng sản xuất và của quyền tự do cá
nhân, phát huy mọi tiềm năng vốn có của mỗi cá nhân. Sở hữu tư nhân là
quan hệ sở hữu xác nhận quyền hợp pháp của tư nhân trong chiếm hữu, quyết
định cách thức tổ chức sản xuất, chi phối và hưởng lợi từ kết quả của quá
trình sản xuất. Cho đến nay, những động lực do sở hữu tư nhân tạo ra khó có
hình thức nào thay thế được nó. Sở hữu tư nhân về quá trình sản xuất là cơ sở
ra đời khu vực kinh tế tư nhân. Thực tế cho thấy chưa có nước nào thành công
trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường lại thiếu khu vực kinh tế tư
nhân. Kinh tế thị trường tồn tại dưới nhiều mô hình khác nhau ở các quốc gia.
Chẳng hạn như mô hình kinh tế thị trường xã hội ở Cộng hòa liên bang Đức,
mô hình kinh tế thị trường kiểu Thụy Điển, mô hình kinh tế thị trường kiểu
10
Nhật Bản, mô hình kinh tế thị trường tự do kiểu Ăng lô – xắc xông ở Anh và
Mỹ, mô hình kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc, mô hình kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam… Song các mô hình
kinh tế thị trường đều có đặc điểm chung là sự hình thành, phát triển đều phải
dựa trên tính chất tư nhân của sản xuất, hay nói cách khác là dựa trên sự đa
dạng hóa các chủ thể kinh tế. Nền kinh tế thị trường phát triển càng cao, các
loại chủ thể kinh tế hay các hình thức sở hữu tư liệu sản xuất càng đa dạng.
Điều đó đem lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế: cho phép khai thác những tiềm
năng đa dạng của nền kinh tế; tạo quan hệ cạnh tranh; thúc đẩy cải tiến kỹ
thuật, phát triển lực lượng sản xuất; người tiêu dùng được quan tâm…
Sự đa dạng hóa các hình thức sở hữu tạo điều kiện phát huy mọi tiềm

năng, nguồn lực vào phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy tính chủ động sáng tạo,
linh hoạt của các chủ thể kinh tế ( phản ứng nhanh nhạy, kịp thời nắm bắt nhu
cầu của thị trường, thường xuyên cải tiến phương pháp quản lý, áp dụng tiến bộ
khoa học kỹ thuật…). Do đó làm cho nền kinh tế phát triển năng động hơn.
Như vậy, kinh tế tư nhân tồn tại một cách khách quan và phổ biến trong
các nền kinh tế thị trường trên thế giới, nó là một động lực thúc đẩy sản xuất
xã hội phát triển trong nền kinh tế thị trường. Ngược lại, nền kinh tế thị
trường chính là môi trường hoạt động và phát triển của các thành phần kinh tế
trong đó có kinh tế tư nhân. Hầu hết các nước tư bản chủ nghĩa đều lấy khu
vực kinh tế tư nhân làm nền tảng, là “ xương sống” của nền kinh tế thị trường;
tạo điều kiện ngày càng thuận lợi thúc đẩy khu vực này phát triển, qua đó
không ngừng tăng cường sức mạnh kinh tế quốc gia, mở rộng nguồn thu cho
ngân sách quốc gia để đầu tư ngày càng lớn cho phát triển lực lượng sản xuất,
phát triển giáo dục và đào tạo, y tế, quốc phòng, an ninh, giải quyết các phúc
lợi xã hội đa dạng khác và phát triển nền kinh tế mới – kinh tế tri thức… Như
vậy, bằng cách dựa hẳn vào và khai thác ngày càng triệt để vai trò, nhất là khả
11
năng sinh lợi cao của khu vực tư nhân, chính các nước tư bản chủ nghĩa phát
triển nhất trên thế giới hiện nay đã nâng cao dần trình độ xã hội hóa của nền
kinh tế thị trường, tạo lâp được trên thực tế những tiền đề, điều kiện vật chất
cho chủ nghĩa xã hội và những “thành tố” mang tính chất xã hội chủ nghĩa thể
hiện ở việc phát triển con người, chăm sóc các đối tượng thuộc các nhóm
“yếu thế” thông qua hệ thống chính sách an sinh xã hội… Tuy nhiên, đối với
ngay cả các nước tư bản chủ nghĩa phát triển nhất hiện nay, khoảng cách để
có thể đi tới chủ nghĩa xã hội đích thực như Mác dự báo cũng còn rất xa.
Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ điểm xuất phát rất thấp với nền
kinh tế nông nghiệp lạc hậu, chiến tranh tàn phá nặng nề. Trước mắt, Việt
Nam phải phát triển những cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội bằng cách
thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần. Việt Nam muốn phát triển thành công nền kinh tế thị

trường định hướng xã hội chủ nghĩa tất yếu phải đa dạng hóa các hình thức sở
hữu, tồn tại nhiều thành phần kinh tế trong đó có kinh tế tư nhân. Chính vì thế
từ Đại hội Đảng VI (1986) đến Đại hội XI (2011), Đảng Cộng sản Việt Nam
đã khẳng định một cách nhất quán chủ trương, chính sách đa dạng hóa các
hình thức sở hữu, tạo cơ sở cho nền kinh tế thị trường ở Việt Nam phát triển
theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
1.1.3. Đặc điểm, bản chất và vai trò của kinh tế tư nhân
1.1.3.1. Về đặc điểm, bản chất của kinh tế tư nhân
Xung quanh quan niệm về kinh tế tư nhân hay khu vực kinh tế tư nhân,
hiện nay có nhiều ý kiến chưa thống nhất. Theo quan niệm phổ biến trên thế
giới, nền kinh tế thị trường thường được phân chia thành hai khu vực: Kinh tế
nhà nước và kinh tế tư nhân. Kinh tế tư nhân là khu vực kinh tế được hình
thành và phát triển dựa trên nền tảng chủ yếu là sở hữu tư nhân về tư liệu sản
xuất và lợi ích cá nhân. Ở nước ta, có quan niệm cho rằng, kinh tế tư nhân
12
đồng nghĩa với kinh tế tư bản tư nhân. Có quan niệm đồng nhất kinh tế tư
nhân với kinh tế ngoài quốc doanh. Có quan niệm cho rằng kinh tế có 100%
vốn nước ngoài (thuộc sở hữu tư nhân) nằm trong kinh tế tư nhân. Ở Việt
Nam, Đại hội X của Đảng, xác định khu vực kinh tế tư nhân gồm: kinh tế cá
thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân hoạt động với hình thức hộ kinh doanh
cá thể và các loại hình doanh nghiệp của tư nhân. Trong đó, kinh tế cá thể,
tiểu chủ dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất quy mô nhỏ, dựa vào sức
lao động của chính họ giá trị thặng dư không đáng kể. Kinh tế tư bản tư nhân
là loại hình kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân lớn về tư liệu sản xuất của một
hay nhiều chủ, có sử dụng lao động làm thuê, hoạt động độc lập, chủ thể tư
bản đồng thời là chủ doanh nghiệp. Đến Đại hội XI, tất cả các bộ phận này
được “gộp” lại, gọi chung là kinh tế tư nhân.
Sở hữu tư nhân có quy mô lớn ra đời trên cơ sở tích tụ tư bản và sử
dụng nhiều lao động làm thuê. Phần lớn giá trị thặng dư (m) được nó tích luỹ
để tái sản xuất mở rộng nhằm mục đích không ngừng phát triển sản xuất kinh

doanh và tạo ra ngày càng nhiều hơn giá trị thặng dư (m). Theo Luật
Doanh nghiệp năm 1999, sau đó được hoàn thiện thành Luật Doanh
nghiệp năm 2005, có hiệu lực vào 01/07/2006, thì việc tổ chức quản lý
sản xuất của kinh tế tư bản tư nhân được biểu hiện ở mô hình doanh
nghiệp gồm có: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty
hợp doanh, doanh nghiệp tư nhân.
