NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HCM
TIỂU LUẬN MÔN KTCT MAC - LÊNIN
Đề tài :
“QUẢN LÝ DOANH NGHIỆÄP
VỪA VÀ NHỎ
Người hướng dẫn : Lê Hùng
Sinh viên : Nguyễn Thò Hương
Lớp : CĐ 19 E1
Tiểu luận môn kinh tế chính trò Mac – lêNin Trang: 2
TP. HỒ CHÍ MINH 2005
QUẢN LÝ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
VỪA VÀ NHỎ
PHẦN 1: Lời mở đầu
Các nhà quản lý thời nay buột phải ra nhiều quyết đònh tài chính
hơn so với bất kỳ một thời kỳ nào trước nay. Thật khó có được một ngày
mà các nhà quản lý không phải xử lý nhanh hàng lọat chứng từ, giải
quyết hàng tồn kho hay các khỏan cấp vốn của ngân hàng. Bởi vì, hầu
heat các nhà doanh nghòêp đều bắt đầu sự nghiệp của mình trong những
lónh vực không phải tài chính. Vì vậy, lẽ tự nhiên họ thấy các đòi hỏi mới
đối với các quyết đònh tài chính thực sự gây ra nhiều rắc rối .
Mục đích của việc quản lý tài chính doanh nghiệp vừa và nhỏ
này là cung cấp cho các nhà quản lý không họat động trong lónh vực tài
chính những hiểu biết cơ bản về các luồng thông tin tài chính đã được thu
Thực hiện : Sinh viên Nguyễn Thò Hương lớp : CD 19E1
Tiểu luận môn kinh tế chính trò Mac – lêNin Trang: 3
nhập thế nào để xác đònh được trạng thái “sức khỏe” của doanh nghiệp.
Vì vậy, em chọn đề tài về việc “Quản lý tài doanh gnhiệp vừa và nhỏ “
Phần II: Nội dung đề tài
II.1 Quản lý tài chính là gì?
Dùng tiền để làm ra tiền . Châm ngôn này nói moat cách đơn
giản là moat doanh nghiệp cần phải có nguồn tài chính để hoạt động sinh
lợi. Nếu là người bán lẻ hay bán buôn, thì bạn can phải dự trữ một số
hàng hóa để bán. Bạn cần phải mở rộng tín dụng cho người tiêu dùng.
Bạn phải duy trì được một số dư tiền ở ngân hàng để thanh tóan cho
người cung ứng và trả long. Trừ khi bạn có đòa điểm kinh doanh của
mình, nếu không bạn can có những khỏan tiền để đầu tư vào đất đai và
nhà xưởng. Nếu bạn là một nhà sản xuất, thì can có tiền để mua sắm thiết
bò và máy móc, mua nguyên liệu, dự trữ bán thành phẩm trong quá trình
sản xuất, chuan bò sẵn thành phẩm để đưa ra bán.
Nhưng có tiền vẫn chưa đảm bảo làm ra tiền, nghóa là tạo ra lợi
nhuận. Bạn không chỉ cần có tiền, mà còn biết sừ dụng tốt nó. Đó là lý do
tại sao việc quản lý tài chính có một tầm quan trọng đặc biệt.
Quản lý tài chính bao gồm những chức năng sau:
• Quản lý sao cho tài sản của doanh nghiệ được sử dụng để
có thể đem lại lợi nhuận cao nhất từ những đồng vốn bỏ
vào để đầu tư.
• Đánh giá được nhu cầu đối với các tài sản mới.
Thực hiện : Sinh viên Nguyễn Thò Hương lớp : CD 19E1
Tiểu luận môn kinh tế chính trò Mac – lêNin Trang: 4
• Nhận tiền để cấp cho các khỏan bổ sung tài sản.
• Quản lý cả tài sản cũ lẫn mới sao cho mỗi lọai đều có thể
đóng góp nhiều nhất cho họat đông sinh lợi của doing
nghiệp.
• Hòan trả được các khỏan tiền vay lấy từ lợi nhuận do các
nguồn vốn tạo ra .
Nhiệm vụ quan trọng nhất của bạn với tư cách là nhà quản lý tài
chíonh là phải tìm ra các nguồn tiền để bù đắp cho các khỏan chi dùng
của công ty khi có nhu cầu về vốn:
• Bạn có thể tăng các khỏan vay nợ hoặc gọi cổ phần để
dáp ứng sự gia tăng tài sản có.
• Hoặc bạn có thể giảm đầu tư vào một số tài sản đã có nào
đó để hạ tổng mức đầu tư vàotài sản có.
Chẳng hạn, giả sử để duy trì tăng khối lïng bán hàng của
mình , doanh nghiệp của bạn phải mở rộng hơn nữa tín dụng cho người
tiêu dùng với một thời hạn dài hơn. Nói cách khác, việc đầu tư vào các
khỏan có khả năng thu nhập ( tài sản ) phải được tăng lên. Bạn có hoặc
không có khả ăng tăng thêm các khỏan vay của mình. Điều này còn phụ
thuộc vào việc có thuyết phục được ngân hàng của mình thấy đó là cách
tốt nhất và tình hình tài chính của công ty đủ mạnh để bảo đảm được
khỏan vay. Và bạn cũng có hoặc không có thể gọi thêm vốn cổ phần để
cấp phát cho các khỏan có khả năng gia tăng thu nhập. Do vậy, bạn có
thể quyết đònh, hoặc buộc phải quyết đònh cắt xén tài sảnkhác như các số
Thực hiện : Sinh viên Nguyễn Thò Hương lớp : CD 19E1
Tiểu luận môn kinh tế chính trò Mac – lêNin Trang: 5
dư ngân hàng hoặc lượng hành hóa tồn kho để có được các nguồn tiền
cần thiết. Với tư cách là người quản lý tài chính, công việc củq bạn là
quyết đònh chọn nguồn nào trong số này – và là nguồn quan trọng hơn
trong nhiều trường hợp – có thể tạo ra cáckhỏan tài chính mà bạn càn.
