====
=
==
===
==
===
====
===
====
====
== ==
==
==
==
===
s
ứ
sang nhà Minh xin s
ắ
c phong vua Lê là An Nam
đ
ô th
ố
ng s
ứ
Còn Tùng
th́
bu
ộ
c vua Lê phong cho
ḿ
nh làm
Đ
ô nguyên
su
ư
t
ổ
ng quan qu
ố
c chính th
ượ
ng ph
ụ
,
t
ướ
c
B́
nh An v
ươ
ng. Tùng quy
đị
nh cho vua Lê
đượ
c thu thu
ế
1000 x
ă
(
g
ọ
i là l
ộ
c
th
ươ
ng ti
ế
n) và 5000 quân lính túc v
ệ
,
7 con voi và 20 chi
ế
c thuy
ề
n r
ồ
ng.
Tr
ị
nh Tùng cho l
ậ
p ph
ủ
liêu riêng g
ồ
m
đủ
c
ả
l
ụ
c phiên t
ươ
ng
đươ
ng v
ớ
i l
ụ
c b
ộ
c
ủ
a tri
ề
u vua. Ph
ủ
chúa toàn quy
ề
n
đặ
t quan,
thu thu
ế
, b
ắ
t lính. Vua ch
ỉ
có m
ặ
t trong nh
ữ
ng d
ị
p long tr
ọ
ng
đặ
c bi
ệ
t nh
ư
ti
ế
p s
ứ
Tàu mà thôi. T
ừ đ
ây b
ắ
t
đầ
u m
ộ
t th
ờ
i k
ỳ
"
vua Lê
-
chúa Tr
ị
nh". Con chúa Tr
ị
nh c
ũ
ng
đượ
c quy
ề
n th
ế
t
ậ
p g
ọ
i là Th
ế
t
ử.
Tr
ướ
c s
ự
h
ố
ng hách, l
ộ
ng quy
ề
n c
ủ
a chúa Tr
ị
nh, vua Lê Kính Tông không ch
ị
u n
ổ
i bèn cùng v
ớ
i con Tr
ị
nh Tùng là Tr
ị
nh
Xuân m
ư
u gi
ế
t Tr
ị
nh Tùng. Công vi
ệ
c b
ạ
i l
ộ,
Tr
ị
nh Tùng b
ứ
c vua th
ắ
t c
ổ
ch
ế
t gi
ữ
a tu
ổ
i 32. Tùng cho Hoàng Thái t
ử
Lê Duy
K
ỳ
lên thay ngôi vua, l
ấ
y hi
ệ
u là Lê Th
ầ
n Tông.
B
ấ
y gi
ờ
liêu thu
ộ
c r
ấ
t nhi
ề
u ng
ườ
i dâng s
ớ
can ng
ă
n Tr
ị
nh Tùng ph
ả
i ngh
ĩ đế
n dân vì dân là g
ố
c c
ủ
a n
ướ
c. Trong s
ố đ
ó có
Nguy
ễ
n Duy
Th́
làm quan
ở
Ng
ự
s
ử đ
ài
đă
m
ấ
y l
ầ
n dâng s
ớ
can ng
ă
n chúa Tr
ị
nh. T
ụ
c truy
ề
n r
ằ
ng: Trong ph
ủ
chúa có m
ộ
t cái
ki
ệ
u, ki
ể
u cách và s
ơ
n v
ẽ
r
ấ
t l
ộ
ng l
ẫ
y. M
ộ
t hôm Nguy
ễ
n Duy
Th́
đứ
ng bên c
ạ
nh, ch
ợ
t gi
ả ố
m ng
ă
v
ậ
t vào trong ki
ệ
u, c
ấ
m
kh
ẩ
u không nói
đượ
c câu
ǵ
.
Chúa Tr
ị
nh sai ng
ườ
i
đư
a quan Ng
ự
s
ử
v
ề
ph
ủ
.
Sáng hôm sau Duy
Th́
vào khai r
ằ
ng:
-
Th
ầ
n hôm qua ng
ộ
cả
m,
độ
i
ơ
n chúa th
ượ
ng bao dong. Cái ki
ệ
u
ấ
y th
ầ
n
đă
trót
ố
m n
ằ
m lên r
ồ
i, khônh ti
ệ
n l
ạ
i ti
ế
n ph
ụ
ng
n
ữ
a. Xin s
ẽ
s
ắ
m cái
đẹ
p
đẽ
khác dâng n
ộp.
Chúa Tr
ị
nh hi
ể
u
ư,
không trách h
ỏ
i n
ữ
a.
M
ộ
t l
ầ
n khác, Nguy
ễ
n Duy
Th́
xin phép chúa v
ề
ngh
ỉ ở
quê là x
ă
Thanh L
ă
ng (Phúc Yên). Lúc
đ
ó chúa Tr
ị
nh
đ
ang yêu m
ộ
t
bà phi ng
ườ
i làng Mông Ph
ụ
,
bà phi
ấ
y
đượ
c yêu chi
ề
u nên uy th
ế
khá l
ớ
n. Duy
Th́
v
ẫ
n th
ườ
ng nói xa
để
khuyên r
ă
n chúa.
Nay nhân d
ị
p quan Ng
ự
s
ử đ
i v
ắ
ng, chúa ng
ự
thuy
ề
n r
ồ
ng lên "kinh l
ư
"
S
ơ
n Tây, ti
ệ
n
đườ
ng r
ẽ
vào làng nhà bà phi. Thuy
ề
n
chúa qua h
ạ
t Yên L
ă
ng, Duy
Th́
ng
ồ
i ch
ờ
r
ồ
i ph
ụ
c l
ạ
y
ở
b
ế
n sông mà khóc. Chúa th
ấ
y l
ạ
h
ỏ
i
th́
ông nói:
-
B
ố
n ph
ươ
ng không có gi
ặ
c gi
ă
,
sao l
ạ
i vì m
ộ
t ng
ườ
i
đ
àn bà mà làm nh
ọ
c
đế
n 6 quân, nh
ư
v
ậ
y qu
ố
c th
ể
còn ra
ǵ
n
ữ
a.
R
ồ
i quan Ng
ự
s
ử
ra l
ệ
nh cho quân s
ĩ
không
đượ
c b
ơ
i thuy
ề
n ti
ế
n lên, h
ễ
ai trái l
ệ
nh s
ẽ
l
ấ
y quân pháp tr
ị
t
ộ
i. Chúa vì th
ế
ph
ả
i
h
ồ
i loan.
N
ă
m Quí H
ợ
i (1623),
B́
nh An v
ươ
ng Tr
ị
nh Tùng b
ị
cả
m, sai các quan bàn vi
ệ
c ch
ọ
n Th
ế
t
ử.
Tri
ề
u th
ầ
n
đề
u tâu l
ấ
y Th
ế
t
ử
Tr
ị
nh Tráng gi
ữ
binh quy
ề
n, còn con th
ứ
là Thái B
ả
o qu
ậ
n công Tr
ị
nh Xuân gi
ữ
ch
ứ
c phó. Bi
ế
t tin này, ngày hôm sau Tr
ị
nh
Xuân
đ
em quân và voi vào phá N
ộ
i ph
ủ
c
ướ
p l
ấ
y voi ng
ự
a, vàng b
ạ
c châu báu r
ồ
i b
ắ
t Tr
ị
nh Tùng ph
ả
i d
ờ
i ra ngoài thành r
ồ
i
phóng l
ử
a
đố
t ph
ủ
chúa, l
ử
a cháy lan kh
ắ
p kinh k
ỳ
.
Tr
ị
nh Tráng cùng em là Tr
ị
nh Kh
ả
i
đ
em vua ch
ạ
y ra ngoài. Tr
ị
nh Tráng
h
ọ
p các quan v
ă
n v
ơ ở
ch
ợ
Nhân M
ụ
c huy
ệ
n Thanh
Tŕ
bàn vi
ệ
c
đố
i phó v
ớ
i Tr
ị
nh Xuân. Lúc
đ
ó Tr
ị
nh Tùng
đă
quá
ố
m y
ế
u,
sai em ru
ộ
t là Tr
ị
nh
Đỗ
d
ụ
Tr
ị
nh Xuân
đế
n (Quán B
ạ
c, x
ă
Hoàng Mai, huy
ệ
n Thanh
Tŕ
)
để
trao cho
đạ
i quy
ề
n. Xuân
đế
n,
m
ồ
m ng
ậ
m c
ỏ,
ph
ủ
ph
ụ
c
ở
sân. Tr
ị
nh Tùng k
ể
tôi Xuân là k
ẻ
lo
ạ
n th
ầ
n t
ặ
c t
ử,
truy
ề
n l
ệ
nh cho Bùi S
ĩ
Lâm ch
ặ
t chân Xuân
cho ch
ế
t. Còn Tr
ị
nh
Đỗ
em Tr
ị
nh Tùng, sai con trai
ḿ
nh là Tr
ị
nh Th
ạ
c
đ
i
đ
ón Th
ế
t
ử
Tr
ị
nh Tráng
đế
n g
ặ
p Tr
ị
nh Tùng. Th
ế
t
ử
Tr
ị
nh Tráng cùng v
ớ
i Th
ạ
c c
ưỡ
i chung m
ộ
t con voi. Th
ấ
y v
ậ
y, thu
ộ
c t
ướ
ng c
ủ
a Tráng cho bi
ế
t là cha con ông chú (Tr
ị
nh
Đỗ
)
đ
ang có âm m
ư
u h
ạ
i Tr
ị
nh Tráng, Tráng nghe
đượ
c m
ớ
i b
ả
o Th
ạ
c c
ứ
v
ề
dinh tr
ướ
c r
ồ
i t
ự
ḿ
nh
đ
em quân ch
ạ
y v
ề đ
óng
ở
Ninh Giang.
Ngày 20 tháng 6 n
ă
m Quí H
ợ
i (1623), Tr
ị
nh Tùng m
ấ
t t
ạ
i quán Thanh Xuân, huy
ệ
n Thanh Oai. Tr
ị
nh Tráng cho
đ
ón linh c
ữ
u
v
ề
Ninh Giang phát tang r
ồ
i sai 13 chi
ế
c thuy
ề
n
đư
a linh c
ữ
u theo
đườ
ng thu
ỷ
v
ề
táng
ở
Thanh Hoá. Tr
ị
nh Tráng c
ũ
ng r
ướ
c
vua Lê v
ề
Thanh Hoá
để
lo vi
ệ
c d
ẹ
p lo
ạ
n.
Nh
ư
v
ậ
y là trong 20 n
ă
m n
ắ
m quy
ề
n, Tr
ị
nh Tùng
đă đ
ánh b
ạ
i
đượ
c nhà M
ạ
c, khôi ph
ụ
c l
ạ
i c
ơ đồ
nhà Lê, nh
ư
ng c
ũ
ng b
ắ
t
đầ
u t
ừ đ
ây m
ộ
t ki
ể
u cai tr
ị
t
ồ
n t
ạ
i song song c
ả
vua l
ẫ
n chúa.
Chúa Tr
ị
nh Tùng ng
ự
tr
ị ở
Th
ă
ng Long 33 n
ă
m n
ữ
a, t
ổ
ng c
ộ
ng c
ả
qu
ă
ng
đờ
i chinh chi
ế
n l
ẫ
n hoà
b́
nh, Tr
ị
nh Tùng c
ầ
m quy
ề
n
53 n
ă
m, khi m
ấ
t
đă
74 tu
ổ
i.
D
ư đả
ng c
ủ
a h
ọ
M
ạ
c do Kính Khoan
đ
ang chi
ế
m c
ứ đấ
t Cao B
ằ
ng nghe tin Tr
ị
nh tùng ch
ế
t, các con
đ
ánh nhau giành ngôi
chúa, li
ề
n t
ừ
Cao B
ằ
ng kéo xu
ố
ng Gia Lâm, ng
ườ
i theo
đ
ông
đế
n hàng v
ạ
n. Tr
ị
nh Tráng ph
ả
i r
ướ
c vua Lê ch
ạ
y vào Thanh
Hoá.
Tháng 8 n
ă
m Quí H
ợ
i (1623) Tr
ị
nh Tráng
đ
em quân ra phá tan quân c
ủ
a Kính Khoan
ở
Gia Lâm. Kính Khoan m
ộ
t mình
ch
ạ
y thoát thân, tr
ố
n vào núi. Kinh thành l
ạ
i
đượ
c yên. Tráng l
ạ
i r
ướ
c vua Lê tr
ở
l
ạ
i kinh
đ
ô. Mùa
đ
ông n
ă
m
đ
ó (1623) vua
Lê phong Nguyên súy th
ố
ng qu
ố
c chính Thanh
Đ
ô v
ươ
ng cho Tr
ị
nh Tráng.
Tr
ị
nh Tráng lên n
ă
m quy
ề
n
ở
ph
ủ
chúa là lúc quan h
ệ
gi
ữ
h
ọ
Tr
ị
nh và h
ọ
Nguy
ễ
n tr
ở
nên c
ă
ng th
ẳ
ng. T
ạ
m yên m
ặ
t B
ắ
c, Tr
ị
nh
Tráng l
ạ
i ph
ả
i lo
đố
i phó m
ặ
t
Nam
. Lúc này
ở Đ
àng trong, chúa Nguy
ễ
n Phúc Nguy
ễ
n
đă
ra m
ặ
t ch
ố
ng l
ạ
i chúa Tr
ị
nh
ở Đ
àng
ngoài. Tr
ị
nh Tráng nhi
ề
u l
ầ
n l
ấ
y danh ngh
ĩ
a vua Lê
đ
em quân
đ
i
đ
ánh Phúc Nguy
ễ
n nh
ư
ng quân Nguy
ễ
n l
ợ
i d
ụ
ng
đị
a th
ế
hi
ể
m
tr
ở
,
đắ
p lu
ỹ đ
ài ch
ố
ng c
ự
quy
ế
t li
ệ
t, quân Tr
ị
nh không làm gì
đượ
c, ph
ả
i rút v
ề
.
Khi lên n
ắ
m quy
ề
n Tr
ị
nh Tráng
đă
cao tu
ổ
i
(47 tu
ổ
i), t
ừ
ng tr
ả
i vi
ệ
c quân vi
ệ
c
đờ
i nên trong chính sách cai tr
ị
,
Tráng khéo léo và m
ư
u mô h
ơ
n các chúa tr
ướ
c.
Để
th
ắ
t
ch
ặ
t thêm quan h
ệ
gi
ữ
a nhà chúa v
ớ
i vua Lê, Tr
ị
nh Tráng
đ
em con gái c
ủ
a mình (tr
ướ
c
đă
l
ấ
y ch
ồ
ng
đượ
c b
ố
n con v
ớ
i ng
ườ
i
chú h
ọ
c
ủ
a vua Lê) g
ả
cho vua Lê, ép vua l
ậ
p làm Hoàng h
ậ
u. Vua Lê
đ
ành ch
ị
u ch
ấ
p nh
ậ
n vi
ệ
c
đó.
N
ă
m
Ấ
t D
ậ
u (1645), Tr
ị
nh Tráng tu
ổ
i
đă
già, xin vua Lê phong cho con th
ứ
hai là Tây qu
ậ
n công Tr
ị
nh T
ạ
c làm Khâm sai ti
ế
t
ch
ế
các x
ứ
thu
ỷ
bộ
ch
ủ
dinh ch
ươ
ng qu
ố
c quy
ề
n binh, t
ả
t
ướ
ng thái u
ư
Tây Qu
ố
c công. Tr
ị
nh T
ạ
c
đượ
c ch
ọ
n thay quy
ề
n cha
gi
ữ
ngôi chúa. Sau quy
ế
t
đị
nh này vài hôm, Tr
ị
nh Tráng b
ị
cả
m m
ạ
o, các con là Tr
ị
nh Sâm, Tr
ị
nh L
ị
ch vì không
đượ
c cha
truy
ề
n ngôi bèn n
ổ
i lo
ạ
n. Sau c
ả
hai ng
ườ
i con này
đề
u b
ị
b
ắ
t chém. Th
ờ
i k
ỳ
cầ
m quy
ề
n, Tr
ị
nh Tráng có chút công lao ngo
ạ
i
giao
đ
áng k
ể
là vua Minh t
ừ
ch
ỗ
ch
ỉ
ch
ự
c phong t
ướ
c An Nam
đ
ô th
ố
ng s
ứ
cho các vua Lê Trung H
ư
ng,
đế
n
đ
ây
đă
ch
ị
u
phong cho Lê Th
ầ
n Tông (
đă
truy
ề
n ngôi cho con lên làm Thái Th
ượ
ng hoàng) làm An Nam qu
ố
c v
ươ
ng và mùa
đ
ông n
ă
m
Tân M
ă
o (1651) l
ạ
i phong Tr
ị
nh Tráng làm phó v
ươ
ng. Có s
ự
ki
ệ
n này là b
ở
i nhà Minh
đ
ang b
ị
M
ă
n Thanh t
ấ
n công xâm l
ấ
n
t
ừ
ph
ươ
ng B
ắ
c ph
ả
i ch
ạ
y xu
ố
ng phía Nam, c
ầ
u có
đồ
ng minh giúp
đỡ
.
N
ă
m
Đ
inh D
ậ
u (1657), Tr
ị
nh Tráng m
ấ
t, tr
ả
i qua 30 n
ă
m c
ầ
m quy
ề
n ph
ủ
chúa,
đượ
c vua Lê phong
đế
n h
ế
t m
ứ
c: Th
ượ
ng
chúa s
ư
ph
ụ
công cao thông
đ
oán nhân thánh Thanh v
ươ
ng, ch
ế
t 81 tu
ổ
i.