Về quan hệ phân phối, trong kinh tế tư nhân, các hình thức tổ chức sản
xuất kinh doanh khác nhau có quan hệ phân phối khác nhau. Đối với kinh tế
cá thể, do dựa vào sức lao động của bản thân nên sản phẩm và kết quả lao
động chủ yếu thuộc về hộ gia đình hay cá nhân. Đối với kinh tế tư bản tư
nhân, chủ sở hữu tư liệu sản xuất chiếm phần sản phẩm thặng dư (m) và
người lao động được hưởng phần sản phẩm tất yếu (v). Khi nền kinh tế phát
triển theo chiều rộng, các yếu tố khoa học – công nghệ và quản lý chưa có vai
13
trò quan trọng mà dựa vào khai thác tài nguyên và sức lao động thì quan hệ
phân phối chủ yếu dựa trên sự đóng góp về vốn, tư liệu sản xuất, sức lao động
làm cho toàn bộ sản phẩm thặng dư thuộc về nhà tư bản. Trong nền kinh tế thị
trường hiện đại, các yếu tố khoa học công nghệ, tổ chức quản lý của chủ
doanh nghiệp, trình độ và tay nghề của người lao động cùng với thị trường…
đóng vai trò ngày càng quan trọng. Chủ doanh nghiệp không còn là người sở
hữu duy nhất, bên cạnh đó, vai trò điều tiết phân phối của nhà nước tăng lên
thì quan hệ phân phối trong các doanh nghiệp trở nên phức tạp hơn, bằng
nhiều hình thức khác nhau. Dù kinh tế tư nhân có nhiều trình độ phát triển
khác nhau nhưng có bản chất chung là sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, về
các nguồn lực sản xuất. Những doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân
có đặc trưng mang tính bản chất là họ sử dụng đồng vốn của chính họ và họ
có quyền được hưởng thành quả lao động do họ làm ra. Tự bỏ vốn, tự tổ chức,
tự chủ trong kinh doanh và tự bù lỗ là nguyên tắc hoạt động của các loại hình
kinh tế tư nhân. Đó là điểm khác biệt quan trọng giữa khu vực kinh tế tư nhân
và khu vực kinh tế nhà nước, là đặc trưng cốt lõi của kinh tế tư nhân. Tuy

nhiên kinh tế tư nhân cũng bộc lộ mặt tiêu cực là bóc lột giá trị thặng dư mà
mức độ bóc lột phụ thuộc vào bản chất của chế độ chính trị, vì vậy vẫn còn
tồn tại một bộ phận doanh nghiệp tư nhân chạy theo lợi nhuận mù quáng gây
thiệt hại cho xã hội.
Xét về nguồn gốc, sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân ra đời là kết quả
tất yếu của sự phát triển lực lượng sản xuất. Sự phát triển của lực lượng sản
xuất là nguồn gốc cơ bản và trực tiếp ra đời của chế độ tư hữu.
Từ đó, nhìn chung, kinh tế tư nhân có những đặc điểm cơ bản:
- Kinh tế tư nhân gắn liền với lợi ích cá nhân mà lợi ích cá nhân trong
lịch sử phát triển của xã hội loài người là động lực trước hết và chủ yếu thúc
đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Do đó, kinh tế tư nhân có sức sống mãnh
liệt, nó xuất hiện một cách tự nhiên để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con
14
người nên luôn chứa đựng bên trong những nhân tố ổn định tự có và ngay
trong môi trường đào thải khắc nghiệt kinh tế tư nhân vẫn tồn tại. Trong các
nền kinh tế không có sự cấm đoán đối với kinh tế tư nhân thì các doanh
nghiệp thuộc loại hình tế tư nhân được hình thành rất linh hoạt, dễ dàng, thích
ứng theo nguyên tắc “ở đâu có cầu, ở đó có cung”.
- Kinh tế tư nhân với mô hình tiêu biểu là doanh nghiệp của tư nhân là
tổ chức kinh doanh của nền sản xuất hàng hoá ở giai đoạn cao.