Lý do đầu tiên mà bạn nắm giữ và vận hành doanh nghiệ của
mình là tạo được lợi nhuận ở mức nhiều nhất có thể. Đồng thời, bạn cũng
cần có trách nhòêm đối với những người làm công , khách hàng , những
người chòu ảnh hưởng của công ty bạn – và những trách nhiệm này là
quan trọng . Nhưng chính bạn là người phải gánh chòu dự rủi ro của việc
sử dụng vốn. Mục đích chính của bạn chăm lo nguồn vốn này và sừ dụng
sao cho chúng sinh lợi càng nhiều càng tốt .
Do vậy, điều quan trọng đối với bạn là trong công việc của mình
, phải có được một thước đo về kết quả kinh doanh hữu ích, đặc biệt là về
tài chính . Có một số phương pháp tính tóan mức sinh lợi , nhưng trong đó
phương pháp “tỷ suất lợi nhuận của vốn đầu tư” là dặc biệt có ích.
Nếu như công việc tài chính của bạn phức tạp hơn mức bạn
hình dung, thì bạn phải có các công cụ để thực hiện. Ít nhất, cần có sổ
sách kế tóan được ghép chính xác, các báo cáo tài chính đònh kỳ và một
số kỹ thuật phân tích báo cáo. Những công cụ này sẽ không cho các câu
trả lời sẵn đối với các vấn đề tài chính, nhưng chúng sẽ giúp đề ra những
quyết đònh đúng đắn dựa trên các dữ liệu và những nguyên tắc xử lý kinh
doanh đã được kiểnm nghiệm.
Thực hiện : Sinh viên Nguyễn Thò Hương lớp : CD 19E1
Tiểu luận môn kinh tế chính trò Mac – lêNin Trang: 6
Sổ sách kế tóan tốt là nền tảng cho việc quản lý tài chính đúng
dắn. Những báo cáo mà người quản lý tài chính làm ra có thể không
chính xác hay không nay đủ hơn so với các sổ sách kế tóan mà họ sử
dụng để tổng hợp.
II. 2 Các bảng tài chính và phân tích tỷ lệ của các báo cáo
tài chính
Một số lớn các báo cáo tài chính có thể có ích trong quản lý tài
chính. Hai báo cáo quan trọng đầu tiên phải nói đến là bảng quyết tóan lỗ
– lãi và bảng thống két tài sản.
Hai loại báo cáo tài chính, bảng tổng kết tài sản và bảng kết
tóan lỗ lãi là rất cần thiết và có ích. Tuy nhiên, đó chỉ mới là điểm xuất
phát để đi tới sự hiểu biếtxem bạn đang đứng ở đâu, đang đi về đâu và sẽ
đến đó như thế nào.Nếu muốn chúng giúp để đem lại tiền bạc thì cần
phải nghiên cứu các quan hệ khác nhau giữa một số liệu trong các bảng
đó.
Có một số chỉ tiêu được nghiên cứu cho mục đích này . Những
chỉ tiêu này là những chỉ số so sánh ( thường được cho dưới dạng các tỷ lệ
) có ích cho việc phân tích họat động kinh doanh của bạn hơn là tiền bạc.
Chúng cho biết kết quả kinh doanh đang diễn ra theo chiều hướng tốt hay
là không tốt . Đồng thời, chúng cũng cho phép so sánh kết quả họat động
của công ty bạn với những công ty cùng lọai. Tuy nhiên, cần chú ý một số
điểm quan trọng sau đây:
Thực hiện : Sinh viên Nguyễn Thò Hương lớp : CD 19E1
Tiểu luận môn kinh tế chính trò Mac – lêNin Trang: 7
• Các doanh nghiệp không thể so sánh với nhau một cách
chính xác.
• Các tỷ lệ tính tóan vào những thời điểm quy đònh.
• Các báo các tài chính chỉ cho thấy điều gì đã xảy ra trong
quá khứ.
• Các tỷ lệ không phải là những kết quả cuối cùng, mà
những là những công cụ giúp bạn giải đáp một số câu hỏi
tài chính đặt ra cho mình.
Tiền mặt có thể hiểu đơn giản như là khả năng thanh tóan các
hóa đơn của bạn . Nó là mục tiêu đầu tiên của quản lý tài chính. Thước
đo tiền mặt giúp cho bạn giải đáp những câu hỏi như :”liệu chúng ta có
đủ tiền mặt cùng với những tài sản có thể chuyển thành tiền mặt để đảm
bảo khả năng thanh tóan các khỏan nợ gặp trong chu kỳ kế tóan hay
không? “.
Tỷ lệ hiện hành hay tỷ lệ giữa tài sản lưu động trên nợ ngắn hạn
, đó là một trong các thước đo tốt nhất được nhiều người biết đến trong đo
lường về “ sức mạnh “ tài chính. Câu hỏi chủ yếu mà nó trả lời là: “liệu
doanh nghiệp của bạn có đủ tài sản lưu động để trả các khỏan nợ ngắn
hạn – để có thể được an tòan khi thua lỗ bất ngờ xảy ra như hao hụt hành
hóa hay các khỏan không thu về được ?” .
Nếu bạn cho rằng tỷ lệ hiện hành ( tỷ lệ giữa tài sản lưu động
tren nợ ngắn hạn ) của bạn quá thấp thì bạn có thể nâng nó lean bằng
cách:
Thực hiện : Sinh viên Nguyễn Thò Hương lớp : CD 19E1
Tiểu luận môn kinh tế chính trò Mac – lêNin Trang: 8
• Trả bớt một số nợ ngắn hạn .
• Tăng thêm tài sản lưu động của bạn nhờ vay mựon vớimột
thời hạn vay dài hơn một năm.
• Chuyển các tài sản không phài lưu động thàng tài sản lưu
động.
• Tăng tài sản lưu động thông qua việc gọi vốn cổ phần
mới.
• Tái đầu tư mở rộng.