VĂ
N T
Ổ NGHỊ V
ƯƠ
NG TR
ỊNH TRÁNG (1623-1652)
Tr
ị
nh T
ạ
c là con th
ứ
hai mà l
ạ
i
đượ
c cha ch
ọ
n làm Nguyên súy ch
ưở
ng qu
ố
c chính Tây
Đị
nh v
ươ
ng t
ừ
n
ă
m Quí T
ị
(
1653) khi
Tr
ị
nh Tráng
đ
ang còn s
ố
ng. S
ự đả
o l
ộ
n th
ứ
t
ự
gi
ữ
a Tr
ị
nh T
ạ
c và Tr
ị
nh Toàn
đă
t
ạ
o nên m
ộ
t mâu thu
ẫ
n ng
ấ
m ng
ầ
m gi
ữ
a Toàn
và T
ạ
c. Lúc này, cu
ộ
c chi
ế
n gi
ữ
a
Đ
àng Ngoài và
Đ
àng Trong
đ
ang ngày càng quy
ế
t li
ệ
t. Tr
ị
nh Toàn
đ
ang n
ắ
m gi
ữ
binh quy
ề
n
ở
Ngh
ệ
An. N
ă
m Bính Thân (1656) Tr
ị
nh T
ạ
c sai C
ă
n là con trai c
ả
làm Th
ế
t
ử
l
ă
nh ch
ứ
c Tá qu
ố
c dinh phó
đ
ô t
ướ
ng Thái
B
ả
o Phú Qu
ậ
n công
đ
em quân vào Ngh
ệ
An t
ă
ng vi
ệ
n cho Tr
ị
nh Toàn và c
ũ
ng
để
ki
ề
m ch
ế
Tr
ị
nh Toàn. Ngày 16
-
4 n
ă
m
Đ
inh D
ậ
u (1657) tr
ướ
c khi qua
đờ
i, Tr
ị
nh T
ạ
c cho ng
ườ
i tri
ệ
u Toàn v
ề
kinh
đ
ô m
ư
u sát. B
ộ
h
ạ
Toàn s
ợ
b
ị
v
ạ
lây
đă
ch
ạ
y
sang hàng quân Nguy
ễ
n
ở Đ
àng Trong, riêng Toàn không bi
ế
t làm sao,
đ
em toàn b
ộ
voi ng
ự
a, khí gi
ớ
i
đế
n c
ử
a quân c
ủ
a
Tr
ị
nh C
ă
n xin cháu
đ
oái th
ươ
ng. Tr
ị
nh C
ă
n không dám quy
ế
t
đị
nh nói:
-
"
Vi
ệ
c
đă
nh
ư
th
ế
,
nên ph
ả
i v
ề
kinh
đợ
i m
ệ
nh". Toàn mi
ễ
n c
ưỡ
ng ph
ả
i v
ề
kinh. Tr
ị
nh T
ạ
c sai
đ́
nh th
ầ
n tra h
ỏ
i t
ố
ng ng
ụ
c cho
đế
n ch
ế
t. Quy
ề
n hành quân s
ự
t
ừ
tay Tr
ị
nh Toàn
đượ
c chuy
ể
n h
ế
t vào tay Tr
ị
nh C
ă
n. C
ă
n
đ
óng quân
ở
Ngh
ệ
An.
T
ừ
chúa Tr
ị
nh T
ạ
c tr
ở đ
i, vua Lê cho phép các chúa Tr
ị
nh vào ch
ầ
u không ph
ả
i l
ạ
y, t
ừ
ch
ươ
ng t
ấ
u không ph
ả
i
để
tên,
đặ
t
ch
ỗ
ng
ồ
i
ở
bên t
ả
nhà vua m
ỗ
i khi thi
ế
t tri
ề
u. Sau th
ă
ng l
ợ
i d
ẹ
p
đượ
c M
ạ
c Kính V
ũ ở
Cao B
ằ
ng tháng 9 n
ă
m
Đ
inh Mùi
(1667), Tr
ị
nh T
ạ
c t
ự
nh
ậ
n công mao c
ủ
a
ḿ
nh bao trùm t
ấ
t c
ả
,
càng l
ấ
n l
ướ
t vua Lê, t
ự
gia phong
Đạ
i nguyên soái th
ượ
ng s
ư
Thái ph
ụ
Tây v
ươ
ng.
N
ă
m Nhâm Tí (1672), Tr
ị
nh T
ạ
c ép vua Lê
đ
em quân vào
đ
ánh quân Nguy
ễ
n m
ộ
t tr
ậ
n l
ớ
n
ở
châu B
ắ
c B
ố
Chính. Quân
Tr
ị
nh chi
ế
m
đượ
c lu
ỹ
Tr
ấ
n Ninh. Tr
ị
nh có nhi
ề
u t
ướ
ng gi
ỏ
i nh
ư
Tr
ị
nh C
ă
n, ch
ỉ
huy quân th
ủ
y, Lê Th
ờ
i Hi
ế
n ch
ỉ
huy quân b
ộ.
Tr
ị
nh huy
độ
ng
đế
n 3 v
ạ
n quân v
ượ
t sông Gianh
đ
ánh vào c
ử
a Nh
ậ
t L
ệ
.
Quân Nguy
ễ
n ra s
ứ
c ch
ố
ng
đỡ
nh
ờ
vào h
ệ
th
ố
ng
thành lu
ỹ
kiên c
ố.
Tháng 12 n
ă
m Nhâm Tí (1672), Tr
ị
nh T
ạ
c rút
đạ
i binh v
ề
ch
ỉ để
l
ạ
i Lê Th
ờ
i Hi
ế
n tr
ấ
n gi
ữ
Ngh
ệ
An. T
ừ đó
hai phía
Đ
àng Ngoài và
Đ
àng Trong t
ạ
m d
ừ
ng binh
đ
ao, l
ấ
y sông Gianh làm gi
ớ
i h
ạ
n.
Tr
ở
v
ề
kinh
đ
ô, Tr
ị
nh T
ạ
c b
ắ
t
đầ
u chú
ư đế
n b
ộ
máy cai tr
ị
theo l
ố
i "chính quy": V
ă
n th
ầ
n ph
ả
i thay phiên nhau vào
ứ
ng tr
ự
c
t
ạ
i ph
ủ
chúa
để
làm công vi
ệ
c. Vi
ệ
c này g
ọ
i là "nh
ậ
p các". D
ướ
i s
ự
tham gia, c
ố
v
ấ
n c
ủ
a tham t
ụ
ng Ph
ạ
m Công Tr
ứ,
m
ộ
t lo
ạ
t
chính sách m
ớ
i v
ề
thu
ế
khoá, ru
ộ
ng
đấ
t
đượ
c ban hành
để
gi
ả
i quy
ế
t h
ậ
u qu
ả
chi
ế
n tranh.
Nh
ư
ng c
ũ
ng vào th
ờ
i k
ỳ
này, b
ắ
t
đầ
u xu
ấ
t hi
ệ
n n
ạ
n kiêu binh. Lính Thanh Ngh
ệ
cậ
y có công lao trong chi
ế
n tr
ậ
n sinh ra kiêu
ng
ạ
o, phóng túng, n
ổ
i lo
ạ
n gi
ế
t b
ồ
i t
ụ
ng Nguy
ễ
n Qu
ố
c Trinh, c
ướ
p phá nhà Tham t
ụ
ng Ph
ạ
m Công Tr
ứ.
Kinh thành tr
ở
nên
náo lo
ạ
n.
Tháng 7 n
ă
m Giáp D
ầ
n (1674), Tr
ị
nh T
ạ
c xin vua Lê ti
ế
n phong cho con là Tr
ị
nh C
ă
n làm Nguyên soái, t
ướ
c
Đị
nh Nam
v
ươ
ng, n
ắ
m toàn quy
ề
n thay cha. Tr
ị
nh C
ă
n t
ự
x
ư
ng là Phó v
ươ
ng.
N
ă
m Tân D
ậ
u (1682), Tr
ị
nh T
ạ
c m
ấ
t, con là Tr
ị
nh C
ă
n n
ố
i gi
ữ
ngôi chúa. Tr
ị
nh T
ạ
c n
ắ
m quy
ề
n 25 n
ă
m, tr
ả
i qua 4
đờ
i vua
Lê. Th
ầ
n Tông, Huy
ề
n Tông, Gia Tông và Hy Tông, th
ọ
77 tu
ổ
i.
HOẰ
NG T
Ổ D
ƯƠ
NG V
ƯƠ
NG TR
Ị
NH T
ẠC (1653-1682)
Tr
ị
nh C
ă
n là con tr
ưở
ng c
ủ
a Tr
ị
nh T
ạ
c. Lúc còn nh
ỏ
có t
ộ
i ph
ả
i giam vào ng
ụ
c. V
ề
sau nh
ờ
khéo v
ậ
n
độ
ng Tr
ị
nh C
ă
n
đượ
c
tha.
D
ướ
i th
ờ
i Tr
ị
nh C
ă
n, vì chi
ế
n tranh gi
ữ
a
Đ
àng Trong và
Đ
àng Ngoài
đă
t
ạ
m d
ừ
ng. Vì th
ế
,
chúa Tr
ị
nh c
ũ
ng có
đ
i
ề
u ki
ệ
n
để
c
ủ
ng c
ố bộ
máy cai tr
ị ở Đ
àng Ngoài. Giúp cho vi
ệ
c cai tr
ị
c
ủ
a chúa Tr
ị
nh lúc
đ
ó nhi
ề
u ng
ườ
i
đỗ đạ
t cao, danh v
ọ
ng l
ớ
n nh
ư
Nguy
ễ
n Danh Nho, Nguy
ễ
n Quí
Đứ
c, Nguy
ễ
n Tông Quai,
Đặ
ng
Đ́
nh T
ườ
ng
Ở
Trung Qu
ố
c, nhà Thanh
đă
lên c
ầ
m quy
ề
n,
mu
ố
n m
ở
r
ộ
ng
ả
nh h
ưở
ng ban
đầ
u xu
ố
ng phía Nam. H
ọ
t
ỏ
ra có nhi
ề
u thân thi
ệ
n v
ớ
i tri
ề
u
đ́
nh Lê
-
Tr
ị
nh: Tháng 9 n
ă
m M
ậ
u Tí
(1683) nhà Thanh sai s
ứ
sang ban cho vua Lê
ḍ
ng
đạ
i t
ự
"
trung hi
ế
u th
ủ
bang" (có
ḷ
ng trung thành hi
ế
u kính
để
gi
ữ
n
ướ
c).
Đ
ây là s
ự
tri ân nhà Lê
đă
t
ừ
ch
ố
i không c
ứ
u vi
ệ
n cho Ngô Tam Qu
ế
, b
ầ
y tôi ph
ả
n ngh
ị
ch ch
ố
ng nhà Thanh. Vua Thanh còn
sai s
ứ
ban l
ễ
ph
ẩ
m cho vi
ệ
c t
ế
Huy
ề
n Tông và Gia Tông. Tr
ị
nh C
ă
n
đă
làm
đượ
c m
ộ
t s
ố
vi
ệ
c
đ
áng chú ý:
N
ă
m Giáp T
ư
(
1684) h
ạ
l
ệ
nh cho quan l
ạ
i vi hành th
ị
sát dân
t́
nh. Trong l
ệ
nh ch
ỉ
chúa Tr
ị
nh vi
ế
t:
"Th
ươ
ng yêu dân chúng là vi
ệ
c
đầ
u tiên trong chính s
ự.
Dân chúng có ng
ườ
i
ć
quan s
ở
t
ạ
i hà kh
ắ
c, b
ọ
n quy
ề
n quí
ứ
c hi
ế
p, có
ng
ườ
i vì oan
ứ
c ph
ả
i phiêu tán tha h
ươ
ng, h
ọ
cầ
n
đượ
c v
ỗ
v
ề
th
ươ
ng yêu m
ớ
i ph
ả
i".
B
ằ
ng nhi
ề
u c
ố
g
ắ
ng ngo
ạ
i giao, chúa Tr
ị
nh
đă
bu
ộ
c nhà Thanh tr
ả
l
ạ
i m
ộ
t s
ố
thôn
ấ
p vùng biên gi
ớ
i. M
ặ
c dù v
ậ
y, l
ợ
i d
ụ
ng
chi
ế
n tranh Tr
ị
nh
-
Nguy
ễ
n, vùng biên gi
ớ
i n
ướ
c ta không
đượ
c chú
ư đế
n, quan l
ạ
i tr
ấ
n th
ủ
và th
ổ
t
ừ
bên kia biên gi
ớ
i xâm l
ấ
n
khá nhi
ề
u
đấ
t
đ
ai. Tr
ị
nh C
ă
n
đă
b
ắ
t
đầ
u có
ư
th
ứ
c
đ̣
i l
ạ
i
đấ
t, nh
ư
ng ch
ư
a
đượ
c bao nhiêu.
N
ă
m Quí D
ậ
u (1693) chúa Tr
ị
nh c
ũ
ng b
ắ
t
đầ
u ch
ỉ
nh
đố
n l
ạ
i th
ể
v
ă
n thi
ở
các khoa tr
ườ
ng và b
ắ
t
đầ
u
đặ
t ch
ứ
c quan l
ă
nh
công vi
ệ
c
ở
Qu
ố
c T
ử
giám, làm s
ổ
"
tu tri"
để
qu
ả
n l
ư
m
ọ
i m
ặ
t các x
ă
thôn trong n
ướ
c.
Tr
ị
nh C
ă
n c
ũ
ng r
ấ
t quan tâm
đế
n vi
ệ
c chu
ẩ
n b
ị
cho ng
ườ
i k
ế
nghi
ệ
p, nh
ư
ng v
ề
vi
ệ
c này, chúa g
ặ
p nhi
ề
u l
ậ
n
đậ
n: N
ă
m Giáp Tí
(1684), Tr
ị
nh C
ă
n ph
ả
i phong cho con th
ứ
là Bách làm ti
ế
t ch
ế
thay cho con c
ả
là V
ĩ
nh
đă
ch
ế
t, Bách
đượ
c quy
ề
n m
ở
ph
ủ đệ
riêng và chu
ẩ
n b
ị
thay th
ế
cha. Không may, n
ă
m
Đ
inh M
ă
o (1687) Tr
ị
nh Bách l
ạ
i ch
ế
t s
ớ
m. Tr
ị
nh C
ă
n l
ạ
i phong cho Tr
ị
nh
Bính là cháu n
ộ
i
đ
ích tôn (con Tr
ị
nh V
ĩ
nh). Sau 6 n
ă
m, n
ă
m Quí Mùi (1703), Tr
ị
nh Bính c
ũ
ng ch
ế
t, Tr
ị
nh C
ă
n l
ạ
i ph
ả
i phong
cho ch
ắ
t n
ộ
i (con c
ả
c
ủ
a Tr
ị
nh Bính) là Tr
ị
nh C
ươ
ng làm ti
ế
t ch
ế
t An Qu
ố
c công, lúc v
ừ
a 18 tu
ổ
i. Vi
ệ
c truy
ề
n ngôi cho
ḍ
ng
đ
ích này
đượ
c các quan
đạ
i th
ầ
n nh
ư
Nguy
ễ
n Quí
Đứ
c và
Đặ
ng
Đ
ình T
ườ
ng
ủ
ng h
ộ.
Song c
ũ
ng vì th
ế
mà ph
ủ
chúa l
ạ
i m
ộ
t
phen l
ụ
c
đụ
c. Tháng 3 n
ă
m Giáp Thân (1704), Tr
ị
nh Luân và Tr
ị
nh Ph
ấ
t làm ph
ả
n m
ư
u gi
ế
t Ti
ế
t ch
ế
Tr
ị
nh C
ươ
ng l
ấ
y l
ư
r
ằ
ng
Luân và Ph
ấ
t là con Tr
ị
nh Bách ti
ế
t ch
ế đă
ch
ế
t, có quy
ề
n n
ố
i ngôi, hu
ố
ng chi C
ươ
ng ch
ỉ
là ch
ắ
t. Sau nh
ờ s
ự
m
ậ
t tâu k
ị
p th
ờ
i
c
ủ
a Nguy
ễ
n Công C
ơ
nên qua
đượ
c, Luân và Ph
ấ
t b
ị
gi
ế
t. Nguy
ễ
n Công C
ơ đượ
c th
ă
ng H
ữ
u th
ị
lang b
ộ
Công.
N
ă
m K
ỷ
Sử
u (1709) Tr
ị
nh C
ă
n m
ấ
t. Ch
ắ
t là Tr
ị
nh C
ươ
ng lên n
ố
i ngôi. Tr
ị
nh C
ă
n gi
ữ
ph
ủ
chúa 28 n
ă
m. Nhi
ề
u s
ử
gia
đươ
ng
th
ờ
i bình r
ằ
ng: "V
ề
chính tr
ị
,
th
ưở
ng ph
ạ
t rõ ràng, m
ố
i r
ườ
ng ch
ỉ
nh
đố
n, s
ử
a sang nhi
ề
u vi
ệ
c". D
ướ
i th
ờ
i Tr
ị
nh C
ă
n, nhi
ề
u danh
s
ĩ
,
ng
ườ
i tài
ở
B
ắ
c Hà
đượ
c tr
ọ
ng d
ụ
ng.
Đờ
i t
ư
c
ủ
a Tr
ị
nh C
ă
n c
ũ
ng không có gì
đ
áng chê. M
ấ
t lúc 77 tu
ổ
i, truy tôn là Khang
V
ươ
ng, hi
ệ
u là Chiêu t
ổ.
CHIÊU T
Ổ KHANG V
ƯƠ
NG TR
ỊNH CĂN (1682-1709)
Tr
ị
nh C
ươ
ng là con tr
ưở
ng c
ủ
a T
ấ
n Quan v
ươ
ng Tr
ị
nh Bính, là ch
ắ
t c
ủ
a Tr
ị
nh C
ă
n,
đượ
c ch
ọ
n
để
n
ố
i nghi
ệ
p chúa. S
ự
l
ự
a
ch
ọ
n này v
ừ
a theo nguyên t
ắ
c tr
ự
c h
ệ
v
ừ
a do hai
đạ
i th
ầ
n có ti
ế
ng th
ờ
i Lê
-
Tr
ị
nh là Nguy
ễ
n Quí
Đứ
c và
Đặ
ng
Đ́
nh T
ườ
ng ti
ế
n
c
ử. N
ă
m K
ỷ
Sử
u (1709), Tr
ị
nh C
ă
n m
ấ
t, Tr
ị
nh C
ươ
ng n
ố
i ngôi gia phong là Nguy
ễ
n soái t
ổ
ng qu
ố
c chính An
Đ
ô v
ươ
ng.