Sự ra đời và phát triển của kinh tế tư nhân, gắn liền với kinh tế hàng
hoá. Cùng với sự phát triển của sở hữu tư nhân và phân công lao động xã hội,
kinh tế hàng hoá ra đời. Kinh tế hàng hoá có hai giai đoạn phát triển: Kinh tế
hàng hoá giản đơn và kinh tế thị trường. Trong nền sản xuất hàng hoá giản
đơn, khu vực kinh tế tư nhân có quy mô nhỏ chiếm tỉ trọng lớn gắn liền với
sản xuất nhỏ mà gia đình là đơn vị cơ bản dựa trên cơ sở huyết thống hoặc
công trường thủ công. Khi kinh tế hàng hoá giản đơn phát triển thành kinh tế
hàng hoá tư bản chủ nghĩa (thực chất là kinh tế thị trường) có nền tảng là sở
hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, hoạt động trên cơ sở thuê
mướn lao động, thì kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ với quy mô lớn và khả

năng ứng dụng khoa học và công nghệ ngày càng sâu rộng, cao, trở thành
động lực phát triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa gắn liền với sản xuất lớn,
hiện đại dựa trên cơ sở của mô hình tổ chức doanh nghiệp có mục tiêu cao
nhất và cuối cùng là tạo ra giá trị thặng dư và không ngừng chuyển giá trị
thặng dư thành tích luỹ tăng thêm của sự phát triển kinh tế. Trong điều kiện
chủ nghĩa tư bản, sự thống trị của kinh tế tư nhân không làm cho sở hữu tư
nhân cá thể và các hoạt động của kinh tế tiểu chủ bị thủ tiêu mà ngược lại vẫn
tồn tại và phát triển. Sự phát triển của lực lượng sản xuất và của kinh tế thị
trường đã làm phong phú, phức tạp thêm các hình thức biểu hiện của sở hữu
tư nhân và kinh tế tư nhân. Sự đan xen của sở hữu nhà nước với sở hữu tư
nhân ngày càng phổ biến, nền kinh tế có thêm các loại hình sở hữu hỗn hợp.
15
Lịch sử ra đời và phát triển của kinh tế tư nhân cho thấy hình thức điều
tiết tự nhiên của các hoạt động kinh tế tư nhân là cơ chế thị trường. Cơ chế thị
trường hiện đại là dạng thức sinh tồn của kinh tế tư nhân mà điển hình là mô
hình tổ chức doanh nghiệp - sản phẩm tự nhiên của cơ chế thị trường - tự nó
lớn lên trong cơ chế thị trường nên nó có một sức sống mạnh mẽ. Ngược lại,
bất kỳ một nền kinh tế nào hoạt động theo cơ chế thị trường đều phải thừa
nhận và khuyến khích mô hình tổ chức doanh nghiệp của kinh tế tư nhân như
là một tự nhiên. Trong cơ chế thị trường - một kiểu tổ chức kinh tế mà người
tiêu dùng và nhà sản xuất tác động lẫn nhau thông qua thị trường – các hoạt
động của chủ thể đều phải tuân theo và phù hợp với những quy luật kinh tế
nên năng động và hiệu quả, chỉ những doanh nghiệp thích ứng được mới tồn
tại và phát triển, ngược lại thì phá sản, qua đó các nguồn lực xã hội được sử
dụng ngày càng có hiệu quả. Trong khi đó, kinh tế quốc doanh được sinh ra
bởi các mục đích chính trị, vận hành theo mệnh lệnh của Nhà nước gắn với cơ
chế kế hoạch hóa tập trung, dù được hướng dẫn, động viên, chỉ thị phải ứng
xử theo cơ chế thị trường nhưng vẫn khó thích ứng. Vì vậy, phát triển kinh tế
thị trường chính là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển kinh tế tư nhân nói
riêng và nền kinh tế nói chung. Ngược lại, sự phát triển của kinh tế tư nhân là

nền tảng của kinh tế thị trường.
Kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay có đặc điểm khác so với kinh tế tư
nhân ở các nước tư bản chủ nghĩa, thể hiện ở các mặt như sau:
- Sự tái lập kinh tế tư nhân ở nước ta là sản phẩm của đổi mới, là kết
quả của chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, là bộ phận hữu cơ
của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Các chủ hộ kinh
doanh cá thể và doanh nghiệp phần lớn xuất thân từ những đảng viên, đoàn
viên, cán bộ quân đội, tầng lớp tri thức sinh ra và trưởng thành trong chế độ
mới. Người lao động cũng được hình thành trong xã hội mới. Lực lượng xã
hội tham gia kinh tế tư nhân là đông đảo các tầng lớp nhân dân. Trong các
16
doanh nghiệp, đã và đang hình thành tổ chức chính trị - xã hội do Đảng Cộng
sản Việt Nam tổ chức và lãnh đạo.
- Kinh tế tư nhân ở nước ta phát triển theo định hướng do Đảng Cộng
sản Việt Nam đề ra được thể chế hoá thành hệ thống chính sách, pháp luật của
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thể hiện ý chí nhân dân và vì
lợi ích của đông đảo nhân dân.