Tỷ lệ thử chua là một thước đo chính xác hơn so với tỷ lệ
hiện hành. Do không bao gồm giá trò hàng hóa ( trong tài sản lưu động )
trong tính tóan, nó chú ý đến lượng tiền luân chuyển thực tế mà giá trò
này được xác đònh khá chắc chắn. Nó giúp ta trả lời câu hỏi: “Nếu như
các thu nhập từ bán hàng không còn nữa thì liệu doanh nghiệp có thể trả
được nợ ngắn hạn hay không, căn cứ vào các nguồn tiền có thể huy động
nhanh và các chứng khoán có thể dễ dàng chuyển được”.
Tỷ lệ thử chua vào khỏang 1 trên 1 được coi là thỏa đáng với
các điều kiện sau:
• Các khỏan phải thu sẽ không quá chậm so với thời hạn
trả nợ ngắn hạn. Khi so sánh thời hạn nên lưu ý thời
hạn trả nó sớm hơn để được hưởng phần chiết khấu.
• Không có nhiều trở ngại làm chậm trễ việc thu hồi các
khỏan phải thu.
Thực hiện : Sinh viên Nguyễn Thò Hương lớp : CD 19E1
Tiểu luận môn kinh tế chính trò Mac – lêNin Trang: 9
Trừ khi cảm thấy chắc có được hai điều kiện trên , còn
không, bạn nên duy trì một tỷ lệ thử chua cao hơn 1 : 1.
Ấn tượng chung về tỷ lệ thử chua và tỷ lệ hiện hành là
chúng càng cao càng tốt. Điều này có thể đúng khi xét từ quan điểm chủ
nợ ,n bởi vì, chúng đề cao sự thận trọng và an tòan. Nhưng xét về mặt lợi
ích cho bạn với tư cách là người chủ doanh nghiệp thì nó lại quá chặt và
bất lợi. Những số dư tiền mặt không sử dụng , số phải thu và những hàng
hóa trong kho vượt quá tỷ lệ cần thiết của bạn cần phải được giảm được
xuống . Mấu chốt của quản lý tàai chính thành công là bảo tòan những
nguồn lực của doanh nghiệp và sử dụng chúng được nhiều hơn cho bạn.
Hai thứơc đo có ích cần phải ghi nhớ trong trường hợp này là chu kỳ thu
hồi trung bình và vòng quay hàng hóa.
Chu kỳ thu hồi trung bình, hay là số ngày mà tiền bán hàng
còn nằm ở các tài khỏan phải thu ( chưa thu về được ) có thể được tính từ
bảng tổng kết tài sản và bảng quyết tóan lỗ lãi. .Khi biết được chu kỳ thu
hồi trung bình sẽ giúp bạn trả lời câu hỏi sau: :” Tài khỏan của bạn được
thu hồi nhanh như thế nào nếu như mở rộng thời hạn tín dụng?. Cả hai tỷ
lệ trên liên quan đến chất lượng tài khỏan và các phiếu phải thu, và cho
bạn biết bộ phận tín dụng của doanh nghiệp bạn đã xử lý tốt đến mức độ
nào công việc thu hồi những tài khỏan đó.
Vòng quay hàng hóa cho biết hàng hóa của bạn lưu chuyển
nhanh đến mức độ nào. Nó cho bạn một ý tưởng về việc bao nhiêu vốn
đã bò “găm” vào hàng hóa để duy trì cho họat động của công ty. Vòng
Thực hiện : Sinh viên Nguyễn Thò Hương lớp : CD 19E1
Tiểu luận môn kinh tế chính trò Mac – lêNin Trang: 10
quay hàng hóa được tính bằngcách chia nguyên giá hàng bán cho giá trò
trung bình của kho hàng.
Có phải doanh nghiệp của bạn đang làm ăn có nhiều lãi và
đang can nhắc thêm các khỏan đầu tư? Đó là mục tiêu lớn thư hai ( sau
mục tiêu tiền mặt )của quản lý tài chính , mà một số các tỷ lệ sẽ giúp bạn
đo được sự thành công của công ty mình.
II. 3 Kiểm sóat trong quản lý doanh nghiệp
Theo bạn nhântố quan trọng nhất trong sự phát triển quản lý
doanh nghiệptrong 25 năm qua là gì ? Máy tính chăng? Bởi vì 25 năm
trước đây máy tính còn chưa phổ biến.
Khi mới có một ít máy tính đầu tiên ra đời , thì chúng đã
được sử dụng trong các tính tóan thống kê và trong công tác nghiên cứu.
Ngày nay, máy tính đóng một vai trò quan trọng trong kinh doanh không
chỉ vì việc ghi chép số liệu tính tóan mà còn sử dụng trong kiểm tra sản
xuất, dự đóan, lập các báo cáo, tính tóan tiền lương, quản lý tín dụng và
kiểm sóat hàng hóa. Trong thực tế máy tính đã được sử dụng cho mọi
họat động quản lý kinh doanh.
Một điều rõ ràng là, rất ít doanh nghiệp nhỏ mua hoặc thuê
máy tính. Việc sử dụng máy tính ngày càng rộng rãi trong các công sở, cơ
quan như bưu điện, ngân hàng, sân bay, thanh tóan tiền điện thọai , v.v…
có ảnh hưởng không nhỏ lean họat động của các doanh nghiệp nhỏ.
Nhưng chức năng quan trọng nhất của máy tính trong kinh doanh ngày
Thực hiện : Sinh viên Nguyễn Thò Hương lớp : CD 19E1
Tiểu luận môn kinh tế chính trò Mac – lêNin Trang: 11
nay là chức năng kiểm sóat quản lý bao gồm mọi lónh vực kinh doanh. Đó
chính là lónh vực quan trọng nhất xảy ra trong một thập kỉ qua.
Nói như vậy không có nghóa là hạ thấp tầm quan trọng của
việc bán hàng và quản lý tiếp thò. Không có gì quan trọng hơn là tìm và
phục vụ khách hàng – như người ta thường nói “bán hàng là nhân tố
quyết đònh của doanh nghiệp”.