Tháng 9 n
ă
m Giáp Ng
ọ
(
1714) Tr
ị
nh C
ươ
ng l
ạ
i
đượ
c ti
ế
n phong
Đạ
i Nguyên soái t
ổ
ng qu
ố
c chính Th
ượ
ng s
ư
An v
ươ
ng.
Nhân d
ị
p ti
ế
n phong, Tr
ị
nh C
ươ
ng vào bát y
ế
t Thái mi
ế
u và ch
ầ
u vua Lê
ở đ
i
ệ
n V
ạ
n Th
ọ.
Đ
ây là c
ử
ch
ỉ
t
ỏ
ra Tr
ị
nh C
ươ
ng là
ng
ườ
i bi
ế
t gi
ữ
m
ố
i quan h
ệ
vua Lê chúa Tr
ị
nh, không quá m
ứ
c l
ấ
n quy
ề
n nh
ư
các chúa tr
ướ
c.
Đ
áp l
ạ
i, Lê D
ụ
Tông kính tr
ọ
ng
C
ươ
ng khác th
ườ
ng, cho t
ấ
u s
ớ
không ph
ả
i
đề
tên.
Th
ờ
i k
ỳ ở
chúa, Tr
ị
nh C
ươ
ng r
ấ
t ch
ă
m ch
ỉ
lo toan vi
ệ
c tr
ị
n
ướ
c. Chúa tr
ọ
ng d
ụ
ng ba
đạ
i th
ầ
n r
ấ
t tr
ẻ
và có tài là Lê Anh Tu
ấ
n,
Nguy
ễ
n Công C
ơ
và Nguy
ễ
n Công H
ă
ng. Cùng v
ớ
i các quan này,
đặ
c bi
ệ
t là v
ớ
i Nguy
ễ
n Công H
ă
ng, Tr
ị
nh C
ươ
ng bàn
đị
nh
và ban hành hàng lo
ạ
t c
ả
i cách v
ề
thu
ế
khoá: áp d
ụ
ng phép thu
ế
Tô Dung
Đ
i
ệ
u h
ọ
c c
ủ
a Trung Qu
ố
c, nh
ằ
m h
ạ
n ch
ế
b
ấ
t công
trong thu
ế
má
để
l
ạ
i t
ừ
tr
ướ
c. Sử
ghi r
ằ
ng có l
ầ
n, n
ử
a
đ
êm, ngh
ĩ đế
n vi
ệ
c c
ả
i cách, Tr
ị
nh C
ươ
ng sai ng
ườ
i
đế
n
đ
ánh th
ứ
c hai
quan t
ể
t
ướ
ng là Công H
ă
ng và Anh Tu
ấ
n m
ờ
i vào ph
ủ
bàn vi
ệ
c. C
ươ
ng ng
ồ
i
đợ
i hai quan vào bàn vi
ệ
c, có lúc làm vi
ệ
c kéo
dài
đế
n quá tr
ư
a.
Có l
ầ
n bàn v
ề
nghi th
ứ
c tri
ề
u ph
ụ
c cho các quan, qu
ầ
n thàn khuyên Tr
ị
nh C
ươ
ng dùng áo màu vàng
để
ti
ế
p ki
ế
n b
ầ
y tôi,
C
ươ
ng t
ừ
chôi
v́
cho r
ằ
ng màu vàng ch
ỉ
dành cho vua,
ḿ
nh là chúa, dùng màu tía
để
phân bi
ệ
t v
ớ
i tri
ề
u quan là
đượ
c.
Gia thu
ộ
c h
ọ
Tr
ị
nh
đề
u có quân riêng, Tr
ị
nh C
ươ
ng ra l
ệ
nh gi
ả
i tán, ch
ỉ
gi
ữ
l
ạ
i m
ộ
t l
ự
c l
ượ
ng th
ố
ng nh
ấ
t do ph
ủ
chúa cai qu
ả
n
nh
ằ
m
đề
pḥ
ng các thân thu
ộ
c
đ
ánh nhau tranh giành quy
ề
n l
ự
c. Sau
đ
ó, Tr
ị
nh C
ươ
ng t
ổ
ch
ứ
c l
ạ
i quân ng
ũ
c
ủ
a ph
ủ
chúa,
đặ
t
sáu quân doanh, l
ự
a ch
ọ
n
đ
inh tráng t
ừ bố
n tr
ấ
n và binh lính Thanh Ngh
ệ
.
M
ỗ
i doanh biên ch
ế
800 ng
ườ
i, b
ổ d
ụ
ng 6 t
ướ
ng
chia nhau th
ố
ng l
ĩ
nh.
Đầ
u n
ă
m, 1724, Tr
ị
nh C
ươ
ng
đượ
c thay nhà vua t
ế đ
àn Nam Giao song không
đứ
ng vào ch
ỗ
vua Lê
làm l
ễ
.
Ng
ườ
i
đươ
ng th
ờ
i r
ấ
t tin ph
ụ
c C
ươ
ng.
Tr
ị
nh C
ươ
ng r
ấ
t chú tr
ọ
ng
đế
n vi
ệ
c b
ổ d
ụ
ng và làm trong s
ạ
ch
độ
i ng
ũ
quan l
ạ
i. N
ă
m Giáp
Th́
n (1724), theo l
ờ
i bàn c
ủ
a
Nguy
ễ
n Công H
ă
ng, chúa cho phép dân chúng
đượ
c y
ế
t b
ả
ng góp
ư
ki
ế
n quan l
ạ
i
đạ
i ph
ươ
ng. B
ố
cáo g
ử
i các
đị
a ph
ươ
ng
có ghi r
ơ
: "
Nh
ữ
ng
đ
i
ề
u y
ế
t lên b
ả
ng ph
ả
i xu
ấ
t phát t
ừ
l
ẽ
công b
ằ
ng, c
ả
lo
ạ
t
đề
u cùng m
ộ
t gi
ọ
ng. Ng
ườ
i nào y
ế
t ghép theo
ư
riêng
ḿ
nh, khen chê b
ậ
y b
ạ
s
ẽ
b
ị
t
ộ
i".
M
ộ
t vi
ệ
c hi
ế
m x
ả
y ra trong ch
ế độ
phong ki
ế
n là t
ổ
ch
ứ
c thi l
ạ
i
để
lo
ạ
i tr
ừ k
ẻ
b
ấ
t tài nh
ờ
ch
ạ
y ch
ọ
t mà
đỗ đạ
t. N
ă
m Bính
Ng
ọ
(
1726), Nguy
ễ
n Công C
ơ
tâu lên chúa r
ằ
ng chuy
ệ
n thi c
ử
có nhi
ề
u nh
ũ
ng l
ạ
m, ph
ầ
n l
ớ
n con em nhà quy
ề
n th
ế đỗ
h
ươ
ng
c
ố
ng, không có th
ự
c tài, Tr
ị
nh C
ươ
ng h
ạ
l
ệ
nh cho thi l
ạ
i,
đ
ánh h
ỏ
ng 28 ng
ườ
i, trong s
ố đ
ó có con tham t
ụ
ng Lê Anh Tu
ấ
n,
con Huân qu
ậ
n công
Đặ
ng
Đ́
nh Giám, con nuôi n
ộ
i giám
Đỗ
Bá Ph
ẩ
m B
ọ
n này
đượ
c giao xu
ố
ng cho pháp
đ́
nh xét h
ỏ
i và
tr
ị
t
ộ
i n
ặ
ng. Nguy
ễ
n Công C
ơ
v́
dám nói th
ẳ
ng,
đượ
c th
ă
ng ch
ứ
c Thi
ế
u b
ả
o.
Tháng 10 n
ă
m
Đ
inh Mùi (1727) Tr
ị
nh C
ươ
ng phong cho con là Tr
ị
nh Giang làm ti
ế
t ch
ế
,
t
ướ
c Uy qu
ậ
n công, m
ở
ph
ủ đệ
riêng g
ọ
i là ph
ủ Đ
i
ệ
n Qu
ố
c. Tr
ị
nh C
ươ
ng còn t
ự
so
ạ
n bài v
ă
n "b
ả
o hu
ấ
n"
để
ban d
ạ
y Tr
ị
nh Giang.
V
ề
già, Tr
ị
nh C
ươ
ng th
ườ
ng
đ
i tu
ầ
n du v
ă
n c
ả
nh các n
ơ
i, cho s
ử
a d
ự
ng nhi
ề
u chùa
ở
núi
Độ
c Tôn và Tây Thiên
để
ti
ế
p du
ngo
ạ
n. C
ổ
Bi c
ố
n là
đấ
t n
ổ
i ti
ế
ng vùng Kinh B
ắ
c, ti
ế
p giáp x
ă
Nh
ư
Kinh là quê m
ẹ
c
ủ
a Tr
ị
nh C
ươ
ng nên chúa v
ề
th
ă
m luôn,
Chúa còn cho xây ph
ủ đệ
m
ớ
i t
ạ
i
đ
ó, l
ấ
y tên là ph
ủ
Kim Thành và có
ư đị
nh
đ
óng ph
ủ
chúa
ở đấ
y.
N
ă
m K
ỷ
D
ậ
u (1729) Tr
ị
nh C
ươ
ng
đ
i ch
ơ
i chùa Ph
ậ
t Tích r
ồ
i Nh
ư
Kinh, b
ị
b
ệ
nh, ch
ế
t ngay t
ạ
i
đ
ó, quan quân bí m
ậ
t
đư
a v
ề
ph
ủ
phát tang. V
ị
chúa có nhi
ề
u tâm huy
ế
t v
ớ
i công cu
ộ
c c
ả
i cách kinh t
ế
,
chính tr
ị
này m
ấ
t
ở
tu
ổ
i 44, c
ầ
m quy
ề
n 20 n
ă
m.
V
ề
sau, con cháu truy tôn chúa là Nhân v
ươ
ng, hi
ệ
u là Hi t
ổ.
HY T
Ổ NHÂN V
ƯƠ
NG TR
ỊNH C
ƯƠ
NG (1709-1729)
Tr
ị
nh
G
iang là con c
ả
Tr
ị
nh C
ươ
ng. Khi Giang
c̣
n làm Th
ế
t
ử, b
ả
o phó c
ủ
a Giang là Nguy
ễ
n Công H
ă
ng
đă
dâng m
ậ
t s
ớ
nh
ậ
n
xét r
ằ
ng: Giang là ng
ườ
i
ươ
n hèn, không th
ể
gánh vác
đượ
c ngôi chúa. Tr
ị
nh C
ươ
ng khi
đó
đă
có ý thay ngôi Th
ế
t
ử,
ch
ư
a
dứ
t khoát thì C
ươ
ng
độ
t ng
ộ
t m
ấ
t, Tr
ị
nh giang v
ớ
i t
ư
cách Th
ế
t
ử
lên n
ố
i ngôi chúa.
Tháng 4 n
ă
m Canh Tu
ấ
t (1730), Giang t
ự
ti
ế
n phong Nguyên soái, th
ố
ng qu
ố
c chính Uy Nam v
ươ
ng. Sau khi lên ngôi, Tr
ị
nh
Giang tôn bà n
ộ
i là thái phi Tr
ươ
ng Th
ị
(
v
ợ
Tr
ị
nh Bính, ng
ườ
i x
ă
Nh
ư
Kinh, huy
ệ
n Gia Lâm, m
ẹ
Tr
ị
nh C
ươ
ng) làm Thái tôn
Thái phi, m
ỗ
i khi truy
ề
n
đạ
t l
ờ
i c
ủ
a Thái tôn Thái phi thì g
ọ
i theo hu
ư
ch
ỉ
;
tôn m
ẹ đẻ
làm Thái phi (ng
ườ
i x
ă
Mi Th
ử
;
huy
ệ
n
Đườ
ng Yên); truy tôn ông ngo
ạ
i là Tu
ấ
n qu
ậ
n công V
ũ
T
ấ
t T
ố
lên Tu
ấ
n Tr
ạ
ch công và
đ
ích m
ẫ
u Tr
ị
nh Th
ị
(
v
ợ
c
ả
c
ủ
a Tr
ị
nh
C
ươ
ng nh
ư
ng không có con,
đă
m
ấ
t) làm Thái phu nhân, l
ậ
p
đề
n th
ờ ở
kinh
đô.
N
ă
m Tân H
ợ
i (1731) vì có
đ
i
ề
u tai d
ị
(
Nh
ậ
t th
ự
c) chúa h
ạ
l
ệ
nh cho b
ầ
y tôi
tŕ
nh bày ý ki
ế
n v
ề
chính s
ự.
Bùi S
ĩ
Tiêm
đư
a ra
10 đ
i
ề
u, l
ờ
i l
ẽ
r
ấ
t th
ố
ng thi
ế
t, tâm huy
ế
t, ch
ỉ
trích nh
ữ
ng m
ụ
c nát trong b
ộ
máy cai tr
ị
lúc b
ầ
y gi
ờ
.
VÌ th
ế
, bọ
n quy
ề
n th
ầ
n r
ấ
t
ghét Tiêm. S
ớ đế
n tay Giang, quy
ề
n th
ầ
n l
ạ
i nói gièm thêm, Giang gi
ậ
n l
ắ
m, t
ướ
c b
ỏ
h
ế
t quan t
ướ
c,
đ
u
ổ
i S
ĩ
Tiêm v
ề
quê. Sau
m
ộ
t th
ờ
i gian ng
ắ
n, Tiêm m
ấ
t.
Tr
ị
nh Giang là ng
ườ
i thích âm nh
ạ
c và v
ă
n ch
ươ
ng. N
ă
m Nhâm T
ư
(
1732), Giang cho ch
ế
l
ễ
nh
ạ
c dùng trong ph
ủ đườ
ng
để
"
làm tô
đ
i
ể
m cho
đờ
i thái bình". T
ừ đ
ó ngày chúa ra coi ch
ầ
u, ph
ườ
ng nh
ạ
c s
ắ
p hàng
ở
ph
ủ đườ
ng. Khi c
ả
hai bên c
ử
a ph
ủ
v
ừ
a m
ở
thì nh
ạ
c c
ũ
ng
đượ
c c
ử
lên. Các quan v
ă
n v
ơ
l
ạ
y xong thì ng
ừ
ng ti
ế
ng nh
ạ
c. Khi chúa
đ
i tu
ầ
n du ho
ặ
c xu
ấ
t hành vi
ệ
c
quân thì b
ắ
n ba phát súng. Chúa
đ
i ra ngoài thì có c
ờ
l
ệ
nh, ph
ườ
ng nh
ạ
c chia nhau
đ
i tr
ướ
c d
ẫ
n
đườ
ng.
Tr
ị
nh Giang c
ũ
ng thích v
ă
n ngh
ệ
,
nh
ữ
ng bu
ổ
i không có tri
ề
u h
ộ
i, th
ườ
ng m
ờ
i các quan v
ă
n vào thi t
ụ
ng
ă
n y
ế
n trong l
ầ
u gác
c
ủ
a chúa: lúc thì vui th
ơ ở
nhà D
ưỡ
ng Chính, khi thì bình v
ă
n
ở đ
ình Bát Giác, Tây T
ụ
ng, Ph
ượ
ng Các. Vào d
ị
p đ
ó, Tr
ị
nh
Giang th
ườ
ng cho b
ầ
y tôi xem các v
ă
n b
ả
n x
ư
a, nh
ữ
ng bài th
ơ
do Giang t
ự
làm, bàn b
ạ
c ngh
ĩ
a sách, bình lu
ậ
n ngh
ĩ
a v
ă
n. Có
khi
c̣
n bàn c
ả
v
ề
cách vi
ế
t l
ố
i chân l
ố
i th
ả
o ho
ặ
c tri
ệ
n. Khi có h
ứ
ng, chúa x
ướ
ng v
ầ
n r
ồ
i b
ả
o các quan làm th
ơ
,
ho
ặ
c
t́
m các
bứ
c th
ư,
các bài k
ư,
t
ụ
ng, minh, châu, chi
ế
u, ch
ế
r
ồ
i
đề
v
ị
nh c
ả
nh v
ậ
t. Ai trúng thì khen th
ưở
ng ngay tr
ướ
c m
ặ
t chúa và các
quan. Chúa
c̣
n sai s
ư
u t
ầ
m th
ơ
v
ă
n, chia ra m
ụ
c lo
ạ
i, r
ơ
c
ả
h
ọ
tên tác gi
ả để
d
ễ
tra c
ứ
u. Cao Huy Tr
ạ
c, Nguy
ễ
n Công Thái,
Nguy
ễ
n Trác Luân, D
ươ
ng M
ạ
i, Nguy
ễ
n
Đứ
c Huy, Nguy
ễ
n Ki
ề
u vì v
ă
n th
ơ
hay,
đượ
c chúa r
ấ
t yêu qu
ư
!
VÌ th
ế
,
nhi
ề
u nho
th
ầ
n
đượ
c chúa khích l
ệ
.
Sau 6 n
ă
m gi
ữ
quy
ề
n bính, n
ă
m Bính Thìn (1736) Tr
ị
nh Giang phong cho em là Doanh 17 tu
ổ
i làm Ti
ế
t ch
ế
thu
ỷ
bộ
ch
ủ
quân,
ch
ứ
c Thái u
ư,
t
ứ
c Ân Qu
ố
c công, cho m
ở
ph
ủ
L
ượ
ng Qu
ố
c. M
ỗ
i tháng ba l
ầ
n, Doanh thay Giang tri
ề
u ki
ế
n tr
ă
m quan
ở
Trach Các
để
nghe tâu
tŕ
nh công vi
ệ
c. Giang r
ả
nh tay lao vào
ă
n nh
ậ
u, ch
ơ
i b
ờ
i. Giang cho xây d
ự
ng r
ấ
t nhi
ề
u cung quán,
chùa chi
ề
n r
ấ
t nguy nga và t
ố
n kém: Chùa H
ồ
Thiên, hành cung Qu
ế
Tr
ạ
o, T
ừ
D
ươ
ng, ph
ủ đệ ở
các làng h
ọ
ngo
ạ
i nh
ư
làng
T
ử
D
ươ
ng, làng Mi Th
ử.