- Kinh tế tư nhân ở nước ta trong thời kỳ đổi mới đã mang những yếu
tố có tính chất xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng vào giải phóng lực
lượng sản xuất thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tham gia giải quyết nhiều vấn
đề xã hội bức xúc.
- Các doanh nghiệp của kinh tế tư nhân thông qua hoạt động của mình
góp phần tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, gắn kết các giai tầng xã hội vì
mục tiêu chung: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Quan hệ trực tiếp giữa chủ doanh nghiệp với công nhân, người lao động trong
từng doanh nghiệp không còn là quan hệ đối kháng mà mang tính chất hợp tác.
1.1.3.2. Vai trò của kinh tế tư nhân
Ở nước ta, tư duy về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân gắn liền với quá
trình đổi mới cũng là quá trình Đảng ta nhận thức ngày càng đầy đủ hơn về
kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

trong điều kiện quan hệ sản xuất thống trị trong xã hội không phải là quan hệ
sản xuất tư bản chủ nghĩa và do Nhà nước xã hội chủ nghĩa quản lý dưới sự
lãnh đạo của Đảng. Từ chỗ là một khu vực kinh tế phải “cải tạo” đến được
công nhận ( Nghị quyết Trung ương 6 khoá VI ngày 29/3/1989, chính thức sử
dụng khái niệm kinh tế tư nhân) được khuyến khích phát triển, được xem là
một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân và khẳng định
phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền
kinh tế hàng hóa nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa; được xác
định rõ vị trí góp phần quan trọng trong thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trọng
17
tâm là phát triển kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nâng cao nội lực của
đất nước trong hội nhập kinh tế quốc tế (Nghị quyết Trung ương 5 khoá 9
tháng 3/2002). Đại hội XI của Đảng (1/2011) đã khẳng định: Kinh tế tư nhân
có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế. Đồng thời
nhấn mạnh: Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận
hợp thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành
mạnh. Văn kiện Đại hội XI đã vạch rõ định hướng cơ bản: Phát triển mạnh
các hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp tư nhân. Đồng thời
xoá bỏ mọi rào cản, tạo tâm lý xã hội và môi trường kinh doanh thuận lợi cho
các loại hình doanh nghiệp của tư nhân, phát triển không hạn chế quy mô
trong mọi ngành nghề, lĩnh vực, kể cả các lĩnh vực sản xuất kinh doanh quan
trọng của nền kinh tế mà pháp luật không cấm. Về đối tượng tham gia vào
khu vực kinh tế tư nhân, đã mở rộng hơn: Mọi công dân có quyền tham gia
các hoạt động đầu tư, kinh doanh với quyền sở hữu tài sản và quyền tự do
kinh doanh được pháp luật bảo hộ; có quyền bình đẳng trong đầu tư, kinh
doanh, tiếp cận các cơ sở, nguồn lực kinh doanh, thông tin và nhận thông tin.
Về chính sách phát huy các nguồn lực, Đại hội XI chủ trương: Khuyến khích
phát triển các loại hình doanh nghiệp, các hình thức tổ chức sản xuất kinh
doanh với sở hữu hỗn hợp, nhất là các doanh nghiệp cổ phần. Hoàn thiện cơ

chế, chính sách để phát triển mạnh kinh tế tư nhân theo quy hoạch và quy
định của pháp luật, thúc đẩy hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân, khuyến
khích tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước. Thu hút đầu tư
nước ngoài có công nghệ hiện đại, thân thiện môi trường và tăng cường sự
liên kết với các doanh nghiệp trong nước. Thực hiện Chương trình quốc gia
về phát triển doanh nghiệp gắn với quá trình cơ cấu lại doanh nghiệp. Hỗ trợ
18
phát triển mạnh các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tạo điều kiện để hình thành
các doanh nghiệp lớn, có sức cạnh tranh trên thị trường.
Từ khi đổi mới đến nay vai trò của kinh tế tư nhân ngày càng được thể
hiện rõ, đặc biệt là đối với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và đời sống
xã hội ở Việt Nam.
Vai trò của kinh tế tư nhân đối với sự phát triển của nền kinh tế thị
trường, thể hiện ở những điểm sau:
- Sự phát triển của kinh tế tư nhân là nền tảng của kinh tế thị trường.