Tuy nhiên, kỹ thuật bán hàng không thay đổi mấy trong 12
năm qua, trong khi các phương pháp kiểm sóat tài chính lại phát triển
mạnh. Từ cuối thập kỉ 60 đến nay, xuất hiện một tình hình mới trong quản
lý các công ty lón. Người ta lập ra bộ phận chức năng (gọi là”phó chủ
tòch tài chính”) để thực hiện hàng lọat trọng trách bao gồm từ lập kế
họach dài hạn, cấp tiền cho các chi phí nghiên cứu, giám sát các chương
trình kế toán, theo dõi mức sinh lợi, đề ra những kiến nghò cho quản lý về
mọi phương diện của tài chính. Nói một cách ngắn gọn là kiểm sóat.
Một lần nữa cần lưu ý rằng hầu hết các doanh nghiệp không
có khả năng thuê mướn được chuyên gia quản lý tài chính có năng lực
cao thuộc lọai nói trên. Người quản lý doanh nghiệp nhỏ phải “đội rất
nhiều mũ”. Anh ta đội các lọai mũ như vậy khitham dự cuộc hội nghò của
các chủ daonh nghiệp nhỏ:
“khi tôi đến đây, doanh nghiệp của tôiđã cho bỏ các chức vụ
của giám đốc điều hành, trưởng phòng bán hàng, kiểm sóat viên, bộ phận
quảng cáo. Giám đốc nhân sự, kế tóan trưởng và người gác cổng”.
Thực hiện : Sinh viên Nguyễn Thò Hương lớp : CD 19E1
Tiểu luận môn kinh tế chính trò Mac – lêNin Trang: 12
Các chủ doanh nghiệp nhỏ bắt buộc phải trở thành” phó
chủ tòch tài chính”của chính mình. Đối với các chủ doanh nghiệp lớn hoặc
nhỏ để thành công thì yếu tố trước hết là phải kiểm sóat được doanh
nghiệp. Một doanh nghiệp khi được đặt dưới sự kiểm sóat hợp lý sẽ giám
sát chặ chẽ từng đô la thu về và từng đô la chia ra, và hiểu được vốn của
mình phải dành dụm, giữ gìn, chi tiêu như thế nào, cần giữ lại phần lợi
nhuận nào để mở rộng kinh doanh.
Tại sao 10.000 doanh ngiệp bò biến mất hàng name? dó nhiên
không phải chì vì phá sản. Một số chủ doanh nghiệp đơn giản là đã quyết
đònh chuyển sang hướng kinh doanh khác. Số khác thì đi tìm những thành
viên mới và thành lập cong ty mới. Một số còn lại cảm thấy không còn
thích thú hay nhận ra rằng họ không có sở trường để kinh daonh.
Tuy nhiên, một số lớn không may bò buộc phải đóng cửa vì
doanh nghiệp của họ đang ở ngưỡng cửa của sự phá sản, đang trong giai
đọan kiện tụng, chuyển nhượng hay tổ chức lại dưới sự giám sát của tòa
án.
Có thể nói rằng hơn 9 trong số 10 trường hợp phá sảnø doanh
nghiệp là do một số yếu kém nhất đònh trong quản lý. Điều này có thể
hơi cường điệu một chút. Nếu như một cửa hàng tạp hóa bean cạnh bất
ngờ pảhi đương đầu với sự cạnh tranh của một siêu thò mới vứa mở cửa
dọc theo phố của mình, hay một nhà máy lón nhất trong thành phố đóng
cửa va quảng ra ngòai đường nhiều người, hay nếu có hỏa họan, lụt lội
hay những sự cố khác của tự nhiên phá hủy đòa bàn hoạt động thì sự đổ
Thực hiện : Sinh viên Nguyễn Thò Hương lớp : CD 19E1
Tiểu luận môn kinh tế chính trò Mac – lêNin Trang: 13
vở cò thể dễ dàng xảy ra. Bao giờ cũng có thể có những tình huống
không dự kiến trước được tác động xấu đến sự ổn đònh của doanh nghiệp.
Trong đa số các trường hợp, sự that bại bắt nguồn hoặ từ sự
thiếu năng lực vủa những người quản lý chủ chốt trong điều hành công
việc hoặc sai lầm trong việc xử lí vốn. Qua những sự đổ vỡ càng thấy một
điều la nguyên nhân chính là do coi thường quản lý, do xét đóan sai lầm
hay những thiếu xóa khác.
Ví dụ, vào năm 1975 ở Mỹ đã có 11432 doanh nghiệp bò phá
sán, hay nói cách khác bò giải thể. Đó là một con số lớn nhất trong vòng 8
năm kể từ lúc đó. Những doanh nghiệp này đã nợ hơn 4 tỷ USD khi
chúng bò phá sản. Con số này đã vượt xa số nợ lớn nhất hàng năm khi
nhận được từ trước đến nay – cao hơn 25% số nợ của các doanh nghiệp bò
phá sán vào năm 1974.
Đã không hề có trong số này các doanh nghiệâp nhỏ. Nhưng
cho dù lón hay nhỏ, thì hầu hết trong chúng bò thất bại là do mất khả năng
thích ứng với những thay đổi hay không kiểm được tài chính một cách
hợp lý .
Mặt phải của chiếc huân chương thì thế nào? Về những người
thành đạt? Trước hết , ta hãy chú ý đến một điều: Sự thành công cũa
doanh nghiệp không phải bao giờ cũng phụ thuộc vào số lïng vốn ban
đầu. Một trong số những hãng sản xuất vật liệu xây dựng lón nhất và
thành công nhất ở Mỹ đã khởi nghiệp đúng ngay trước cuộc Đại suy
thóai kinh tế bởi một nhà kinh doanh năng động với chỉ có 500 USD trong
Thực hiện : Sinh viên Nguyễn Thò Hương lớp : CD 19E1
Tiểu luận môn kinh tế chính trò Mac – lêNin Trang: 14
tay. Loại thành đạt này nay vẫn còn có thể có. Đúng, do vốn ít nên
thường dễ nghó rằng doanh nghiệp nhỏ bao giờ cũng ở chỗ bất lợi hơn.