Nhân vi
ệ
c xây c
ấ
t này, b
ộ
h
ạ
c
ủ
a chúa to
ả đ
i b
ố
n ph
ươ
ng b
ắ
t c
ố
ng n
ộ
p, vì th
ế
ng
ườ
i làm ru
ộ
ng,
ng
ườ
i
đ
i buôn m
ấ
t h
ế
t c
ơ
nghi
ệ
p.
Xây c
ấ
t xong cung quán chùa chi
ề
n, Tr
ị
nh Giang càng thích du ngo
ạ
n phong c
ả
nh. Ng
ườ
i b
ấ
y gi
ờ
b
ả
o: các chùa c
ổ,
danh s
ơ
n
ch
ỗ
nào c
ũ
ng có v
ế
t xe, d
ấ
u ng
ự
a nhà chúa. T
ừ
khi giao binh quy
ề
n cho em, Giang càng tr
ễ
n
ả
i công vi
ệ
c tri
ề
u
đ
ình. Chúa
th
ườ
ng
đ
óng hành t
ạ
i
ở
hành cung Qu
ế
Tr
ạ
o (huy
ệ
n Qu
ế
D
ươ
ng, Hà B
ắ
c) quê h
ươ
ng c
ủ
a n
ộ
i giám Hoàng Công Ph
ụ
,
th
ỉ
nh
tho
ả
ng m
ớ
i v
ề
kinh r
ồ
i l
ạ
i tu
ầ
n du ph
ươ
ng B
ắ
c. Hoàng Công Ph
ụ
là ho
ạ
n quan
đượ
c Giang tin yêu nên càng l
ộ
ng quy
ề
n. VÌ
nghi ng
ờ
lính Thanh Ngh
ệ
,
không mu
ố
n dùng làm th
ị
v
ệ
h
ầ
u xe chúa, Công Ph
ụ
tuy
ể
n ch
ọ
n lính tráng toàn là ng
ườ
i làng
đễ
d
ễ
b
ề
ki
ể
m soát và sai khi
ế
n. Th
ế
là các quan không ai bi
ế
t chúa
ở đ
âu mà
t́
m. G
ặ
p vi
ệ
c quân vi
ệ
c chính s
ự
kh
ẩ
n c
ấ
p không bi
ế
t
kêu ai vì Tr
ị
nh Doanh ch
ỉ
t
ạ
m nhi
ế
p chính không dám quy
ế
t. Vi
ệ
c tri
ề
u chính vì th
ế
r
ố
i tung.
Tr
ị
nh Giang lao vào
ă
n ch
ơ
i dâm lo
ạ
n nên s
ứ
c kho
ẻ
ngày càng kém sút. Giang
c̣
n m
ắ
c t
ộ
i lo
ạ
n dâm v
ớ
i cung n
ữ
c
ủ
a cha là K
ỳ
viên h
ọ Đặ
ng, sau V
ũ
thái phi bi
ế
t chuy
ệ
n, b
ắ
t éo
Đặ
ng th
ị
ph
ả
i t
ự
t
ử.
M
ộ
t hôm, b
ấ
t ng
ờ
Tr
ị
nh Giang b
ị
sét
đ
ánh g
ầ
n ch
ế
t. T
ừ
đ
ó m
ắ
c b
ệ
nh "Kinh qu
ư
" (
ch
ứ
ng tâm th
ầ
n b
ấ
t
đị
nh, ho
ả
ng h
ố
t và hay s
ợ
h
ă
i). B
ọ
n ho
ạ
n quan Hoàng Công Ph
ụ
nói d
ố
i r
ằ
ng:
đấ
y là vì dâm d
ụ
c mà b
ị
ác báo. Mu
ố
n không b
ị
h
ạ
i ch
ỉ
có cách là tr
ố
n xu
ố
ng
đấ
t. Nhân
đó bọ
n chúng
đ
ào
đấ
t, làm nhà h
ầ
m
cho chúa, g
ọ
i là cung Th
ưở
ng Trì. T
ừ đ
ó Tr
ị
nh giang
ở
h
ẳ
n d
ướ
i h
ầ
m, không h
ề
ra ngoài. Th
ế
là Hoàng Công Ph
ụ
càng có
đ
i
ề
u ki
ệ
n
để
l
ộ
ng quy
ề
n. Quan quân mu
ố
n tr
ử
kh
ử
l
ũ
ho
ạ
n quan này, nên kh
ắ
p các vùng dân chúng
đă
n
ổ
i lên: H
ả
i D
ươ
ng có
Nguy
ễ
n Tuy
ể
n, Nguy
ễ
n C
ừ
;
S
ơ
n Nam có Hoàng Công Ch
ấ
t dân quê
đ
eo b
ừ
a, vác cu
ố
c
đ
i theo r
ấ
t
đ
ông, có n
ơ
i
đế
n hàng
==
==
=
DỤ
T
Ổ
THU
ẬN V
ƯƠ
NG TR
ỊNH GIANG (1729-1740)
==
==
== ==
==
==
==
==
v
ạ
n ng
ườ
i, tri
ề
u
đ
ình b
ấ
t l
ự
c, không tr
ị
n
ổ
i.
Tr
ướ
c tình hình nguy ng
ậ
p
ấ
y, thái phi V
ũ
th
ị đă
cùng tri
ề
u th
ầ
n bàn cách l
ậ
p Tr
ị
nh Doanh lên thay Tr
ị
nh Giang
để
tr
ấ
n an
ḷ
ng
ng
ườ
i. N
ă
m Canh Thân (1740) Tr
ị
nh Doanh thay quy
ề
n ngôi chúa, l
ấ
y hi
ệ
u là Minh
Đ
ô v
ươ
ng, ti
ế
n tôn Tr
ị
nh Giang làm Thái
th
ượ
ng v
ươ
ng. Nh
ư
v
ậ
y Tr
ị
nh Giang c
ầ
m quy
ề
n
đượ
c 10 n
ă
m (1730
-
1740) sau
đ
ó lánh
ở
cung Th
ưở
ng
Tŕ
thêm 20 n
ă
m n
ữ
a
m
ớ
i m
ấ
t, th
ọ
51 tu
ổ
i, truy tôn là Thu
ậ
n v
ươ
ng, hi
ệ
u là D
ụ
T
ổ.
Tr
ị
nh Doanh là con th
ứ
3 c
ủ
a Tr
ị
nh C
ươ
ng. Giang lên c
ầ
m quy
ề
n
ở
ph
ủ
chúa
đă
lâu mà ch
ư
a có con, th
ấ
y em là Doanh có
v
ă
n tài võ l
ượ
c m
ớ
i phong làm Khâm sai ti
ế
t ch
ế
các x
ứ
th
ủ
y b
ộ
ch
ủ
quân, thái úy An Qu
ố
c công, cho m
ở
ph
ủ đệ
riêng
để
pḥ
ng có ng
ườ
i n
ố
i ngôi. Vì không thi
ế
t
ǵ
đế
n chính s
ự
t
ừ
n
ă
m Bính Thìn (1736) Giang
đă
trao quy
ề
n nhi
ế
p chính cho Doanh.
Quan h
ệ
anh em Giang và Doanh
đề
u t
ố
t
đẹ
p, không có
ǵ
đ
áng phàn nàn. Có
đ
i
ề
u là ho
ạ
n quan Hoàng Công Ph
ụ
l
ạ
i ganh
ghét Doanh vì Doanh sáng su
ố
t, qu
ả
quy
ế
t, có tài v
ă
n võ và
c̣
n r
ấ
t tr
ẻ
mà
đă đượ
c giao quy
ề
n nhi
ế
p chính,
đượ
c
ḷ
ng các quan
trong ngoài. Công Ph
ụ đă
t́
m cách h
ạ
n ch
ế
quy
ề
n l
ự
c c
ủ
a Doanh. Ph
ụ
h
ạ
l
ệ
nh cho tri
ề
u quan mu
ố
n tâu bày vi
ệ
c
ǵ
v
ớ
i Doanh,
không
đượ
c dùng ch
ữ
"
b
ẩ
m" mà ph
ả
i dùng ch
ữ
"
thân" (trình). Ph
ụ
ch
ỉ
cho Doanh dùng m
ộ
t c
ă
n nhà nh
ỏ ở
phía Nam ph
ủ
chúa g
ọ
i là nhà "
để
".
Bi
ế
t Công Ph
ụ
mu
ố
n h
ạ
i mình, Doanh khôn khéo gi
ữ
kín
đ
áo và nín nh
ị
n. Tr
ị
nh Thái phi h
ọ
V
ũ
cho tri
ệ
u các tri
ề
u th
ầ
n
Nguy
ễ
n Quí C
ả
nh, Nguy
ễ
n Công Thái, Tr
ị
nh
Đạ
c, V
ũ
T
ấ
t Th
ậ
n, Nguy
ễ
n
Đ́
nh Hoàn h
ọ
p bàn tr
ừ
kh
ử
bè
đả
ng Hoàng Công
Ph
ụ
,
và
đư
a Tr
ị
nh Doanh lên ngôi chúa.
L
ợ
i d
ụ
ng lúc Hoàng Công Ph
ụ đ
em toàn quân b
ả
n b
ộ
ra d
ẹ
p cu
ộ
c kh
ở
i ngh
ĩ
a c
ủ
a Nguy
ễ
n Tuy
ể
n
ở
ngoài, Nguy
ễ
n Quí C
ả
nh
đ
em h
ươ
ng binh vào kinh b
ả
o v
ệ
ph
ủ
chúa và vào ch
ầ
u vua Lê, xin ra ch
ỉ đư
a Tr
ị
nh Doanh lên ngôi chúa. Sau
đ
ó, h
ươ
ng binh
c
ủ
a Quí C
ả
nh gi
ế
t h
ế
t bè
đả
ng c
ủ
a Hoàng Công Ph
ụ
.
Tr
ậ
t t
ự
tr
ở
l
ạ
i trong ph
ủ
chúa. Tr
ị
nh Doanh khi
đă
cóc th
ự
c quy
ề
n trong
tay li
ề
n ban hành nhi
ề
u quy
ế
t
đị
nh, h
ợ
p v
ớ
i
ḷ
ng ng
ườ
i,
đượ
c qu
ầ
n th
ầ
n và dân chúng
ủ
ng h
ộ.
Chính sách cai tr
ị
d
ướ
i th
ờ
i Tr
ị
nh
Doanh khá ch
ắ
c ch
ắ
n và hoàn ch
ỉ
nh. Nhi
ề
u s
ắ
c ch
ỉ
quy
đị
nh
đượ
c ban hành d
ướ
i th
ờ
i Tr
ị
nh C
ươ
ng (
đă
b
ị
Giang b
ỏ
)
nay
đượ
c dùng l
ạ
i. Doanh c
ũ
ng là m
ộ
t viên t
ướ
ng có tài c
ầ
m quân. Trong
ṿ
ng 10 n
ă
m c
ầ
m quy
ề
n, Tr
ị
nh Doanh l
ầ
n l
ượ
t
đă đ
ánh
tan và d
ẹ
p yên các cu
ộ
c kh
ỏ
i ngh
ĩ
a kh
ắ
p n
ơ
i.
Đấ
t n
ướ
c t
ạ
m l
ắ
ng n
ạ
n h
ỗ
n lo
ạ
n
ở
bên ngoài. Song vì ph
ả
i t
ă
ng c
ườ
ng quân ng
ũ
đễ
d
ẹ
p lo
ạ
n,
đặ
c bi
ệ
t là quân Thanh Ngh
ệ
mà sau này h
ậ
u qu
ả
tai h
ạ
i n
ả
y sinh là n
ạ
n kiêu binh. Chúa sau Tr
ị
nh Doanh
đă
ph
ả
i
h
ứ
ng ch
ị
u h
ậ
u qu
ả ấ
y. H
ơ
n n
ữ
a, do d
ẹ
p lo
ạ
n b
ằ
ng m
ọ
i giá, Tr
ị
nh Doanh m
ắ
c vào m
ộ
t sai l
ầ
m không th
ể
tha th
ứ
là
đố
t h
ế
t s
ổ
sách th
ư
t
ừ,
thu nh
ặ
t h
ế
t chuông khánh các chùa chi
ề
n
để đ
úc binh khí.
Tr
ị
nh Doanh c
ũ
ng ch
ă
m ch
ỉ
lo vi
ệ
c chính s
ự
:
cho
đặ
t
ố
ng
đồ
ng
ở
c
ử
a ph
ủ để
nh
ậ
n th
ư
t
ừ
dân chúng t
ố
cáo vi
ệ
c làm sai trái
c
ủ
a quan l
ạ
i;
đị
nh l
ệ
các quan t
ừ
tam ph
ẩ
m
đế
n nh
ấ
t ph
ẩ
m, m
ỗ
i ngày l
ầ
n l
ượ
t th
ứ
t
ự
hai ng
ườ
i vào ph
ủ
chúa
để
h
ỏ
i v
ề
chính
s
ự
và m
ư
u sách vi
ệ
c quân vi
ệ
c n
ướ
c.
N
ă
m
Ấ
t H
ợ
i (1755), vua Lê gia phong cho Tr
ị
nh Doanh là Th
ượ
ng s
ư
Th
ượ
ng phụ
anh
đ
oán v
ă
n tr
ị
võ công Minh v
ươ
ng.
Tháng 12 n
ă
m
Ấ
t H
ợ
i (1755), Tr
ị
nh Doanh mu
ố
n thiên
đ
ô sang Gia Lâm, bèn h
ạ
l
ệ
nh s
ử
a sang xây d
ự
ng cung mi
ế
u
ở
Cổ
Bi.
Tuy v
ậ
y v
ẫ
n ch
ư
a d
ọ
n sang vì Doanh v
ố
n say mê v
ớ
i chính s
ự.
M
ộ
t
đ
i
ề
u
đ
áng chú ý là m
ỗ
i khi tuy
ể
n ch
ọ
n vàc
ấ
t nh
ắ
c quan l
ạ
i,Tr
ị
nh Doanh r
ấ
t coi tr
ọ
ng th
ự
c tài. Chúa là ng
ườ
i
đầ
u tiên quy
đị
nh: b
ấ
t c
ứ
ai, tr
ướ
c khi b
ộ
L
ạ
i b
ổ d
ụ
ng c
ấ
t nh
ắ
c, ph
ả
i d
ẫ
n vào ph
ủ đườ
ng y
ế
t ki
ế
n
để
chúa tr
ự
c ti
ế
p h
ỏ
i v
ề
vi
ệ
c làm, ai có
kh
ả
n
ă
ng m
ớ
i trao cho ch
ứ
c quy
ề
n. Chúa th
ưở
ng ph
ạ
t r
ấ
t công minh. Nhi
ề
u danh s
ĩ
xu
ấ
t thân khoa b
ả
ng
đượ
c tr
ọ
ng d
ụ
ng,
tiêu bi
ể
u là Lê Quí
Đ
ôn, Ngô Thì S
ĩ
L
ị
ch s
ử
ghi nh
ậ
n nh
ữ
ng n
ă
m Tr
ị
nh Doanh c
ầ
m quy
ề
n
ở
B
ắ
c Hà là nh
ữ
ng n
ă
m
đấ
t n
ướ
c
ổ
n
đị
nh và th
ị
nh
đạ
t.
Tháng giêng n
ă
m
Đ
inh H
ợ
i (1767), Tr
ị
nh Doanh m
ấ
t, con là Tr
ị
nh Sâm n
ố
i ngôi. Hai m
ươ
i tu
ổ
i Tr
ị
nh Doanh lên n
ắ
m quy
ề
n,
m
ấ
t lúc 48 tu
ổ
i,
ở
ph
ủ
chúa 28 n
ă
m.
NGHỊ
T
Ổ ÂN V
ƯƠ
NG TR
ỊNH DOANH (1740-1767)
Ông là con tr
ưở
ng c
ủ
a Minh
Đ
ô v
ươ
ng Tr
ị
nh Doanh. N
ă
m
Ấ
t S
ử
u (1745), ông
đượ
c l
ậ
p làm Th
ế
t
ử.
Tr
ị
nh Doanh t
ỏ
ra c
ẩ
n
tr
ọ
ng vi
ệ
c nuôi d
ạ
y con, b
ổ d
ụ
ng 2 ti
ế
n s
ĩ
là D
ươ
ng Công Chú và Nguy
ễ
n Hoàn làm t
ư
gi
ả
ng cho Tr
ị
nh Sâm. Tháng 10 n
ă
m
M
ậ
u D
ầ
n (1758), Tr
ị
nh Doanh phong cho ông làm Ti
ế
t ch
ế
thu
ỷ
bộ
ch
ủ
quân, Thái uý T
ĩ
nh Qu
ố
c Công m
ở
ph
ủ
L
ượ
ng Qu
ố
c
và h
ế
t th
ả
y công vi
ệ
c tri
ề
u chính
đượ
c giao cho Sâm làm.
Mùa xuân n
ă
m
Đ
inh H
ợ
i (1767), Tr
ị
nh Doanh m
ấ
t, Tr
ị
nh Sâm lên n
ố
i ngôi, ti
ế
n phong là Nguyên soái T
ổ
ng qu
ố
c chính T
ĩ
nh
Đ
ô v
ươ
ng.
Tr
ị
nh Sâm là ng
ườ
i c
ứ
ng r
ắ
n, thông minh, quy
ế
t
đ
oán.
T
ừ
nh
ỏ,
ông
đ
ã h
ọ
c
đượ
c
đế
n n
ơ
i
đế
n ch
ố
n: có
đủ
tài v
ă
n võ,
đ
ã xem
kh
ắ
p kinh s
ử
và bi
ế
t làm th
ơ
.
Lên ngôi chúa, t
ừ k
ỷ
c
ươ
ng tri
ề
u n
ộ
i
đế
n chính s
ự
c
ả
n
ướ
c, Tr
ị
nh Sâm cho s
ử
a
đổ
i l
ạ
i vì cho
r
ằ
ng phép t
ắ
t tri
ề
u tr
ướ
c là nh
ỏ
h
ẹ
p, nay Sâm mu
ố
n làm to r
ộ
ng h
ơ
n, nên nhi
ề
u ph
ầ
n t
ự
quy
ế
t
đ
oán, không theo l
ệ
c
ũ
.