Điều kiện tiên quyết cho sự hình thành và phát triển của nền kinh tế thị trường
là đa dạng hóa các hình thức sở hữu, tồn tại nhiều thành phần kinh tế, trong
đó kinh tế tư nhân là thành phần rất quan trọng. Bất kỳ một nền kinh tế nào
hoạt động theo cơ chế thị trường đều phải thừa nhận và khuyến khích mô hình
tổ chức doanh nghiệp của kinh tế tư nhân như là một tự nhiên. Các doanh
nghiệp tư nhân gắn liền với lợi ích kinh tế sát sườn của mình nên họ luôn
năng động sáng tạo và hoạt động đạt hiệu quả cao. Sự tham gia của các
doanh nghiệp tư nhân trong nền kinh tế thúc đẩy các chủ thể kinh tế khác
cùng cạnh tranh phát triển nhờ đó vừa cho phép khai thác có hiệu quả cao
tiềm lực vốn, tay nghề, tư liệu sản xuất … của mỗi cá nhân trong xã hội để
kích thích năng lực nội sinh, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tận
dụng triệt để những ưu thế của thị trường, vừa hạn chế được những khuyết
tật của kinh tế thị trường.
- Sự tồn tại của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường còn góp
phần thúc đẩy cho phân công lao động xã hội phát triển, hàng hóa tạo ra ngày

càng nhiều, đa dạng về mẫu mã, chất lượng, chủng loại đáp ứng ngày một
tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng. Sự tồn tại của kinh tế tư nhân thúc
đẩy sự cạnh tranh mạnh mẽ, làm cho kinh tế thị trường phát triển ngày
19
càng sâu rộng hơn không chỉ bó hẹp trong phạm vi quốc gia mà lan rộng
ra mang tính quốc tế.
- Phát triển kinh tế tư nhân góp phần thúc đẩy mạnh mẽ các yếu tố của
thị trường phát triển, đặc biệt là hệ thống các loại thị trường như thị trường
hàng hóa và dịch vụ, thị trường sức lao động, thị trường tài chính, thị trường
khoa học công nghệ… Làm cho nền kinh tế thị trường vận hành có hiệu quả.
Vai trò của kinh tế tư nhân đối với đời sống xã hội:
Trong những năm gần đây, khu vực kinh tế tư nhân phát triển ngày
càng mạnh mẽ với sức sống mãnh liệt, thể hiện nhiều ưu thế, vị thế ngày càng
gia tăng đối với đời sống xã hội. Kinh tế tư nhân trên phạm vi cả nước năm
2009 đã tạo ra 45,7% tổng sản phẩm trong nước, đã thu hút gần 91% lực
lượng lao động xã hội, tạo 90% việc làm mới chiếm 32% tổng đầu tư toàn xã
hội, cải thiện đời sống nhân dân, tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, góp
phần to lớn vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, thực hiện
mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng văn minh.
Bên cạnh những thành tựu đạt được, khu vực kinh tế tư nhân ở Việt
Nam còn nhiều hạn chế, khiếm khuyết:
- Khu vực kinh tế tư nhân còn ở trình độ thấp của sự phát triển, chủ yếu
là loại hình kinh tế cá thể, loại hình doanh nghiệp tư nhân gần đây tuy phát
triển mạnh nhưng chủ yếu vẫn là quy mô nhỏ.
- Khả năng huy động và tích tụ vốn còn hạn chế, trình độ công nghệ còn
thấp, nhiều công nghệ lạc hậu thải loại từ khu vực kinh tế khác được khu vực
kinh tế tư nhân tái sử dụng, việc ứng dụng khoa học công nghệ còn nhiều hạn chế.
- Trình độ và kinh nghiệm quản lý còn yếu, không thu hút được lao
động tay nghề cao, chưa quan tâm đào tạo cơ bản đội ngũ tay nghề cao.
20

- Một số hoạt động của một bộ phận kinh tế tư nhân còn mang tính
“chụp giật” không ổn định, chưa xác định được chiến lược kinh doanh.Tính
liên kết hợp tác trong sản xuất kinh doanh giữa các doanh nghiệp còn thấp
nên khó tạo được sức mạnh chung trên cơ sở phát huy lợi thế của mình.