Nhưng số liệu thực tế lại lập luận theo cách khác. Chắc chắn là doanh
nghiệp lớn có lợi thế do có dự trữ vốn lớn và có lực lượng cán bộ nghiên
cứu tiếp thò có năng lực – nhưng doanh nghiệp nhỏ lại có lợi thế về tính
đơn giản và năng động. Nhười ta còn nhớ về nhận xét của một vò chủ tòch
một hãng thép nhỏ ở New York:
“Nếu chúng tôi nhận d8ược một lời phàn nàn, hay một khách
hàng gọi điện cho chúng tôi về một vấn đề nào đó, thì tôi sẽ đến văn
phòng noun tiếp khách hàng ngay vào sáng hôm sau cùng với nhười phụ
trách bán hàng của mình hay một trong số nhân viên kỹ thuật của chúng
tôi. Trong khi đó một trong những đối thủ cạnh tranh lớn của chúng tôi
chắc sẽ bắt đầu nghiên cứu vấn đề như vậy hoặc bổ nhiệm một hội đồng
để nghiên cứu nó, thì chúng tôi đã giải quyết xong vụ việc hoặc ghi nhận
điều khiếu nại đó và có thể đã lại tiếp đến với một đơn đặ hàng khác “.
Nhưng để thành công, một doanh nghiệp nhỏ phải biết sử
dụng c1c lợi thế của mình. Để khai thác chúng người chủ doanh nghiệp
phải:
• Thông hiểu về ản xuất và tiếp thò.
• Vui vẻ phục vụ.
• Năng động và làm việc cần cù.
• Biết kiểm soát tài chính.
Thực hiện : Sinh viên Nguyễn Thò Hương lớp : CD 19E1
Tiểu luận môn kinh tế chính trò Mac – lêNin Trang: 15
Và như vậy, ở đây chúng ta lại quay trở lại thuật ngữ –
KIỂM SÓAT - chìa khóa của sự thành công trong quản lý.
Nhưng người quản lý doanh nghiệp nhỏ thường có kiến thức
tốt về sản xuất và bán hàng. Quả thực , khó có thể đi vào kinh doanh nếu
không có khả năng như vậy. Nhưng nhiều chủ doanh nghiệp chỉ được đào
tạo “trường học cấp tốc”, họ cần phải hiểu những vấn đề cơ bản sau đây:
• Điều chỉnh các khỏan chi tiêu và đồng vốn.
• Có đường lới tín dụng đúng đắn và thực hiện nó
một cách đúng đắn.
• Kiểm tra chất lượng hàng hóa một cách hiệu
quả, cả trong quan hệ với việc bán hàng cũng như trong việc
sử dụng vốn kinh doanh.
• Can đối tài sản thích hợp như bất động sản,
máy móc và trang bò vốn.
• Quản lý một cách khôn khéo các khỏan nợ
ngắn hạn và nợ dài hạn.
• Bố trí lợi nhuận một cách hợp lý cho nhu cầu
cạnh tranh cũnh như cho tăng trûng và trả lương.
Hai công cụ kiểm sóat cơ bản giúp các chủ doanh nghiệp
thực hiện việc quản lý là bảng tổng kết tài sản và bảng quyết tóan lỗ lãi.
Các chương tiếp theo sẽ dành cho việc làm thuế nào có thể sử dụng tối đa
các công cụ này thông qua việc phân tích tỷ lệ.
Thực hiện : Sinh viên Nguyễn Thò Hương lớp : CD 19E1
Tiểu luận môn kinh tế chính trò Mac – lêNin Trang: 16
II . 4. CÁC TỶ LỆ KINH DOANH VÀ CHÚNG ĐƯC SỬ
DỤÏÏNG NHƯ THẾ NÀO
Bảng tổng kết tài sản cho biết một doanh nghiệp đang ở
trạng thái nào trong năm kinh doanh. Bảng quyết tóan lỗ thì tóm tắt các
kết quả họat động kinh doanh trong suốt chu kỳ kế tóan.
Hai lọai văn bản tài chính này bản thân nó chỉ mới là bộ sưu
tập các số liệu không biết nói. Nhưng khi các số liệu tài chính tổng hợp
được diễn giải và được đánh giá , thì chúng bắt đầu lean tiếng . Một bảng
tổng kết tài sản riêng lẻ cũng giống như phần mở đầu cho các chương của
một cuốn sách – nó chỉ cho biết jkhung cảnh ban đầu. Thực vậy, một
bảng tổng kết tài sản riêng lẻ sẽ chỉ cho thấy vốn được phân bổ như thế
nào, bao nhiêu trong từng tài sản và tồn tại bao nhiêu phần thặng dư tài
sản có so với tài sản nợ. Còn một bảng tổng kết lỗ lãi riêng lẻ sẽ chỉ cho
ta thấy khối lượng hàng hóa bán trong một chu kỳ xác đònh , số chi chí
phải bỏ ra, và số nhuận thu được sau khi trừ đi tất cả mọi chi phí .
Nhưng khi một lọat các bảng tổng kết tài sảncho các tài
khỏang thời gian đều đặn của năm tài chính hay năm dương lòch được xắp
xếp theo cột dọc sao cho các khỏan mục có liên quan có thể so sánh được
, thì những thay đổi trong các khỏang mục này sẽ bắt đầu boat lộ xu thế.
Sự so sánh các bảng tổng kết tài sản không còn là những tấm ảnh chụp
nhanh nữa mà là những bức ảnh chụp X q2uang cấu trúc xương sống của
tất cả các hành động và quyết đònh quản lý cơ bản.
Thực hiện : Sinh viên Nguyễn Thò Hương lớp : CD 19E1
Tiểu luận môn kinh tế chính trò Mac – lêNin Trang: 17
Như vậy, quyết đònh đối với với việc tăng số lượng hành hóa
do giá hàng lean có thể được phát hiện từ số lượng hàng hóa tăng lean từ
chu kỳ này đến chu kỳ khác. Nếu các khỏan tín dụng được nối lỏng và
những nguồn thu giảm xuống , trong khi đó doanh số hàng hóa bán giữ
nguyên không đổi thì khi đó có thể có sự tăng liên tục các khỏan phải thu.