T
ạ
i tri
ề
u, ngay n
ă
m
đầ
u lên ngôi, em ông là Tr
ị
nh L
ệ
m
ư
u gi
ế
t ông
để
thoán
đo
ạ
t.
L
ệ
c
ũ
ng là ng
ườ
i sáng su
ố
t có c
ơ
m
ư
u và trí
d
ũ
ng.
G
ặ
p lúc cha ch
ế
t, L
ệ
m
ậ
t h
ẹ
n v
ớ
i D
ươ
ng Tr
ọ
ng Khiêm và Nguy
ễ
n Huy Bá làm gia khách
đị
nh ngày gi
ế
t Tr
ị
nh Sâm.
Vi
ệ
c b
ị
l
ộ,
Ph
ạ
m Huy C
ơ
và
đồ
ng
đả
ng b
ị
gi
ế
t, Tr
ị
nh L
ệ
b
ị
t
ố
ng giam.
Ngay sau khi lên ngôi chúa, Tr
ị
nh Sâm
đ
ã tìm c
ớ
sát h
ạ
i thái t
ử
Lê Duy V
ĩ
-
con vua Lê Hi
ể
n Tông
-
là ng
ườ
i có ý khôi ph
ụ
c
quy
ề
n bính cho h
ọ
Lê. N
ă
m K
ỷ
Sử
u (1769), vì ghen ghét tài n
ă
ng
đứ
c
độ
c
ủ
a Duy V
ĩ
,
Tr
ị
nh Sâm
đ
ã vu t
ộ
i cho thái t
ử,
sai
ng
ườ
i b
ắ
t gi
ữ,
tru
ấ
t ngôi và t
ố
ng giam. Duy
V
ĩ
ch
ế
t trong ng
ụ
c.
N
ă
m 1769, ông sai
Đ
oàn Nguy
ễ
n Ph
ụ
c
đ
ánh b
ạ
i quân kh
ở
i ngh
ĩ
a nông dân
Đ
àng Ngoài c
ủ
a con Hoàng Công Ch
ấ
t (m
ớ
i
m
ấ
t) là Hoàng Công To
ả
n t
ạ
i vùng núi phía Tây B
ắ
c. N
ă
m sau, (1770), ông l
ạ
i d
ẹ
p
đượ
c cánh quân kh
ở
i ngh
ĩ
a cát c
ứ
vùng
Tr
ấ
n Ninh su
ố
t 30 n
ă
m c
ủ
a hoàng thân Lê Duy M
ậ
t, bu
ộ
c Duy M
ậ
t t
ự
t
ử.
T
ừ đ
ó Tr
ị
nh Sâm kiêu mãn, cho mình có công l
ớ
n,
bố
n cõi yên
ổ
n h
ơ
n m
ọ
i
đờ
i chúa tr
ướ
c, nên t
ự
tiên phong là
Đạ
i nguyên soái t
ổ
ng qu
ố
c chính, th
ượ
ng s
ư
Th
ượ
ng ph
ụ
,
Du
ệ
đ
oán v
ă
n công cõ
đứ
c T
ĩ
nh v
ươ
ng.
N
ă
m Giáp Ng
ọ
(
1774), nhân
Đ
àng Trong có bi
ế
n do Tây S
ơ
n n
ổ
i d
ậ
y, ông sai Hoàng Ng
ũ
Phúc làm th
ố
ng t
ướ
ng
đ
em quân
vào Nam
đ
ánh chúa Nguy
ễ
n.
Để
t
ă
ng thêm thanh th
ế
cho binh s
ĩ
Nam chinh, tháng 10 n
ă
m
đ
ó, ông
đ
ích thân c
ầ
m quân kéo
Ngh
ệ
An. Quân Tr
ị
nh chi
ế
m
đượ
c Thu
ậ
n Hoá và
đặ
t quan cai tr
ị đấ
t Thu
ậ
n Qu
ả
ng.
Trong s
ố
nh
ữ
ng ng
ườ
i tham gia tr
ấ
n tr
ị
có
Lê Quý
Đ
ôn, tác gi
ả
sách "Ph
ủ
biên t
ạ
p l
ụ
c" và
Đạ
i Vi
ệ
t thông s
ử.
Sau khi chi
ế
m
đượ
c Thu
ậ
n Hoá, Tr
ị
nh Sâm có ph
ầ
n th
ỏ
a mãn v
ớ
i công tr
ạ
ng
đạ
t
đượ
c. Vi
ệ
c b
ố
phòng
ở
ph
ươ
ng nam không
đượ
c chú tr
ọ
ng. Trong cung, ông s
ủ
ng ái Tuyên phi
Đặ
ng Th
ị
Hu
ệ
,
yêu con th
ứ
c
ủ
a Tuyên phi là Tr
ị
nh Cán. Nhân v
ụ
án n
ă
m
Canh Tý (1780)
-
con tr
ưở
ng là Tr
ị
nh Tông
đị
nh chiêu binh làm lo
ạ
n, ông tru
ấ
t ngôi th
ế
t
ử
c
ủ
a Tr
ị
nh Tông và l
ậ
p Cán lúc
đó
m
ớ
i 3 tu
ổ
i làm th
ế
t
ử.
Tháng 9 n
ă
m Nhâm D
ầ
n (1782), Tr
ị
nh Sâm m
ấ
t,
ủ
y quy
ề
n cho Huy qu
ậ
n công Hoàng
Đ
ình B
ả
o giúp Tr
ị
nh Cán lên ngôi.
Tr
ị
nh Sâm
ở
ngôi chúa 16 n
ă
m, th
ọ
44 tu
ổ
i,
đượ
c tôn là T
ĩ
nh
Đ
ô v
ươ
ng.
Tr
ị
nh Cán lên ngôi, t
ứ
c là
Đ
i
ệ
n
Đ
ô v
ươ
ng. Không lâu sau, phe cánh Tr
ị
nh Tông n
ổ
i d
ậ
y gi
ế
t qu
ậ
n Huy và tru
ấ
t Cán, l
ậ
p Tr
ị
nh
Tông lên ngôi, t
ứ
c là
Đ
oan Nam v
ươ
ng.
THÁNH T
Ổ
TH
Ế
TÔNG
TR
ỊNH
SÂM
(1
767
-
1782
)
Đặ
ng Th
ị
Hu
ệ
quê
ở
làng Phù
Đổ
ng, huy
ệ
n
Đ
ông Anh, B
ắ
c Ninh (nay là Hà N
ộ
i) là m
ộ
t n
ữ
t
ỳ
ph
ụ
c v
ụ
trong ph
ủ
chúa. Tr
ị
nh
Sâm sau khi
đ
ã d
ẹ
p yên các cu
ộ
c kh
ở
i ngh
ĩ
a l
ớ
n, b
ố
n ph
ươ
ng yên
ổ
n, kho
đụ
n
đầ
y
đủ
, d
ầ
n d
ầ
n sinh b
ụ
ng kiêu c
ă
ng, xa x
ỉ
,
phi th
ầ
n th
ị
n
ữ
kén vào r
ấ
t nhi
ề
u, m
ặ
c ý vui ch
ơ
i tho
ả
thích.
M
ộ
t hôm, ti
ệ
p dư
Tr
ầ
n Th
ị
Vinh sai n
ữ
t
ỳ Đặ
ng Th
ị
Hu
ệ
bư
ng m
ộ
t khay hoa
đế
n tr
ướ
c m
ặ
t chúa. Th
ị
Hu
ệ
,
m
ắ
t ph
ượ
ng mày
ngài, v
ẻ
ng
ườ
i r
ấ
t xinh
đẹ
p và h
ấ
p d
ẫ
n. Chúa Tr
ị
nh trông th
ấ
y
đ
em lòng yêu m
ế
n
đặ
c bi
ệ
t. Th
ị
Hu
ệ
ngày càng
đượ
c yêu:
Ả
nói gì chúa c
ũ
ng nghe và có vi
ệ
c gì chúa c
ũ
ng nói v
ớ
i Th
ị
Hu
ệ
.
T
ừ đ
ó Th
ị
Hu
ệ đượ
c s
ố
ng cùng m
ộ
t n
ơ
i v
ớ
i chúa, y nh
ư
v
ợ
ch
ồ
ng nhà th
ườ
ng dân. Xe ki
ệ
u qu
ầ
n áo c
ủ
a Th
ị
Hu
ệ đề
u
đượ
c s
ắ
m s
ử
a nh
ư đồ
dùng c
ủ
a chúa.
Th
ị
Hu
ệ
ngày càng l
ộ
ng hành. H
ễ
có chuy
ệ
n không v
ừ
a ý xây x
ẩ
m m
ặ
t mày, kêu khóc th
ả
m thi
ế
t khi
ế
n chúa r
ố
i lòng. Tr
ị
nh
Sâm có ng
ọ
c d
ạ
quang, chi
ế
n l
ợ
n ph
ẩ
m c
ủ
a m
ộ
t tr
ậ
n
đ
ánh ph
ươ
ng Nam, v
ẫ
n treo
ở đầ
u kh
ă
n làm
đồ
trang s
ứ
c. M
ộ
t hôm Th
ị
Hu
ệ
l
ấ
y tay mân mê viên ng
ọ
c. Chúa nói:
-
Nhè nh
ẹ
tay k
ẻ
o sây sát!
Th
ị
Hu
ệ
li
ề
n ném viên ng
ọ
c xu
ố
ng
đấ
t, tru tréo khóc la:
-
Ng
ọ
c này ch
ả
là cái gì s
ấ
t! Ch
ẳ
ng qua vào Qu
ả
ng Nam ki
ế
m tr
ả
chúa h
ạ
t khác là cùng. Sao chúa n
ỡ
tr
ọ
ng c
ủ
a khinh ng
ườ
i
làm v
ậ
y?
Đ
o
ạ
n Th
ị
Hu
ệ
bỏ
ra
ở
cung khác, t
ừ
ch
ố
i không g
ặ
p n
ữ
a, Tr
ị
nh Sâm ph
ả
i d
ỗ
dành mãi, Hu
ệ
m
ớ
i ch
ị
u làm lành v
ớ
i chúa.
Để
chi
ề
u lòng ng
ườ
i
đẹ
p, m
ỗ
i n
ă
m c
ứ đế
n t
ế
t trung thu, t
ừ
tr
ướ
c m
ấ
y tháng, chúa cho l
ấ
y g
ấ
m trong cung phát ra, làm hàng
tr
ă
m hàng nghìn
đ
èn l
ồ
ng, cái nào c
ũ
ng tinh x
ả
o tuy
ệ
t v
ờ
i, m
ỗ
i cái giá
đế
n m
ấ
y ch
ụ
c l
ạ
ng vàng. B
ắ
c cung có h
ồ
Long Trì, r
ộ
ng
n
ử
a d
ặ
m, ngát h
ươ
ng súng. Ven b
ờ
h
ồ
san sát hàng m
ấ
y tr
ă
m cây phù dung
để
treo
đ
èn. Sóng, tr
ă
ng d
ậ
p d
ờ
n, trông xa t
ự
a
nh
ư
hàng v
ạ
n ngôi sao sáng.
Nộ
i th
ị
t
ừ
tam ph
ẩ
m tr
ở
lên, chít kh
ă
n m
ặ
c áo
đ
àn bà, bày hàng
ở
mép
đườ
ng bán t
ạ
p hoá cùng hoa qu
ả
,
ch
ả
,
nem, r
ượ
u
ch
ẳ
ng thi
ế
u th
ứ
c gì, ch
ồ
ng ch
ấ
t nh
ư
núi. Cung nhân qua l
ạ
i mua bán, v
ừ
a mua v
ừ
a c
ướ
p, nào c
ầ
n h
ỏ
i giá,
đ
ua nhau hát gh
ẹ
o,
ti
ế
ng c
ườ
i vang d
ậ
y trong ngoài.
Nử
a
đ
êm, chúa ng
ự
ki
ệ
u
đế
n h
ồ,
xu
ố
ng thuy
ề
n. Quan h
ầ
u và các phi t
ầ
n gõ ván hò reo,
đ
i l
ạ
i r
ộ
n r
ị
p và lênh
đ
ênh trên sóng
n
ướ
c. Lúc
đ
àn khi sáo, ca hát r
ộ
n ràng khi
ế
n ng
ườ
i ta t
ưở
ng nh
ư
ch
ơ
i
ở
cung tr
ă
ng nghe nh
ạ
c thiên
đ
ình. Chúa h
ả
hê, mãi gà
gáy m
ớ
i v
ề
.
Khi Hu
ệ
có thai, chúa sai ng
ườ
i l
ễ
bái kh
ắ
p các chùa, mong sinh con thánh. N
ă
m
Đ
inh D
ậ
u (1777) Hu
ệ
sinh con trai, chúa
yêu d
ấ
u khác th
ườ
ng l
ấ
y tên c
ủ
a chúa thu
ở
nh
ỏ đặ
t cho con là Cán, t
ỏ
ra nó gi
ố
ng mình. Cán
đượ
c m
ộ
t tu
ổ
i
đ
ã có t
ướ
ng m
ạ
o
r
ấ
t khôi ngô
đố
i
đ
áp gãy g
ọ
n. Bi
ế
t chúa c
ư
ng chi
ề
u Cán, th
ị
Hu
ệ
âm m
ư
u c
ướ
p ngôi Th
ế
t
ử
cho Cán.
Nguyên tr
ướ
c
đ
ó, m
ộ
t quý phi tên là Ng
ọ
c Hoan
đ
ã sinh con trai
đặ
t tên là Tông. Sâm không yêu Ng
ọ
c Hoan nên không
mu
ố
n l
ậ
p làm Th
ế
t
ử,
m
ặ
c dù Tr
ị
nh Tông
đ
ã 15 tu
ổ
i. Tông r
ấ
t khôi ngô nh
ư
ng chúa ch
ẳ
ng chú ý ch
ă
m lo d
ạ
y b
ả
o. Vi
ệ
c h
ọ
c
t
ậ
p c
ủ
a Tông
đề
u giao phó cho các quan.
Đế
n tu
ổ
i, Tông
đượ
c ra
ở
riêng, chúa c
ũ
ng l
ờ
luôn. Ngôi Th
ế
t
ử
ch
ư
a
đị
nh nên lòng
ng
ườ
i ly tán, chia hai phe: phe Tr
ị
nh Tông, phe Tr
ị
nh Cán.
Đặ
ng Th
ị
Hu
ệ
tìm
đượ
c ng
ườ
i có th
ế
l
ự
c trong ph
ủ
chúa là Huy
qu
ậ
n công Hoàng
Đ
ình B
ả
o. Hai ng
ườ
i này câu k
ế
t v
ớ
i nhau
để
m
ư
u l
ậ
p Tr
ị
nh Cán lên ngôi chúa.
Th
ế
t
ử
Tông th
ấ
y Chúa l
ạ
nh nh
ạ
t v
ớ
i mình nh
ư
v
ậ
y, l
ạ
i bi
ế
t
đượ
c âm m
ư
u c
ủ
a
Đặ
ng Th
ị
Hu
ệ
và Qu
ậ
n Huy, b
ắ
t giam hai m
ẹ
con Th
ị
Hu
ệ để
giành ngôi chúa v
ề
mình. Không ng
ờ
Tr
ị
nh Sâm l
ạ
i kh
ỏ
i b
ệ
nh, vi
ệ
c b
ị
l
ộ.
Th
ế
t
ử
Tông ch
ị
u t
ộ
i giam bi
ế
m tru
ấ
t
làm con th
ứ.
T
ừ đ
ó phe cánh c
ủ
a Th
ị
Hu
ệ
ngày càng m
ạ
nh. Tri
ề
u quan ph
ầ
n l
ớ
n hùa theo
Đặ
ng Th
ị
Hu
ệ
.
Hu
ệ
có em trai là
Đặ
ng M
ậ
u Lân. Lân nh
ờ
th
ế
ch
ị
mà
đượ
c t
ướ
c l
ộ
c,
ỷ
th
ế
ch
ị
,
làm càn. Qu
ầ
n áo, xe ki
ệ
u c
ủ
a Lân
đề
u r
ậ
p
theo vua chúa. Hàng ngày Lân th
ườ
ng
đ
em vài ch
ụ
c tay chân c
ầ
m g
ươ
m vác giáo nghênh ngang kh
ắ
p kinh
ấ
p c
ướ
p bóc,
c
ưỡ
ng hi
ế
p ph
ụ
n
ữ
gi
ữ
a ph
ố
ph
ườ
ng. Chúa bi
ế
t mà làm ng
ơ
.
Th
ị
Hu
ệ
còn h
ỏ
i con gái yêu c
ủ
a chúa cho em trai mình. Chúa
không b
ằ
ng lòng, nh
ư
ng vì n
ể
Th
ị
Hu
ệ
mà ph
ả
i nghe theo. Th
ế
r
ồ
i, cu
ộ
c hôn nhân
đ
ã
đượ
c ti
ế
n hành nh
ư
ng
Đặ
ng M
ậ
u Lân
không
đượ
c phép s
ố
ng chung v
ớ
i công chúa.
Để
chi
ế
m
đo
ạ
t công chúa. Th
ế
mà nh
ờ
Hu
ệ
can thi
ệ
p, Lân không b
ị
gi
ế
t, ch
ỉ
ph
ả
i
đ
ày
đ
i xa.
Th
ị
Hu
ệ
h
ố
i thúc Tr
ị
nh Sâm l
ậ
p Cán lên ngôi Th
ế
t
ử.
B
ề
tôi Tr
ị
nh Sâm c
ũ
ng a dua hùn vào. Sâm
đ
ã
đị
nh l
ậ
p Cán, nh
ư
ng m
ẹ
TUYÊN PHI
ĐẶ
NG TH
Ị HU
Ệ
VÀ ĐI
Ệ
N ĐÔ V
ƯƠ
NG TR
ỊNH CÁN
Sâm là Tr
ị
nh thái phi Nguy
ễ
n Th
ị
can ng
ă
n nên Sâm ch
ư
a quy
ế
t. Sâm nói:
-
Thà l
ậ
p Cán ho
ặ
c trao ngôi chúa cho Tr
ị
nh B
ồ
ng (con Tr
ị
nh Giang
-
con ông bác) còn h
ơ
n l
ậ
p Tr
ị
nh Tông "
đứ
a con b
ấ
t
hi
ế
u".