- Nhiều doanh nghiệp của khu vực kinh tế tư nhân không thực hiện
thường xuyên chế độ báo cáo tài chính, kê khai nộp thuế, trốn lậu thuế…
- Tình trạng một số doanh nghiệp làm “hàng nhái, hàng giả, hàng kém
chất lượng”… vi phạm bản quyền về sở hữu công nghiệp, cạnh tranh không
lành mạnh, buôn lậu, gian lận thương mại có chiều hướng gia tăng.
- Định mức khu vực kinh tế tư nhân thường rất cao kéo dài thời gian
lao động, phần lớn các doanh nghiệp tư nhân không áp dụng chế độ phụ cấp
do Nhà nước quy định, điều kiện bảo hộ và an toàn lao động không đảm bảo,
không đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động …Hiện nay còn nhiều doanh
nghiệp kinh doanh loại hình dịch vụ văn hóa, vui chơi giải trí đã lợi dụng biến
cơ sở kinh doanh thành nơi chứa chấp các tệ nạn xã hội.
Như vậy, chúng ta cần thấy rõ vai trò tích cực, nhưng cũng không được
mơ hồ trước những tiêu cực và khiếm khuyết của khu vực kinh tế tư nhân.
Một mặt, cần từng bước hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách để tạo môi
trường pháp lý thông thoáng bình đẳng cho các thành phần kinh tế phát triển
sản xuất kinh doanh và hợp tác bình đẳng trong cơ chế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa. Mặt khác, phải có cơ chế quản lý và chỉ đạo thực tiễn để hỗ
trợ, kiểm tra, ngăn ngừa và xử lý kịp thời.
1.2. CHỦ TRƯƠNG, QUAN ĐIỂM, CHÍNH SÁCH ĐỔI MỚI CỦA
ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA ĐỐI VỚI KINH TẾ TƯ NHÂN
21
1.2.1. Khái quát về chủ trương, quan điểm, chính sách đối với kinh
tế tư nhân ở thời kỳ trước đổi mới và hệ quả
Kinh tế tư nhân thời kỳ “ cải tạo xã hội chủ nghĩa ” nền kinh tế (1958-
1960) và tới năm 1976.
Từ năm 1958, miền Bắc nước ta chuyển sang thời kỳ phát triển kinh tế

với mục tiêu là xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình Xô viết. Trong thời
gian này, với quan niệm chủ nghĩa xã hội là công hữu hóa về tư liệu sản xuất,
trên thực tế, kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể giữ vai trò gần như độc tôn.
Đảng và Nhà nước đặt ra nhiệm vụ là phải cơ bản hoàn thành cải tạo xã hội
chủ nghĩa đối với công thương nghiệp tư bản tư nhân, tiểu thủ công nghiệp
những người làm ăn cá thể.
Hội nghị Trung ương 14 khóa II (tháng 11-1956) đề ra chủ trương: Đẩy
mạnh công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm trước mắt là đẩy
mạnh công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thành phần kinh tế cá thể của
nông dân, thợ thủ công và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thành phần kinh tế
tư bản tư nhân, đồng thời ra sức phát triển kinh tế quốc doanh.
Tháng 4-1958, Quốc hội thông qua kế hoạch ba năm phát triển và cải
tạo xã hội chủ nghĩa với các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, phát triển
văn hóa (1958-1960).
Với chủ trương như vậy đã đưa đến một số tình hình sau:
- Các xí nghiệp tư bản tư nhân bị cải tạo dưới hai hình thức công ty hợp
danh đối với tư bản lớn và hợp tác xã đối với tư sản nhỏ. Theo số liệu thống
kê trong những năm 1958-1960, ở miền Bắc đã cải tạo 2.135 xí nghiệp với
13.500 công nhân làm thuê. Như vậy, có thể nói thành phần kinh tế tư bản tư
nhân lúc đó ở miền Bắc đã bị xóa bỏ hoàn toàn.