Nếu mở rộng kinh doanh , nợ nần có thể tăng lean và nếu lỗ còn kéo dài
thì giá trò ròng suuy giảm .
Tương tự, so sánh các bảng tổng kết lỗ lãi sẽ phát hiệ ra
những thay đổi quan trọng ở những chỗ có sự thay đổi này. Liệu việc
giảm giá đã được nhu cầu cạnh tranh? Khi đó hãy chuan bò tinh thần
“đón” khỏan lợi nhuận thấp hơn trừ khi các chi phí mua hàng vào cũng
giảm cùng tỷ lệ như vậy. Doanh số bán hàng tăng? Nếu tăng thì các
khỏan chi phí thế nào? Chúng còn giữ được mức độ tỷ lệ thuận ? Đã phải
chi nhiều tiền hơn để hỗ trợ cho văn phòng? Khỏan tiền này lấy từ đâu?
Thế còn tổng vố cố đònh? Có kiểm sóat được hay không? Chỉ có bằng
cách so sánh thu nhập kinh doanh va các khỏan mục chi phí từ chu kỳ này
đấn chu kỳ khác mới có thể tìm được ra câu trả lời cho những câu hỏi đó
như vậy.
Để có những so sánh có nghóa , cần phải sử dụng các mối
quan hệ . Chẳng hạn, nếu như kiểm kê kho hàng cho thấy giá trò tăng lên
50.000 USD, thì ý nghóa của nó khó dánh giá , trừ khi khỏan mục này
được so sánh với tổng doanh số bán hàng và vốn lưu động. Nói cách khác
là liệu doanh nghiệp có thực sự bổ sung thêm nhiều cho kho hàng hay
Thực hiện : Sinh viên Nguyễn Thò Hương lớp : CD 19E1
Tiểu luận môn kinh tế chính trò Mac – lêNin Trang: 18
không? Liệu hàng hóa đã quay vòng đủ nhanh như ta hình sung hay
không ? Hay đó là kết quả của sự tồn đọng những hành hóa không bán
được? Như vậy, cần phải lập mối quan hệ giữa các khỏan mục tài sản có
và nợ với một cái gì khác nữa để hiểu được dễ dàng tầm quan trọng đó.
Tương tự, khi phân tích chi phí trong quan hệ với doanh số
bán hàng, bạn có thể chuyển số liệu chi phí thành phần trăm của hàng
bán . Sau đó, bằng cách so sánh các tỷ lệ phần trăm từ chu kỳ này đến
chu kỳ khác bạn có thể thấy liệu tổng số đô la tính gộp của các khỏan
mục riêng tăng hay giảm. Do đó, các bảng quyết tóan lỗ lãi được các
nhân viên kế tóan lập nên cho biết không chỉ tổng số đô la mà thường
còn cả các tỷ lệ phần trăm của doanh số bán hàng được biểu thò trong
từng khỏan mục . Tỷ lệ phần trăm tất nhiên , là những biểu thức tỷ lệ số
học . Còn các phân số chính là các tỷ lệ .
II . 5 CÁC TỶ LỆ CHUẨN THƯỜNG GẶP
Cần trả bao nhiêu tiền thuê nhà ? Phải trả bao nhiêu cho thu
nhập tử tiền lương của mình? Phải mất bao nhiêu tiền để đưa hàng đi?
Chi phí trung bình để thực hiện kinh doanh theo kế họach là bao nhiêu ?
Phải trả bao nhiêu tiền công cho đội ngũ bán hàng của mình?
Đó là những câu hỏi hòan tòan không phải sách vở . Chúng
được các doanh gia đặt ra hàng ngày khi họ trò chuyện với nhau hoặc khi
họ tranh luận về vấn đề kinh doanh với các đồng nghiệp, với những nhà
quản trò kinh doanh và những người trong nghề tín dụng .
Thực hiện : Sinh viên Nguyễn Thò Hương lớp : CD 19E1
Tiểu luận môn kinh tế chính trò Mac – lêNin Trang: 19
Khi có các vấn đề tài chính xuất hiện, chúng sẽ làm nảy sinh
các câu hỏi tiếp theo . Một trong các câu hỏi chung nhất là “Doanh
nghiệp của ta sẽ kiếm được bao nhiêu lãi từ vốn đầu tư?” các câu hỏi
khác sẽ là :” Ta muốn mua một số máy móc . Liệu có thể mua np65i
bằng số vốn hiện có ở doanh nghiệp hay là phải đầu tư thêm tiền nữa?”,
“Doanh nghiệp đối thủ của ta đang được đưa ra bán. Nếu mua nó, liệu
vốn kinh doanh của ta có đủ để tài trợ cho cả hai doanh nghiệp không?
Hàng hóa của ta quay vòng nhanh như thế nào? Có cần phải dành dự
phòng cho các khỏan nợ khó đòi không?”
Sự có sẵnthông tin mà nhờ đó một chủ doanh nghiệp nhỏ có
thể đánh giá được hiệu quả là vô cùng quan trọng. Quả thực, việc so sánh
các tỷ lệ mẫu họăc chuẩn làm cơ sở đánh giá với các phương hướng kinh
doanh khác nhau , gay cho nhiều nhà doanh nghiệp nhỏ phải xem xét lại
các phương hướng tư duy kinh doanh của mình.
Chẳng hạn , cách đây ít lâu một hiệp hội thong mại đại diện
cho một doanh nghiệp nhận thầu đã tổ chức một cuộc họp để thảo luận
các vấn đề về giá bỏ thầu. Vấn đề bỏ thầu đã được đưa lên bàn . Những
người tham gia đã được trao cho một tập các quy trình kỹ thuật và giá cả
vật liệu về một công việc mà họ “chưa rõ” . Vấn đề là phải hình dung
các chi phí và bỏ thầu cho công việc với một giá có thể đem lại lợi nhuận
hợp lý.
Các khỏan tiền đặt giá đã được xắp xếp từ 13% cho đến 31%
trên chi phí vật tư. Trong khi đó, một kế tóan viên được đào tạo về
Thực hiện : Sinh viên Nguyễn Thò Hương lớp : CD 19E1
Tiểu luận môn kinh tế chính trò Mac – lêNin Trang: 20
chuyên ngàng chi phí đã xác đònh trước là chênh lệch giá đặt sẽ là 26%.