Sau
đ
ó, do thúc gi
ụ
c c
ủ
a Hu
ệ
,
Tr
ị
nh Sâm l
ậ
p Cán làm Th
ế
t
ử,
dù Cán m
ớ
i lên n
ă
m. Sâm dùng Qu
ậ
n Huy làm th
ầ
y d
ạ
y Cán.
Sâm b
ị
b
ệ
nh tr
ĩ
,
luôn
ở
trong cung không bao gi
ờ đ
i ra ngoài.
Đặ
ng Th
ị đị
nh ý x
ế
p
đặ
t công vi
ệ
c, gài tay chân gi
ữ
nh
ữ
ng
c
ươ
ng v
ị
then ch
ố
t trong ph
ủ
chúa. Cán là Th
ế
t
ử
còn nh
ỏ, bọ
n h
ọ
càng l
ộ
ng quy
ề
n.
Trong dân chúng lan truy
ề
n:
Tr
ăm quan có mắt như mờ
Để
cho Huy qu
ận vào sờ
chính cung.
N
ă
m Tân S
ử
u (1781), b
ệ
nh tình c
ủ
a Sâm n
ặ
ng thêm và qua
đờ
i. Tuyên phi
Đặ
ng Th
ị
Hu
ệ
thông
đồ
ng v
ớ
i Qu
ậ
n Huy l
ậ
p Cán
lên ngôi chúa. Tuyên phi
Đặ
ng Th
ị
Hu
ệ
nghi
ễ
m nhiên tr
ở
thành ng
ườ
i
đ
i
ề
u khi
ể
n tri
ề
u chính giúp con. Lòng ng
ườ
i lo s
ợ
,
t
ừ
ph
ủ
chúa ra kinh thành, thôn dã, ai c
ũ
ng bi
ế
t ch
ắ
c ho
ạ
lo
ạ
n s
ẽ
x
ả
y ra.
Tháng 10 n
ă
m Tân S
ử
u (1781), binh lính Tam ph
ủ
n
ổ
i lo
ạ
n, tru
ấ
t ngôi Cán, giáng xu
ố
ng Cung qu
ố
c công,
đậ
p phá nhà c
ử
a,
gi
ế
t
Đ
ình B
ả
o cùng thân thu
ộ
c phe cánh. H
ọ đ
ón Tr
ị
nh Tông lên ngôi v
ươ
ng, phong là Nguyên soái
Đ
oan Nam v
ươ
ng. T
ừ
đ
ó, kiêu binh ngày càng càn r
ỡ
,
không ai tr
ị
n
ổ
i. Phe cánh
Đặ
ng Th
ị
Hu
ệ
b
ị
truy lùng và tr
ả
thù. Hu
ệ
b
ị
tru
ấ
t xu
ố
ng th
ứ d
ân,
sau u
ố
ng thu
ố
c
độ
c ch
ế
t. Tr
ị
nh Cán b
ị
giáng, ra
ở
ph
ủ
L
ượ
ng Qu
ố
c,
ố
m b
ệ
nh ch
ế
t,
ở
ngôi
đượ
c m
ộ
t tháng.
Tr
ị
nh Tông
cò
n có tên n
ữ
a là Tr
ị
nh Kh
ả
i, là con trai
đầ
u cu
ả
Tr
ị
nh Sâm và cung t
ầ
n D
ươ
ng Th
ị
Ng
ọ
c Hoan, ng
ườ
i làng Long
Phúc, huy
ệ
n Th
ạ
ch Hà. Ch
ị
c
ủ
a Ng
ọ
c Hoan v
ố
n là cung t
ầ
n c
ủ
a Tr
ị
nh Doanh,
đượ
c Tr
ị
nh Doanh r
ấ
t yêu quí. Nh
ờ
ch
ị
mà
Ng
ọ
c Hoan
đượ
c kén vào làm cung t
ầ
n c
ủ
a Tr
ị
nh Sâm (con trai Doanh). T
ừ
ngày vào cung, nàng v
ẫ
n ngày
đ
êm s
ố
ng cô
qu
ạ
nh, không
đượ
c chúa
đ
oái th
ươ
ng nh
ư
các cung t
ầ
n khác. B
ỗ
ng m
ộ
t
đ
êm, nàng n
ắ
m
ứ
ng m
ộ
ng th
ấ
t có th
ầ
n cho t
ấ
m
đo
ạ
n
có v
ẽ đầ
u r
ồ
ng. Nàng
đ
em chuy
ệ
n k
ể
l
ạ
i v
ớ
i quan h
ầ
u Khê Trung H
ầ
u. Viên ho
ạ
n quan bàn v
ớ
i nàng
đ
ó là
đ
i
ề
m sinh con
thánh! Th
ế
r
ồ
i ho
ạ
n quan b
ố
trí
đ
ánh tráo nàng Ng
ọ
c Khoan yêu quí c
ủ
a chúa thành nàng Ng
ọ
c Hoan,
để
th
ự
c hi
ệ
n gi
ấ
c m
ơ
sinh con thánh. Chúa bi
ế
t nh
ư
ng không n
ỡ đ
u
ổ
i nàng ra. Tr
ậ
n m
ư
a móc c
ủ
a chúa
đă để
l
ạ
i cho nàng Ng
ọ
c Hoan ni
ề
m h
ạ
nh
phúc vô b
ờ
:
m
ộ
t c
ậ
u con trai khôi ngô tu
ấ
n tú ra
đờ
i.
Vì
có con
đầ
u v
ớ
i chúa nên t
ừ
cung t
ầ
n nàng
đượ
c phong Quí phi. Song
Tr
ị
nh Sâm không yêu Ng
ọ
c Hoan nên c
ũ
ng l
ạ
nh nh
ạ
t v
ớ
i Tr
ị
nh Tông. Chúa cho r
ằ
ng gi
ấ
c m
ơ
r
ồ
ng là
đ
i
ề
m làm vua là r
ồ
ng v
ẽ
không ph
ả
i r
ồ
ng th
ậ
t, r
ồ
ng v
ẽ
ch
ỉ
có
đầ
u không
đ
uôi, nghi
ệ
p
đế
s
ẽ
không b
ề
n. H
ơ
n n
ữ
a, Tr
ị
nh Sâm v
ố
n ác c
ả
m v
ớ
i ng
ườ
i
làng Long Phúc th
ườ
ng gây lo
ạ
n nh
ư
Tr
ị
nh C
ố
i, Tr
ị
nh L
ệ đă
thành ti
ề
n l
ệ
Sâm m
ấ
t, Hu
ệ
và Qu
ậ
n Huy l
ậ
p Cán lên ngôi chúa thì m
ộ
t b
ề
tôi c
ủ
a Tr
ị
nh Tông là D
ự
V
ũ
dự
a vào kiêu binh n
ổ
i d
ậ
y l
ậ
p
Tông lên ngôi chúa. N
ạ
n kiêu binh hoành hành kh
ắ
p kinh k
ỳ
,
dân chúng ngày
đ
êm n
ơ
m n
ớ
p lo s
ợ
.
Tháng 6 n
ă
m Bính Ng
ọ
(
1786),
đ
ang lúc ph
ủ
chúa r
ố
i ren là th
ế
thì ngh
ĩ
a quân Tây S
ơ
n c
ủ
a Nguy
ễ
n Hu
ệ
v
ớ
i danh ngh
ĩ
a "di
ệ
t
Tr
ị
nh phò Lê" kéo ra B
ắ
c Hà.
Ch
ố
ng c
ự
l
ạ
i r
ấ
t y
ế
u
ớ
t, quân Tr
ị
nh tan r
ă
, bỏ
ch
ạ
y. T
ướ
ng Hoàng Phùng C
ơ
,
Nguy
ễ
n L
ệ
rút ch
ạ
y lên phí B
ắ
c. Tr
ị
nh Tông
m
ặ
c nhung ph
ụ
c, ng
ồ
i voi, c
ầ
m c
ờ
l
ệ
nh ch
ỉ
huy, quân s
ĩ
nh́
n nhau không ai nghe theo. Chúa Tr
ị
nh ph
ả
i m
ộ
t mình b
ỏ
ch
ạ
y lên
Tây S
ơ
n. Chúa g
ắ
p
đượ
c L
ư
Tr
ầ
n Quán
ở
x
ă
H
ạ
Lôi, nh
ờ
Quán giúp
đỡ
.
Tr
ầ
n Quán nh
ờ
ng
ườ
i h
ọ
c trò là Nguy
ễ
n Trang nói
dố
i là giúp tham t
ụ
ng Bùi Huy Bích lánh n
ạ
n". Nguy
ễ
n Trang bi
ế
t
đ
ích là chúa Tr
ị
nh mà Tây S
ơ
n
đ
ang truy lùng, li
ề
n cùng tay
chân b
ắ
t Tr
ị
nh Tông n
ộ
p ngay cho quân Tây S
ơ
n. Tr
ầ
n Quán bi
ế
t tin ch
ạ
y
đế
n trách m
ắ
ng h
ọ
c trò. Trang th
ả
n nhiên nói:
-
"
S
ợ
th
ầ
y không b
ằ
ng s
ợ
gi
ặ
c, qu
ư
chúa không b
ằ
ng qu
ư
thân mình", xong gi
ả
i Tông
đ
i.
Trên
đườ
ng gi
ả
i
đế
n quân Tây S
ơ
n, Tr
ị
nh Tông dùng dao t
ự
t
ử.
Trang
đ
em xác Tông n
ộ
p cho Tây S
ơ
n. Nguy
ễ
n Hu
ệ
sai
ng
ườ
i khâm li
ệ
m t
ố
ng táng Tr
ị
nh Tông chu
đ
áo r
ồ
i b
ổ d
ụ
ng Nguy
ễ
n Trang làm tr
ấ
n th
ủ
S
ơ
n Tây, t
ướ
c Tráng li
ệ
t h
ầ
u. Tr
ầ
n
Quán lui v
ề
nhà tr
ọ, b
ả
o h
ọ
c trò: "Ta là b
ầ
y tôi mà làm l
ầ
m l
ỡ
chúa, t
ộ
i ch
ỉ
có ch
ế
t m
ớ
i gi
ả
i t
ỏ đượ
c v
ớ
i chúa".
Xong, sai ng
ườ
i
đ
ào huy
ệ
t, m
ặ
c
đủ
m
ũ
áo, t
ự
n
ằ
m vào quan tài, nh
ờ
ng
ườ
i chôn c
ấ
t. Tr
ị
nh Tông làm chúa ch
ư
a
đượ
c 4 n
ă
m
thì b
ị
ch
ế
t, th
ọ
24 tu
ổ
i.
ĐOAN NAM V
ƯƠ
NG TR
Ị
NH TÔNG
(1782-1786)
ÁN ĐÔ V
ƯƠ
NG TR
ỊNH BỒNG
(9/1786-9/1787)
Tr
ị
nh B
ồ
ng là con Tr
ị
nh Giang, bác h
ọ
c
ủ
a Tr
ị
nh Tông. Lúc
đầ
u B
ồ
ng
đượ
c phong làm Côn lu
ậ
n công. Tr
ị
nh Tông thua,
Tr
ị
nh B
ồ
ng lánh n
ạ
n
ở
huy
ệ
n V
ă
n Giang (H
ả
i H
ư
ng) chiêu t
ậ
p binh m
ă đợ
i th
ờ
i c
ơ
.
Khi Nguy
ễ
n Hu
ệ
cùng anh là Thái
Đứ
c
Nguy
ễ
n Nh
ạ
c rút v
ề
Nam, Tr
ị
nh L
ệ
li
ề
n
đ
em quân qua
đ̣
Thanh Trì kéo v
ề
chi
ế
m l
ạ
i ph
ủ
chúa.
Đ
ang
đ
em, Tr
ị
nh L
ệ
cho n
ổ
i
tr
ố
ng tri
ệ
u t
ậ
p tri
ề
u quan
đế
n bàn vi
ệ
c l
ậ
p L
ệ
lên ngôi chúa. Vi
ệ
c h
ấ
p t
ấ
p, v
ộ
i vàng
đẫ
không thành. Vua Lê, sau khi g
ắ
n bó
v
ớ
i Tây S
ơ
n không mu
ố
n chia quy
ề
n cho h
ọ
Tr
ị
nh nh
ư
tr
ướ
c n
ữ
a. Quan h
ệ
gi
ữ
a vua Lê và Tr
ị
nh L
ệ
r
ấ
t c
ă
ng th
ẳ
ng, Tr
ị
nh L
ệ
đị
nh m
ư
u thoán ngh
ị
ch.
Gi
ữ
a lúc
ấ
y, m
ộ
t s
ố
ng
ườ
i thân c
ậ
n xui Tr
ị
nh B
ồ
ng vi
ế
t bi
ể
u xin v
ề
ch
ầ
u vua. Tr
ị
nh B
ồ
ng b
ấ
y gi
ỡ đă
40 tu
ổ
i, tính n
ế
t hi
ề
n t
ừ,
khoan h
ậ
u,
đượ
c nhi
ề
u ng
ườ
i m
ế
n m
ộ.
Cu
ố
i
đờ
i Tr
ị
nh Sâm, vì vi
ệ
c con tr
ưở
ng con th
ứ
khó quy
ế
t, có lúc Sâm
đị
nh l
ậ
p Tr
ị
nh
B
ồ
ng
để
tr
ả
l
ạ
i ngôi chúa cho anh con nhà bác. VÌ th
ế
Sâm cho Th
ị
Hu
ệ
nuôi Tr
ị
nh B
ồ
ng
để
pḥ
ng thay Cán n
ế
u Cán m
ệ
nh
m
ệ
t. Tr
ị
nh Tông lên ngôi, kiêu binh m
ấ
y l
ầ
n mu
ố
n
pḥ
Côn qu
ậ
n công Tr
ị
nh B
ồ
ng,
đă
vào t
ậ
n nhà
để
thúc ép và
đ
ón r
ướ
c,
B
ồ
ng
đă
m
ộ
t m
ự
c t
ừ
ch
ố
i. Lúc quân Tây S
ơ
n kéo ra, B
ồ
ng ch
ỉ đ
em theo m
ộ
t
đứ
a
ở
,
m
ộ
t tên lính, lánh vào huy
ệ
n Ch
ươ
ng
Đứ
c, có
đị
nh chuy
ệ
n
đ
i tu. Bi
ế
t Tr
ị
nh L
ệ
làm nhi
ề
u
đ
i
ề
u ngang ng
ượ
c, trái phép, m
ộ
t s
ố
quan
t́
m g
ặ
p, khuyên Tr
ị
nh B
ồ
ng v
ề
tri
ề
u giúp vua. Th
ấ
y Tr
ị
nh B
ồ
ng vào tri
ề
u, tri
ề
u th
ầ
n thep giúp, thanh th
ế
Tr
ị
nh B
ồ
ng ngày càng l
ớ
n. B
ồ
ng ch
ư
a có ý l
ấ
n
quy
ề
n vua Lê, nh
ư
ng do b
ộ
h
ạ
thúc gi
ụ
c nên
đă
nghe theo. B
ồ
ng
đế
n ch
ầ
u, vua mu
ố
n
để
B
ồ
ng tr
ở
v
ề
nhà c
ũ
,
phong làm Ti
ế
t
ch
ế
thu
ỷ
bộ
ch
ủ
quân,
B́
nh ch
ươ
ng quân qu
ố
c tr
ọ
ng s
ự,
Thái u
ư
côn qu
ậ
n công, c
ấ
p 3000 tên lính, 5000 m
ẫ
u ru
ộ
ng và
2000 x
ă
dân l
ộ
c
để
ph
ụ
ng th
ờ
h
ọ
Tr
ị
nh. B
ọ
n
Đ
inh Tích Nh
ưỡ
ng l
ạ
i mu
ố
n Tr
ị
nh B
ồ
ng làm v
ươ
ng t
ạ
i ph
ủ
chúa
đờ
i chúa tr
ướ
c
kia nên
đă
nhi
ề
u l
ầ
n gan
ĺ
sang xin vua phong v
ươ
ng cho Tr
ị
nh B
ồ
ng. Ng
ượ
c l
ạ
i vua Lê kiên quy
ế
t t
ừ
ch
ố
i. Cu
ố
i cùng do s
ứ
c
ép c
ủ
a
Đ
inh Tích Nh
ưỡ
ng
- k
ẻ
n
ắ
m binh quy
ề
n, b
ấ
t
đắ
c d
ĩ
,
vua ph
ả
i y theo, phong B
ồ
ng làm Nguyên soái, t
ổ
ng qu
ố
c chính,
Y
ế
n
Đ
ô v
ươ
ng.
Tr
ị
nh B
ồ
ng nhu nh
ượ
c, l
ườ
i bi
ế
ng, không
đ
i
ề
u khi
ể
n
đượ
c công vi
ệ
c, do
đ
ó chính s
ự
l
ọ
t vào tay
Đ
inh Tích Nh
ưỡ
ng. Chúng
khuyên B
ồ
ng l
ậ
p l
ạ
i
đủ
l
ệ
b
ộ ở
ph
ủ
chúa nh
ư
x
ư
a, ph
ủ
chúa thành m
ộ
t tri
ề
u
đ́
nh riêng. T
ừ đ
ó, vua và chúa l
ạ
i càng mâu
thu
ẫ
n. Vua Lê
đị
nh c
ầ
u vi
ệ
n quân ngoài tr
ấ
n vào kinh d
ẹ
p Tr
ị
nh, Tr
ị
nh B
ồ
ng bi
ế
t, do
ạ
gi
ế
t, l
ậ
p vua khác.