22
- Đối với kinh tế tiểu nông, cá thể, tiểu chủ thì vận động đưa vào làm
ăn tập thể dưới các hình thức như: Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, sản xuất
tiểu thủ công nghiệp và tổ hợp tác mua bán …
Ở miền Nam, năm 1976 riêng ngành công nghiệp có tới 94.857 hộ tư
nhân, cá thể. Trong đó ngành chế biến lương thực và thực phẩm 29.530 hộ, cơ
khí 23.312 hộ …
Kinh tế tư nhân thời kỳ 1976-1985:
Đất nước thống nhất, công cuộc phát triển kinh tế và cải tạo quan hệ
sản xuất được thực hiện trên phạm vi cả nước, kế hoạch 5 năm 1976-1980

ngoài nhiệm vụ khắc phục hậu quả chiến tranh, tiến hành cải tạo kinh tế
miền Nam theo mô hình kinh tế miền Bắc, tiếp tục cải tạo xã hội chủ
nghĩa đối với những người sản xuất nhỏ ở miền Bắc, đồng thời triển khai
mạnh mẽ ở miền Nam.
Nhưng kinh tế tư nhân vẫn tồn tại. Trong công nghiệp, vẫn có trên 60
vạn người sản xuất cá thể, chiếm 20% tổng số lao động ngành công nghiệp và
tạo ra khoảng 15% giá trị sản lượng toàn ngành. Số người kinh doanh thương
nghiệp trong những năm 80 cũng ở mức 60 vạn. Trong nông nghiệp, hộ nông
dân là xã viên hợp tác xã nông nghiệp thu nhập từ kinh tế tập thể thường chỉ
chiếm 30-40%, kinh tế phụ gia đình chiếm 60-70% - thực chất là khu vực
kinh tế tư nhân.
Việc xóa bỏ kinh tế tư nhân, không chấp nhận các quan hệ hàng hóa -
tiền tệ và thị trường đã để lại những hậu quả nặng nề. Vào những năm 80,
lương thực thực phẩm thiếu hụt triền miên, nạn đói xảy ra ở nhiều vùng và
Nhà nước đã phải rất khó khăn mới xin được những khoản viện trợ lương
thực ít ỏi từ các nước trong khối xã hội chủ nghĩa. Đứng trước tình hình đó
Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới.
23
Những số liệu trên cho thấy sức sống của kinh tế cá thể nói riêng và
kinh tế tư nhân nói chung rất bền bỉ, sự hiện diện của thành phần kinh tế này
trong suốt thời gian dài như một tất yếu khách quan. Vì vậy, Nhà nước không
chỉ thừa nhận mà còn phải biết khai thác những tiềm năng của nó vào mục
tiêu dân giàu, nước mạnh. Đối với sự phát triển kinh tế tư nhân thì tư duy lý
luận của Đảng cũng không ngừng phát triển thể hiện qua các nhiệm kỳ Đại
hội của Đảng.
1.2.2. Chủ trương, quan điểm, chính sách đối với kinh tế tư nhân
trong thời kỳ đổi mới (từ Đại hội VI đến Đại hội XI của Đảng) và tác
động đến thực tế phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Đại hội lần thứ VI của Đảng (12-1986) đã đánh dấu bước ngoặt mới
trong đổi mới tư duy lý luận, tư duy kinh tế. Đại hội đã thẳng thắn chỉ ra

những sai lầm chủ quan nóng vội, muốn “đốt cháy giai đoạn” trong việc cải
tạo các thành phần kinh tế “phi xã hội chủ nghĩa”, và khẳng định đặc điểm
của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là nền kinh tế với cơ cấu
nhiều thành phần. Việc thừa nhận sự tồn tại nhiều hình thức sở hữu, nhiều
thành phần kinh tế là bước chuyển quan trọng nhất trong đổi mới tư duy kinh
tế của Đảng tại Đại hội VI.
Đại hội VII, VIII, IX, X, XI tiếp tục khẳng định đường lối phát triển
kinh tế hàng hóa nhiều thành phần.
Cùng với sự phát triển trong nhận thức của Đảng, Nhà nước đã ban
hành Hiến pháp năm 1992, cùng với các nội dung văn bản pháp luật và các
nghị định, chính sách khác để xác nhận sự tồn tại khách quan lâu dài của nền
kinh tế nhiều thành phần, trong đó có khu vực kinh tế tư nhân. Nhưng những
chính sách, chủ trương đó được thường xuyên bổ sung, điều chỉnh nhằm “cởi
trói” cho lực lượng sản xuất và các thành phần kinh tế hướng vào thực hiện
các mục tiêu nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước đã định ra. Đặc biệt cuối năm
24

×