Trong khi thảo luận về biên độ dao động của kết quả khi thực hiện công
việc này, một quan chức của hiệp hội đã nói:
“ Những người của chúng tôi không hiểu một cách nay đủ về
các chi phí . Họ có thể hình dung được những khỏan mục rõ ràng mà họ
xử lý hàng ngày, nhưng họ lại không biết một cách nay đủ các chi phí cố
đònh và các khỏan phí gián tiếp – những thứ không được biết hòan tòan
cho đến lúc kết tóan vào cuối năm. Thật ra, các thành viên của chúng tôi
hiểu quá ít về tất cả các yếu tố này hình thành giá trò. Kết quả là rất ít
người trong số họ kiếm được lợi nhuận phải chăng . Nhưng những nghiên
cứu ngày nay về các yếu tố này trong tình huống hiện thời đã làm nhiều
người “sáng mắt”… “.
Ở phương diện khác của vấn đề, ngày càng nhiều các chủ
doanh nghiệp đang học cách phân tích tỷ lệ như một công cụ quản lý để
xác đònh chính xác những điều kiện cần lưu ý trong doanh nghiệp của họ.
Phântích tỷ lệ không phải là một vấn đề hòan tòan mới .
ngay từ năm 1913 văn phòng nghiên cứu doanh nghiệp của Đại hocï
Harward ( Mỹ ) đã tiến hành một nghiên cứu về chi phí của các cửa hàng
giày. Từ đó, rất nhiều công trình nghiên cứu đã được các hiệp hội thương
mại, các cơ quan chính phủ, các cơ quan thong nghiệp, các ngân hàng,
các bộ phận nghiên cứu của nhiều hãng công nghiệp và kiểm tóan và các
trường đại học tiến hành.
Thực hiện : Sinh viên Nguyễn Thò Hương lớp : CD 19E1
Tiểu luận môn kinh tế chính trò Mac – lêNin Trang: 21
Việc nhận ra tầm quan trọng của những tỷ lệ kinh doanh tốt
sẽ đem lại nhiều ảnh hưởng hơn đối với quá trình chuẩn hóa các thủ tục
và do vậy, cải thiện hơn kết quả quản lý.
Bước đầu tiên, trong việc phát triển các tỷ lệ kinh doanh
dùng để so sánh là thiết lập các bảng quyết tóan lỗ lãi chi tiết cho các
công ty. Dó nhiên, khôpng phải mọi công ty đều “xoay xở” được trên
những con số của mình. Một số hãng không có đủ những ghi chép chi tiết
cần thiết. Một số khác lại không hề ghi chép theo cách thức để có thể so
sánh được với những chỉ số của phần lớn các hảng khác trong cùng một
ngành.
Tất nhiên, nếu như tất cả các chỉ số của cáac công ty được
ghi chép theo cùng một cách và tất cả các doanh nghiệp trong cùng một
ngành đồng ý với nhau cung cấp chúng thì sẽ có rất nhiều thông tin để xử
lý trong thực tế. Để thu nhận, sắp xếp và diễn đạt các kết quả cần phải có
nhiều thời gian và tiền của.
Các nhà thống kê khắc phục vấn đề này bằng cách “chọn
mẫu” tức là họ nhận thông tin từ một số ngẫu nhiên các công ty đóng ở
trên một đòa bàn lớn. Các công ty được chọn mẫu là các công ty có các
nét điển hình đại diện cho một số đông.
Do vậy, cái gì đúng cho mẫu thì cũng xem là đúng cho số
đông mặc dù không một công ty đơn lẻ nào có thể phản ánh chính xác
đặc điểm của số đông .
Thực hiện : Sinh viên Nguyễn Thò Hương lớp : CD 19E1
Tiểu luận môn kinh tế chính trò Mac – lêNin Trang: 22
Việc chọn kích cỡ của mẫu và chọn công ty nào làm mẫu
được thực hiện nhờ sửa dụng các công thức tóan học khác nhau mà tất cả
chúng đều được sử dụng để cùng giải quyết vấn đề như vậy. Một điều
quan trọng cần phải nhớ là một khi các phương pháp được thực hiện một
cách đúng đắn thì các mẫu được chọn là tiêu biểu và cho những kết quả
tin cậy.
Sau khi phương pháp chọn mẫu đã được đề xuất và chấp
nhận cho ngành, tiếp theo là chọn tên của các công ty trong các đòa bàn
được chọn một cách ngẫu nhiên . Tên các công ty này có thể lấy từ danh
sách do một hiệp hội cung cấp, từ danh sách của bưu điện, danh mục của
khách hàng, các sách tra cứu hay bất kỳ nguồn thông tin nào có thể có
được .
Bước tiếp theo là gửi các yêu cầu cề bảng quyết tóan lỗ lãi
chi tiết cho họ theo một ngày đònh trước. Đôi khi, cơ quan tổng hợp đòi
hỏi các số liệu phải ghi theo các dạng mẫu mà họ chuan bò trước để bảo
đảm thống nhất và so sánh được với nhau.
Ngay sau khi thông tin bắt đầu được gửi về cho các nhân viên
thống kê, thì công việc tập hợp và đối chiếu cũng bắt đầu. Có một số
phương pháp xử lý dể đưa ra được các số liệu cơ sở trung gian này đã
được xác đònh, chúng thường được sắp xếp theo phần trăm của tòan bộ
trạng thái của công ty. Trong một trường hợp, các con số có thể được ghi
nhân dưới dạng số tiền trung bình, chẳng hạn như doanh số bán hàng của
công ty.
Thực hiện : Sinh viên Nguyễn Thò Hương lớp : CD 19E1
Tiểu luận môn kinh tế chính trò Mac – lêNin Trang: 23
Thông thường, những con số này được phân nhóm theo lọai
quy mô, chẳng hạn như kho hàng có khối lượng hàng bán từ 20.000 USD
đến 50.000 USD, các kho hàng thực hiện doanh số bán hàng năm từ
50.000 đến 100.000 USD v v… Hoặc chúng có thể được phân nhóm theo
khu vực thành thò hay nông thôn, hay bán hàng chòu hoặc bán trả ngay.