T́
nh th
ế
h
ế
t s
ứ
c
nguy kh
ố
n. Vua Lê bu
ộ
c ph
ả
i cho v
ờ
i Nguy
ễ
n H
ữ
u Ch
ỉ
nh t
ừ
Ngh
ệ
An
đ
em quân v
ề
giúp. Quân Ch
ỉ
nh v
ề
Th
ă
ng Long m
ộ
t
cách d
ễ
dàng. T
ướ
ng l
ĩ
nh Tr
ị
nh b
ỏ
ch
ạ
y, Tr
ị
nh B
ồ
ng tr
ố
n ch
ạ
y v
ề
x
ă
D
ươ
ng Xá r
ồ
i Qu
ế
V
ơ ở
Hà B
ắ
c. R
ồ
i t
ừ
B
ắ
c Ninh,
Tr
ị
nh B
ồ
ng ch
ạ
y v
ề
H
ả
i D
ươ
ng, Qu
ả
ng Yên, Thái
B́
nh, nh
ờ
th
ổ
hào
đị
a ph
ươ
ng giúp
đỡ
quân l
ươ
ng m
ư
u
đ
ánh l
ạ
i Nguy
ễ
n
H
ữ
u Ch
ỉ
nh, nh
ư
ng m
ấ
y l
ầ
n giao chi
ế
n
đề
u th
ấ
t b
ạ
i.
V
ề
sau, B
ồ
ng ch
ạ
y v
ề
vi
ế
t bi
ể
u g
ử
i vua Lê: "Ki
ế
p này sinh ra l
ỗ
i th
ờ
i, g
ặ
p lúc n
ướ
c nhà l
ắ
m n
ạ
n, l
ạ
m d
ự
vào
ḍ
ng
đ
ích nhà
chúa, r
ấ
t lo cho vi
ệ
c tôn mi
ế
u x
ă
t
ắ
c. Dâng bi
ể
u tr
ầ
n
t́
nh, mong
đượ
c Hoàng th
ượ
ng cho v
ề
tri
ề
u ki
ế
n
Nh
ậ
n
đượ
c bi
ể
u Tr
ị
nh B
ồ
ng, vua Lê ng
ậ
m ngùi:
-
T
ấ
m
ḷ
ng th
ậ
t thà c
ủ
a B
ồ
ng, tr
ẫ
m
đă
l
ườ
ng bi
ế
t, ch
ỉ
vì không khéo x
ử
s
ự
trong lúc g
ặ
p bi
ế
n c
ố
nên m
ớ
i
đế
n n
ỗ
i nh
ư
th
ế
.
N
ế
u
đă
ngh
ĩ
l
ạ
i và bi
ế
t h
ố
i l
ỗ
i tr
ẫ
m s
ẽ
có cách
đố
i
đă
i, ch
ẳ
ng nh
ữ
ng gi
ữ đượ
c
ḍ
ng d
ơ
i mà c
ũ
ng không m
ấ
t
đị
a v
ị
giàu sang.
Vua Lê nói r
ồ
i sai ng
ườ
i
đ
i
đ
ón Tr
ị
nh B
ồ
ng
th́
quân H
ữ
u Ch
ỉ
nh
đă đ
ánh tan quân c
ủ
a
Đ
inh Tích Nh
ưỡ
ng và Ph
ạ
m Tôn Lân
bỏ
chúa mà
đ
i, Tích Nh
ưỡ
ng trong tay không còn quân lính v
ũ
khí gì n
ữ
a. Tr
ị
nh B
ồ
ng không còn ai giúp, ph
ả
i s
ố
ng l
ẫ
n lút
m
ộ
t
ḿ
nh
ở
ven bi
ể
n,
t́
nh c
ả
nh r
ấ
t
đ
iêu
đứ
ng. Tr
ị
nh B
ồ
ng lúc
đ
ó t
ự
nhủ
: "
Giàu sang
ở
ki
ế
p phù sinh,
đề
u là c
ả
nh m
ộ
ng. B
ở
i
v
ậ
y ngày x
ư
a
đă
có ng
ườ
i th
ề
xin
đờ
i
đờ
i
đừ
ng sinh vào nhà
đế
v
ươ
ng
T
ừ
lúc ta
ở
tr
ọ đấ
t Ch
ươ
ng
Đứ
c
đă có
ý
ngh
ĩ
n
ươ
ng nh
ờ
c
ử
a ph
ậ
t. Bây gi
ờ
nên quay l
ạ
i v
ớ
i Ph
ậ
t là h
ơ
n".
Th
ế
r
ồ
i Tr
ị
nh B
ồ
ng g
ộ
t s
ạ
ch b
ụ
i tr
ầ
n, t
ự
x
ư
ng là H
ả
i
Đạ
t thi
ề
n s
ư, d
ạ
o kh
ắ
p các vùng L
ạ
ng S
ơ
n, Cao B
ằ
ng.
B
ấ
y gi
ờ
có ng
ườ
i h
ọ
c
tṛ
đấ
t Kinh B
ắ
c tên là Ki
ề
n, ch
ạ
y lo
ạ
n
ở
L
ạ
ng S
ơ
n. Ki
ề
n g
ặ
p H
ả
i
Đạ
t thi
ề
n s
ư ở
chùa Tam giáo, li
ề
n
bi
ế
t
đ
ó là chúa Tr
ị
nh, bèn b
ả
o v
ớ
i b
ọ
n phiên th
ầ
n
ở
vùng
đ
ó là Hà Qu
ốc K
ỳ
và Nguy
ễ
n Kh
ắ
n Tr
ầ
n
đế
n g
ặ
p, đ
ón H
ả
i
Đạ
t
thi
ề
n s
ư
v
ề
nhà. H
ọ b
ả
o nhà s
ư
r
ằ
ng:
-
Chúng tôi n
ố
i
đờ
i làm b
ề
tôi
ở
ch
ố
n biên c
ươ
ng.
Ở
xa v
ẫ
n m
ế
n oai
đứ
c c
ủ
a tri
ề
u
đ́
nh, th
ườ
ng ch
ỉ
nghe vua Lê chúa Tr
ị
nh
nh
ư ở
trên tr
ờ
i. N
ế
u nh
ư
thiên h
ạ
vô s
ự, bọ
n chúng tôi làm gì
đượ
c trông th
ấ
y chúa. Ch
ẳ
ng may nhà n
ướ
c có n
ạ
n, xe chúa
ph
ả
i t
ớ
i n
ơ
i biên
ả
i, th
ầ
n dân ai ch
ẳ
ng
đ
au
ḷ
ng. Lúc này chính là d
ị
p cho k
ẻ
trung th
ầ
n ngh
ĩ
a s
ĩ
ra tài kinh luân. H
ọ
xin
đượ
c
l
ấ
y danh ngh
ĩ
a chúa
để
tri
ệ
u t
ậ
p binh m
ă
quân l
ươ
ng
đ
ánh gi
ặ
c.
= =
== =
=
== =
=
===
===
====
==
==
==
==
==
==
==
==
==
==
====
== ==
====
==
==
Nhà s
ư
nh
ắ
m m
ắ
t ch
ắ
p tay khoan thai tr
ả
l
ờ
i:
- Sư
già này xu
ấ
t gia theo Ph
ậ
t, không can d
ự
gì
đế
n vi
ệ
c
đờ
i, các ông ch
ớ
có nh
ậ
n l
ầ
m, khi
ế
n lúc yên l
ặ
ng, l
ạ
i sinh ra bao
nhi
ề
u n
ỗ
i phi
ề
n n
ă
o. Trong thiên h
ạ
,
ai là chúa, ai là vua, tu hành
ở
c
ử
a thi
ề
n, làm môn
đồ đứ
c Ph
ậ
t Nh
ư
Lai mà thôi!
V
ũ
Ki
ề
u v
ẫ
n qu
ả
quy
ế
t r
ằ
ng
đă
có l
ầ
n trông th
ấ
y chúa khi còn h
ọ
c
ở
kinh k
ỳ
,
không th
ể
l
ầ
m
đượ
c, r
ồ
i c
ố
g
ắ
ng thuy
ế
t ph
ụ
c
chúa b
ỏ
chí tu hành và m
ư
u s
ự
nghi
ệ
p l
ớ
n, không nên n
ả
n chí. Nhà s
ư
khóc và nói:
- Sứ
c ta
đă
h
ế
t, c
ủ
a không còn m
ă
v
ẫ
n không th
ể
giành
đượ
c v
ớ
i tr
ờ
i, nên
đ
ành nín nh
ị
n
để
gi
ữ
l
ấ
y
ḿ
nh,
đ
ây còn dám làm
càn
để
l
ạ
i l
ầ
m l
ẫ
n n
ữ
a?
Chúa
đẫ
nói l
ộ b
ả
n t
ướ
ng, b
ị
m
ọ
i ng
ườ
i vin l
ấ
y danh ngh
ĩ
a chúa mà b
ắ
t bu
ộ
c ph
ả
i truy
ề
n l
ệ
nh
đ
i
ể
m quân thu l
ươ
ng. B
ọ
n K
ỳ
và Tr
ầ
n
đề
u là nh
ữ
ng k
ẻ
t
ầ
m th
ườ
ng, ch
ỉ
l
ợ
i d
ụ
ng danh ngh
ĩ
a c
ủ
a chúa Tr
ị
nh
để
làm nh
ữ
ng
đ
i
ề
u phi pháp. Nhân dân không
th
ể
ch
ị
u
đượ
c, bèn n
ổ
i lên gi
ế
t K
ỳ
và Tr
ầ
n r
ồ
i
đ
u
ổ
i chúa Tr
ị
nh
đ
i H
ữ
u L
ũ
ng r
ồ
i t
ừ đ
ó không ai g
ặ
p chúa
đ
âu n
ữ
a.
H
ọ
Tr
ị
nh t
ừ
Thái v
ươ
ng Tr
ị
nh Ki
ể
m truy
ề
n
đế
n Tr
ị
nh Sâm v
ừ
a
đượ
c 8
đờ
i
th́
x
ả
y ra bi
ế
n lo
ạ
n,
đ
úng v
ớ
i l
ờ
i s
ấ
m
đ
oán v
ề đấ
t
phát tích c
ủ
a t
ổ
tiên h
ọ
Tr
ị
nh: "Ch
ẳ
ng
đế
ch
ẳ
ng bá, quy
ề
n nghiêng thiên h
ạ
,
truy
ề
n
đượ
c tám
đờ
i, trong nhà d
ấ
y v
ạ
".
Đế
n Án
Đ
ô v
ươ
ng Tr
ị
nh B
ồ
ng
th́
nghi
ệ
p chúa h
ế
t. Tr
ướ
c sau 11
đờ
i tr
ả
i 248 n
ă
m.
1. Tr
ị
nh Ki
ể
m
1545-1570
2. Tr
ị
nh Tùng
1570-1623
3. Tr
ị
nh Tráng
1623-1652
4. Tr
ị
nh T
ạc
1653-1682
5. Tr
ị
nh C
ă
n
1682-1709
6. Tr
ị
nh C
ươ
ng
1709-1729
7. Tr
ị
nh Giang
1729-1740
8. Tr
ị
nh Doanh
1740-1767
9. Tr
ị
nh Sâm
1767-1782
10. Tr
ị
nh Tông
1782-1786
11. Tr
ị
nh B
ồ
ng
1786-1787
Chúa Nguy
ễ
n (1600
-
1802)
Các v
ị
chúa
Tên huý
Nă
m tr
ị
vì
Tu
ổ
i th
ọ
Chúa Tiên
Nguy
ễ
n Hoàng
1600-1613
89
Chúa Sãi hay Chúa B
ụ
t
Nguy
ễ
n Phúc
Nguyên
1613-1635
73
Chúa Th
ượ
ng
Nguy
ễ
n Phúc Lan
1635-1648
48
Chúa Hi
ề
n
Nguy
ễ
n Phúc
T
ầ
n
1648-1687
68
Chúa Ngh
ĩ
a
Nguy
ễ
n Phúc Tr
ă
n
1687-1691
43
Chúa Minh
Nguy
ễ
n Phúc Chu
1691-1725
51
Chúa Ninh
Nguy
ễ
n Phúc Chú
1725-1738
43
Chúa V
ũ
(
V
ũ
V
ươ
ng)
Nguy
ễ
n Phúc
Khoát
1738-1765
52
Chúa
Đị
nh (
Đị
nh V
ươ
ng)
Nguy
ễ
n Phúc
Thu
ầ
n
1765-1777
24
Nguy
ễ
n Ánh
Nguy
ễ
n Phúc Ánh
1781-1802
59
Nguy
ễ
n Hoàng, ng
ư
ờ
i Gia Miêu ngo
ạ
i trang, T
ố
ng S
ơ
n, Hà Trung, Thanh Hoá, sinh tháng 8 n
ă
m
ấ
t D
ậ
u (1525), là con trai
th
ứ
hai c
ủ
a Nguy
ễ
n Kim. T
ổ
tiên h
ọ
Nguy
ễ
n là m
ộ
t danh gia v
ọ
ng t
ộ
c
ở
Thanh Hoá: ông n
ộ
i c
ủ
a Nguy
ễ
n Hoàng là Trùng
qu
ố
c công Nguy
ễ
n Ho
ằ
ng D
ụ
, đ
ã t
ừ
ng giúp vua Lê T
ơ
ng D
ự
c kh
ở
i binh
ở
Thanh Hoá l
ậ
t
đổ
Lê Uy M
ụ
c, nhân
đó đ
ợ
c phong
Thái phó Tr
ừ
ng Qu
ố
c Công.
Cha Nguy
ễ
n Hoàng là Nguy
ễ
n Kim, con tr
ư
ở
ng c
ủ
a Nguy
ễ
n Ho
ằ
ng D
ụ
,
làm quan d
ớ
i tri
ề
u Lê ch
ứ
c H
ữ
u v
ệ Đ
i
ệ
n ti
ề
n t
ớ
ng
quân t
ớ
c An Thanh h
ầụ
Khi M
ạ
c l
ấ
y ngôi vua h
ọ
Lê, Nguy
ễ
n Kim
đ
em con em lánh sang Ai Lao, thu n
ạ
p hào ki
ệ
t, tính cu
ộ
c
trung h
ng nhà Lê t
ừ
bên
đấ
t Ai Lao và
đ
ợ
c phong Th
ợ
ng phu Thái s
H
ng Qu
ố
c công ch
ở
ng n
ộ
i ngo
ạ
i s
ự. N
ă
m Canh Tí
(1540) Nguy
ễ
n Kim
đ
em quân v
ề
chi
ế
m Ngh
ệ
An. N
ă
m Nhâm D
ầ
n (1542) ra Thanh Hoá cung v
ớ
i vua Lê chi
ế
m l
ạ
i Tây
Đ
ô,
s
ự
nghi
ệ
p trung h
ng nhà Lê do tay Nguy
ễ
n Kim t
ạ
o dự
ng bu
ổ
i
đầ
u
đ
ang
đ
à l
ớ
n m
ạ
nh. N
ă
m
ấ
t T
ị
(
1545), Kim b
ị
hàng t
ớ
ng
nhà M
ạ
c là D
ươ
ng Ch
ấ
p Nh
ấ
t
đầ
u
độ
c ch
ế
t, th
ọ
78 tu
ổị
Quy
ề
n hành t
ừ đ
ó r
ơ
i vào tay Tr
ị
nh Ki
ể
m, con r
ể
c
ủ
a Nguy
ễ
n Kim.
Khi Nguy
ễ
n Kim ch
ạ
y sang Ai Lao thì Nguy
ễ
n Hoàng m
ớ
i lên 2 tu
ổ
i,
đ
ợ
c Thái phó Nguy
ễ
n
D
ĩ
nuôi d
ạ
y nên ng
ờị
L
ớ
n lên,
Hoàng làm quan cho tri
ề
u Lê, t
ớ
c phong
đế
n H
ạ
Khê h
ầ
u, t
ừ
ng
đ
em quân
đ
ánh M
ạ
c Phúc H
ả
i, l
ậ
p công l
ớ
n, Lê phong cho
Đ
oan qu
ậ
n công.
Tr
ị
nh Ki
ể
m là anh r
ể
,
mu
ố
n thâu tóm quy
ề
n hành nên lo
ạ
i b
ỏ
uy th
ế
các con Nguy
ễ
n Kim: Nguy
ễ
n Uông, con tr
ở
ng b
ị
hãm
h
ạ
i, Nguy
ễ
n Hoàng
đ
ang b
ị
ghen ghét. Hoàng bi
ế
t, bèn cáo b
ệ
nh n
ằ
m nhà, gi
ữ
mình tránh ng
ờ
.
Nguy
ễ
n Hoàng tìm cách tr
ả
thù h
ọ
Tr
ị
nh, b
ă
n kho
ă
n ch
a bi
ế
t nên làm gì
đ
ây bèn sai ng
ờ
i
đế
n h
ỏ
i Tr
ạ
ng Trình Nguy
ễ
n B
ỉ
nh
Khiêm, thì
đ
ợ
c tâu: "Hoành S
ơ
n nh
ấ
t
đ
ái, v
ạ
n
đạ
i dung thân" (m
ộ
t d
ả
i núi Hoành S
ơ
n có th
ể
dung thân muôn
đờ
i). Hoàng hi
ể
u
ra, nh
ờ
ch
ị
gái là Ng
ọ
c B
ả
o nói v
ớ
i Ki
ể
m cho Hoàng vào tr
ấ
n th
ủ
Thu
ậ
n Hoá.
Đấ
t
ấ
y hi
ể
m tr
ở
,
xa xôi, khí h
ậ
u kh
ắ
c nghi
ệ
t, l
ạ
i
là m
ặ
t Nam, quân M
ạ
c có th
ể
dùng thuy
ề
n v
ợ
t
đ
ánh sau l
ng, Ki
ể
m
đồ
ng ý và dâng bi
ể
u tâu vua trau quy
ề
n cho Nguy
ễ
n
Hoàng làm tr
ấ
n th
ủ
Thu
ậ
n Hoá, toàn quy
ề
n x
ử
lý m
ọ
i vi
ệ
c. Hoàng
đ
em ng
ờ
i nhà và quân b
ả
n h
ộ
vào Nam n
ă
m M
ậ
u Ng
ọ
(
1558), khi 34 tu
ổị
Cùng
đ
i còn có nhi
ề
u
đồ
ng h
ươ
ng T
ố
ng S
ơ
n và Ngh
ĩ
a D
ũ
ng Thanh Hoá.