Cuối cùng, các nghiên cứu thường chỉ ra quan hệ của một số
khỏan mục chốt như tiền lương của chủ doanh nghiệp, hay tiền lương của
một nhân viên bán hàng, hay số lượng hàng bán trên một mét vuông, số
vòng quay của kho hàng trung bình v v…
Số lượng các nguồn thông tin để lập nên các tỷ lệ tài chính
theo bảng tổng kết tài sản cho mục đích so sánh là khá nhỏ so với những
nguồn dùng để nghiên cứu các tỷ lệ kinh doanh. Nhiều thông tin có thể sử
dụng được cho các tỷ lệ tài chính theo bảng tổng kết tài sản là có ở các
doing nghiệp lớn.
Một số cơ quan của Chính phủ liên bang ở Mỹ như Ủy ban
Thương mại liên bang và Ủy ban chứng khóan và giao dòch chứng khóan
đã nghiên cứu các tỷ lệ khác nhau của bảng tổng kết tài sản đối với công
ty lớn, và những nghêin cứu tương tự cũng được một số trường đại học
tiến hành. Một vài hiệp hội thương mại còn bổ sung các nghiên cứu của
mình về các tỷ lệ kinh doanh trong ngành mình với các tỷ lệ về các
khỏan mục của bảng tổng kết tài sản đã chọn. Các ngân hàng cũng thực
hiện những nghiên cứu tỷ lệ riêng dựa trên dữ liệu của riêng họ và sử
dụng những nghiên cứu nổi tiếng của công ty Robert Morris đã dành cho
Thực hiện : Sinh viên Nguyễn Thò Hương lớp : CD 19E1
Tiểu luận môn kinh tế chính trò Mac – lêNin Trang: 24
họ. Việc thiết lập các tỷ lệ của báo cáo tài chính so sánh còn được công
ty Dun & Bradstreet tiến hành trong nhiều năm.
Mục tiêu sử dụng đầu tiên các tỷ lệ tài chính là để phân tích
điều kiện tiền tệ của doanh nghiệp. Chúng phản ánh hiện trạng của
doanh nghiệp.
Các tỷ lệ kinh doanh cũng được sử dụng cho các mục tiêu rất
hữu ích. Một trong số những mục tiêu đó là giúp cho người quản lý phân
bổ vốn, lập ngân sách và lập kế họach. Việc quản lý kinh doanh thành
công đòi hỏi phải biết sử dụng các tỷ lệ đó để bắt đầu một năm kinh
doanh bằng việc đònh ra các tỷ lệ phần trăm của mỗi đô la bán hàng được
đưa vào tiền lương, tiền thuê nhà, đi lại, quản lý chung.v. v… Bằng cách
quản lý như vậy, với sự xét đóan trước , một chủ doanh nghiệp có thể
kiểm sóat được quy trình tiến triển và nếu như doanh nghiệp đang đi
chệch hướng , thì lập tức có thể điều chỉnh ngay được. Đó là một công cụ
để kiếm lợi nhuận.
Thứ hai là bằng cách so sánh tỷ lệ phần trăm của doanh số
bán hàng về chi phí quản lý doanh nghiệp với những tỷ lệ chuẩn được
thiết lập của ngành, người chủ doanh nghiệp có thể tìm được một phương
sách tốt, nếu các chi phí kinh doanh của anh ta không cân bằng. Khi đó,
hành động có thể cần thực hiện là lọai bỏ sự mất cân bằng và cải thiện
mức sinh lợi.
II. 6 Phân tích tỷ lệ trong quá trình họat động :Một
trường hợp có thực
Thực hiện : Sinh viên Nguyễn Thò Hương lớp : CD 19E1
Tiểu luận môn kinh tế chính trò Mac – lêNin Trang: 25
Các tỷ lệ có nhiều ứng dụng. Chúng có ích trong việc phân
tích các khỏan phải thu, trong kiểm tra trạng thái kho hàng, trong chỉ dẫn
các điều kiện tài chính, trong so sánh các khỏan mục chi tiêu, trong phân
tích tiềm năng hoặc mất d9ối hiện hành được phản ánh trong các bảng
tổng kết tài sản và các bảng quyết tóan lỗ lãi. Về phần sau sẽ nói đến
một số nguyên lý phổ biến và việc ứng dụng phân tích tỷ lệ.
II . 7 Đánh giá và diễn giải các tỷ lệ
Nếu đặt các tỷ lệ vào đúng tầm có lẽ sẽ tiết kiệm cho ta
nhiều thời gian và công sức. Nhiều doanh nghiệp nhỏ có thể họat động
một cách vững vàng nhờ kiểm tra các quan hệ về lợi nhuận và chi phí
bán hàng và bằng cách hồi phục cân đối cơ cấu tài chính . Việc xác đònh
các vấn đề phát sinh có thể tiến hành một cách đơn giản hơn nếu dựa vào
các tỷ lệ chuẩn mực. Bước đầu tiên trong việc đánh giá và diễn giải các
tỷ lệ là hình thành quan điểm.
Khi so sánh các tỷ lệ họat động kinh doanh của một công ty
riêng biết với các tỷ lệ của những doanh nghiệp cùng ngành, người chủ
doanh nghiệp phải nhớ rằng sự so sánh này được thực hiện trên các con
số trung bình. ( Phải thừa nhận những con số trung bình này là chuẩn
mực, nói cách khác , những mẫu tạo cơ sở để tính các tỷ lệ chuẩn là phù
hợp và việc thiết lập chúng là thực tế).
Khi đó, câu hỏi đầutiên là: anh có muốn được là trung bình
không? Về phương diện này thì các tỷ lệ mẫu thường không phải là trung
bình. Chúng có thể bao gồm những công ty kém hiệu năng nhất cũng như
Thực hiện : Sinh viên Nguyễn Thò Hương lớp : CD 19E1