Thu
ở đầ
u, Nguy
ễ
n Hoàng d
ự
ng dinh tr
ạ
i
ở
xã ái T
ử,
huy
ệ
n
Đă
ng X
ư
ơ
ng (Tri
ệ
u Phong, Qu
ả
ng Tr
ị
).
Hoàng bi
ế
t khéo v
ỗ
v
ề
quân dân, thu dùng hào ki
ệ
t, s
u th
ế
nh
ẹ
nhàng,
đ
ựơ
c ng
ư
ờ
i ng
ờ
i m
ế
n ph
ụ
c, g
ọ
i là "Chúa Tiên".
Kho
ả
ng 40 n
ă
m
đầ
u vào vùng
đấ
t m
ớ
i, Nguy
ễ
n Hoàng chú tr
ọ
ng khai hoang l
ậ
p
ấ
p, phát tri
ể
n kinh t
ế
,
gây nuôi l
ự
c l
ợ
ng tính
k
ế
lâu dài, bên ngoài v
ẫ
n gi
ữ
quan h
ệ
bình th
ờ
ng và hoàn thành t
ố
t ngh
ĩ
a v
ụ đố
i v
ớ
i vua Lê ngoài B
ắ
c. Công cu
ộ
c kh
ẩ
n hoang
và chính s
ự
r
ộ
ng rãi c
ủ
a Nguy
ễ
n Hoàng
đ
ã
đ
êm l
ạ
i hi
ệ
u qu
ả
rõ r
ệ
t v
ề
m
ọ
i m
ặ
t
Thang 2 n
ă
m Quí D
ậ
u (1573) vua Lê s
ắ
c phong Nguy
ễ
n Hoàng là Thái phó, c
ầ
n tích tr
ữ
thóc lúa
ở
biên gi
ớ
i, hàng n
ă
m n
ộp
thu
ế
400 cân bàng b
ạ
c, 500 t
ấ
n l
ụạ
M
ỗ
i l
ầ
n có tri
ề
u th
ầ
n vào ki
ể
m tra thu
ế
khoá c
ủ
a tr
ấ
n, Nguy
ễ
n Hoàng khéo ti
ế
p đ
ãi bi
ế
t
l
ấ
y lòng, vì th
ế
Hoàng ch
ỉ đệ
trình s
ổ
sách do Hoàng sai ng
ờ
i l
ậ
p r
ạ
Chính nh
ờ đ
ó mà thu nh
ậ
p c
ủ
a chúa Nguy
ễ
n
ở đ
àng trong
ngày càng t
ă
ng nhanh. Ngoài B
ắ
c, vua Lê li
ề
n n
ă
m ph
ả
i
đ
em quân
đ
ánh M
ạ
c, quân d
ụ
ng thi
ế
u th
ố
n,
đấ
t Thu
ậ
n Qu
ả
ng l
ạ
i "li
ề
n
m
ấ
y n
ă
m
đ
ợ
c mùa, tr
ă
m h
ọ
gi
ầ
u th
ị
nh". Nguy
ễ
n Hoàng còn
đ
em ti
ề
n thóc ra giúp vua L
ệ
.
Tháng 5 n
ă
m Quý T
ị
(
1593) bi
ế
t Lê
-
Tr
ị
nh
đ
ã
đ
ánh tan quân M
ạ
c, l
ấ
y l
ạ
i
đ
ợ
c
Đ
ông
Đ
ô, Hoàng li
ề
n
đ
em quân ra y
ế
t ki
ế
n vua
L
ệ
Vua Lê khen ng
ợ
i công lao tr
ấ
n th
ủ đấ
t phía Nam, t
ấ
n phong Hoàng làm Trung quân
đô đố
c ph
ủ
t
ả đ
ô đố
c ch
ở
ng phủ
s
ự
thái uý
Đ
oan Qu
ố
c công.
Nguy
ễ
n Hoàng t
ừ
ng l
u l
ạ
i
ở
mi
ề
n B
ắ
c v
ớ
i nhà Lê
đế
n 7 n
ă
m, nhi
ề
u l
ầ
n
đ
em quân
đ
ánh d
ẹ
p d
đả
ng nhà M
ạ
c
ở
Ki
ế
n X
ư
ơ
ng
(Thái Bình) và H
ả
i D
ươ
ng, l
ậ
p đ
ượ
c công l
ớ
n. Ng
ườ
i con trai th
ứ
hai c
ủ
a Nguy
ễ
n Hoàng tên là Hán,
đ
ợ
c vua phong t
ả đ
ô
đố
c L
ỵ
qu
ậ
n công, theo Nguy
ễ
n Hoàng
đ
ánh M
ạ
c
ở
S
ơ
n Nam b
ị
t
ử
tr
ậ
n. Con Hán là H
ắ
c
đư
ợ
c t
ậ
p
ấ
m.
Nguy
ễ
n Hoàng
đ
ã nhi
ề
u l
ầ
n theo h
ầ
u vua Lê lên h
ộ
i khám v
ớ
i nhà Minh
ở
Tr
ấ
n Nam quan
để
nh
ậ
n s
ắ
c phong cho vua L
ệ
N
ă
m K
ỷ
H
ợ
i (1599) vua Lê b
ă
ng, con th
ứ
là Duy Tân lên ngôi, Nguy
ễ
n Hoàng
đ
ợ
c phong H
ữ
u t
ư
ớ
ng.
N
ă
m Canh Tý (1600)
đ
em quân d
ẹ
p các t
ướ
ng n
ộ
i lo
ạ
n: Ph
ạ
m Ng
ạ
n, Ngô
Đ
ình Nga và Bùi V
ă
n Khuê
ở
Nam
Đị
nh,
Nguy
ễ
n Hoàng cùng b
ả
n b
ộ
ra bi
ể
n dong th
ẳ
ng vào Thu
ậ
n Hoá,
để
con trai th
ứ
5 là H
ả
i và cháu là H
ắ
c
ở
l
ạ
i làm con tin. Sau
đ
ó, vua Lê sai s
ứ
gi
ả
vào ph
ủ
d
ụ
,
v
ẫ
n
để
Nguy
ễ
n Hoàng tr
ấ
n th
ủ đấ
t Thu
ậ
n Qu
ả
ng, hàng n
ă
m n
ộ
p thu
ế
má
đầ
y
đủ
.
Tr
ị
nh
NGUY
Ễ
N HOÀNG (1600-1613)
Tùng c
ũ
ng g
ử
i th
kèm theo khuyên gi
ữ
t
ố
t vi
ệ
c tu
ế
c
ố
ng.
Tháng 10 n
ă
m Canh Tý (1600), Nguy
ễ
n Hoàng g
ả
con gái là Ng
ọ
c Tú cho Tr
ị
nh Tráng (con c
ả
Tr
ị
nh Tùng). T
ừ đ
ó Nguy
ễ
n
Hoàng không ra
Đ
ông
Đ
ô n
ữạ
Tr
ị
nh Tùng c
ũ
ng ch
ẳ
ng dám
độ
ng ch
ạ
m
đế
n vi
ệ
c
ấ
y n
ữạ
Có th
ể
nói t
ừ
1600, Nguy
ễ
n Hoàng
b
ắ
t
đầ
u xây d
ự
ng m
ộ
t giang s
ơ
n riêng cho h
ọ
Nguy
ễ
n
ở
Thu
ậ
n Qu
ả
ng, vào tu
ổ
i 76. 13 n
ă
m ti
ế
p theo, Nguy
ễ
n Hoàng ráo ri
ế
t
xây d
ự
ng m
ộ
t vùng
đấ
t m
ớ
i này có
đầ
y
đủ
m
ọ
i m
ặ
t: t
ổ
ch
ứ
c hành chính, m
ở
r
ộ
ng
đấ
t xu
ố
ng phía
Nam
. M
ộ
t lo
ạ
t chùa chi
ề
n
th
ờ
ph
ậ
t c
ũ
ng
đ
ợ
c xây c
ấ
t trong d
ị
p này: Thiên
M
ụ
,
B
ả
o Châ
ụ
Dân chúng ngoài B
ắ
c m
ấ
t mùa
đ
ói kém ch
ạ
y vào Nam theo
chúa Nguy
ễ
n khá
đ
ông.
N
ă
m Quí S
ử
u (1613) Nguy
ễ
n Hoàng
đ
ã già và m
ệ
t n
ặ
ng, tri
ệ
u ng
ờ
i con trai th
ứ
6 vào d
ặ
n:
"
Đấ
t Thu
ậ
n Qu
ả
ng phía B
ắ
c có núi Ngang (Hoàng S
ơ
n) và sông Gianh (Linh Giang) hi
ể
m tr
ở
,
phía Nam có núi H
ả
i Vân và
núi
Đ
á Bia (Th
ạ
ch Bi S
ơ
n) v
ữ
ng b
ề
n. Núi s
ẵ
n vàng s
ắ
t, bi
ể
n có cá mu
ố
i, th
ậ
t là
đấ
t d
ụ
ng võ c
ủ
a ng
ờ
i anh hùng. N
ế
u bi
ế
t d
ạ
y
dân luy
ệ
n lính
để
ch
ố
ng ch
ọ
i v
ớ
i h
ọ
Tr
ị
nh thì
đủ
xây d
ự
ng c
ơ
nghi
ệ
p muôn
đờ
i, b
ằ
ng th
ế
l
ự
c không
đị
nh
đ
ợ
c, thì c
ố
gi
ữ
v
ữ
ng
đấ
t
đ
ai
để
ch
ờ
c
ơ
h
ộ
i, ch
ứ đừ
ng b
ỏ
qua l
ờ
i d
ặ
n c
ủ
a ta". Nguy
ễ
n Hoàng m
ấ
t, th
ọ
89 tu
ổ
i, có 10 con trai, tr
ấ
n th
ủ
Thu
ậ
n
Qu
ả
ng
đ
ợ
c 56 n
ă
m (1558
-
1614). Sau này tri
ề
u Nguy
ễ
n truy tôn là Thái t
ổ
Gia d
ụ
hoàng
đế
.
Nguy
ễ
n Phúc Nguyên là con th
ứ
6 c
ủ
a Nguy
ễ
n Hoàng. M
ẹ
Phúc Nguyên h
ọ
nguy
ễ
n. B
ấ
y gi
ờ
các con trai c
ủ
a Nguy
ễ
n
Hoàng là Hà, Hán, Thành, Di
ễ
n
đề
u
đă
m
ấ
t tr
ướ
c. Ng
ườ
i con trai th
ứ
n
ă
m là H
ả
i
đ
ang làm con tin ngoài B
ắ
c, vì th
ế
Phúc
Nguyên là con th
ứ 6
đượ
c n
ố
i nghi
ệ
p, b
ấ
y gi
ờ đă
51 tu
ổ
i.
Vua Lê sai s
ứ
gi
ả
vào vi
ế
ng và truy t
ặ
ng Nguy
ễ
n Hoàng c
ẩ
n Nghi công, cho Phúc Nguyên làm tr
ấ
n th
ủ
Thu
ậ
n Qu
ả
ng v
ớ
i hàm
Thái B
ả
o, t
ướ
c Qu
ậ
n công. Phúc Nguyên lên n
ố
i ngôi, s
ử
a
đắ
p thành lu
ỹ
,
đặ
t quan
ả
i v
ỗ
v
ề
quân dân, trong ngoài
đề
u vui
ph
ụ
c, b
ấ
y gi
ờ
ng
ườ
i ta g
ọ
i Nguyên là chúa Ph
ậ
t. K
ể
t
ừ
Phúc Nguyên, h
ọ
Nguy
ễ
n
ở Đ
àng trong x
ư
ng qu
ố
c tính là Nguy
ễ
n
Phúc.
N
ă
m K
ỷ
Mùi (1619), Tr
ị
nh Tùng
đ
em quân vào
đ
ánh chúa Nguy
ễ
n
ở
Thu
ậ
n Qu
ả
ng, t
ừ đấ
y chúa Nguy
ễ
n không n
ộ
p thu
ế
c
ố
ng n
ữ
a.
N
ă
m Quí H
ợ
i (1623), nghe tin Tr
ị
nh Tùng b
ị
b
ệ
nh n
ặ
ng, con th
ứ
là Xuân n
ổ
i lo
ạ
n phóng l
ử
a
đố
t ph
ủ
chúa, b
ứ
c d
ờ
i Tùng ch
ạ
y
ra ngoài thành,
Phúc Nguyên nói v
ớ
i các t
ướ
ng:
-
Tùng không bi
ế
t có vua, Xuân không bi
ế
t có cha,
đạ
o tr
ờ
i báo
ứ
ng, th
ậ
t ch
ẳ
ng l
ầ
m v
ậ
y. R
ồ
i Phúc Nguyên sai b
ắ
n 3 phát
súng và kêu lên 3 ti
ế
ng. Nguy
ễ
n H
ữ
u D
ậ
t (m
ớ
i 16 tu
ổ
i, vì có h
ọ
c,
đượ
c dùng làm v
ă
n th
ư
)
không hi
ể
u, li
ề
n h
ỏ
i:
-
Tr
ị
nh Tùng ch
ế
t, con m
ớ
i l
ậ
p, mu
ố
n
đ
ánh thì
đ
ánh, mu
ố
n gi
ữ
thì gi
ữ.
Nay n
ổ
súng và kêu to là sao v
ậ
y?
Phúc Nguyên gi
ả
i thích:
-
H
ữ
u D
ậ
t tr
ẻ
tu
ổ
i c
ậ
y h
ă
ng, ch
ư
a bi
ế
t r
ơ
l
ẽ
.
Ta mu
ố
n nhân c
ơ
h
ộ
i này n
ổ
i ngh
ĩ
a binh
để
pḥ
Lê, nh
ư
ng
đ
ánh ng
ườ
i trong lúc
có tang là b
ấ
t nhân, th
ừ
a lúc ng
ườ
i lâm nguy là b
ấ
t v
ơ
.
Hu
ố
ng chi ta v
ớ
i h
ọ
Tr
ị
nh cón có ngh
ĩ
a thông gia, chi b
ằ
ng tr
ướ
c h
ế
t
đ
em l
ễ
phúng vi
ế
ng, xem xét
t́
nh hình, sau h
ă
y li
ệ
u k
ế
.
Nguy
ễ
n Phúc Nguyên có
Đ
ào Duy T
ừ
giúp s
ứ
c càng v
ữ
ng m
ạ
nh h
ơ
n. T
ừ đượ
c Tr
ầ
n
Đứ
c Hoà ti
ế
n c
ử
lên chúa Nguy
ễ
n n
ă
m
Đ
inh M
ă
o (1672) Nguy
ễ
n Phúc Nguyên m
ừ
ng l
ắ
m, phong cho t
ừ
t
ướ
c L
ộ
c kê h
ầ
u, ch
ứ
c Nha N
ộ
i úy t
ộ
i tán. Duy T
ừ
bày
cho chúa Nguy
ễ
n k
ế
sách tr
ả
l
ạ
i s
ắ
c phong c
ủ
a vua Lê, không ch
ị
u n
ộ
p thu
ế
c
ố
ng cho h
ọ
Tr
ị
nh,
đắ
p l
ũ
y Tr
ườ
ng D
ụ
c l
ũ
y
Th
ầ
y
để
pḥ
ng ng
ự,
ch
ố
ng l
ạ
i quân Tr
ị
nh. K
ế
sách c
ủ
a Duy T
ừ đượ
c chúa Nguy
ễ
n làm theo.
Đ
ào Duy T
ừ
c
ũ
ng bày cho chúa Nguy
ễ
n phép duy
ệ
t
đ
inh, tuy
ể
n lính, thu thu
ế
theo các b
ậ
c h
ạ
ng, ng
ạ
ch ng
ự
c khác nhau. Nh
ờ
đ
ó vi
ệ
c thu thu
ế
và huy
độ
ng
đ
óng góp c
ủ
a dân chúng
đượ
c công b
ằ
ng và
ổ
n
đị
nh. Ti
ề
m l
ự
c quân s
ự
và kinh t
ế
c
ủ
a chúa
Nguy
ễ
n ngày càng m
ạ
nh.
Đ
ào Duy T
ừ
còn ti
ế
n c
ủ
a cho chúa Nguy
ễ
n m
ộ
t viên t
ướ
ng tài ba, m
ư
u l
ượ
c nh
ư
th
ầ
n: Nguy
ễ
n H
ữ
u Ti
ế
n. Quân l
ự
c Nguy
ễ
n
t
ừ đ
ó ngày thêm m
ạ
nh.
Đ
ào Duy T
ừ
ch
ỉ
giúp chúa Nguy
ễ
n 8 n
ă
m mà c
ơ
nghi
ệ
p chúa Nguy
ễ
n thay
đổ
i h
ẳ
n v
ề
ch
ấ
t,
đấ
t
Đ
àng
Trong tr
ở
nên có v
ă
n hi
ế
n và quy c
ủ
.
N
ă
m Giáp Tu
ấ
t (1634)
Đ
ào Duy T
ừ b
ị
b
ệ
nh n
ặ
ng, chúa Nguy
ễ
n thân t
ớ
i th
ă
m. Duy T
ừ
khóc nói:
-
Th
ầ
n g
ặ
p
đượ
c thánh minh, ch
ư
a báo
đề
n
đượ
c chút
đỉ
nh, nay b
ệ
nh
ố
m
đế
n th
ế
này, còn nói gì n
ữ
a?
Đ
ào Duy T
ừ
m
ấ
t, th
ọ
63 tu
ổ
i. Chúa Nguy
ễ
n r
ấ
t th
ươ
ng ti
ế
c, truy t
ặ
ng Hi
ệ
p m
ư
u
đồ
ng
đứ
c công th
ầ
n
đặ
c ti
ế
n kim t
ử
vinh l
ộ
c
đạ
i phu,
đư
a v
ề
táng
ở đấ
t Tùng Châu (Bình
Đị
nh). Công lao c
ủ
a T
ừ đứ
ng
đầ
u công th
ầ
n khai qu
ố
c c
ủ
a nhà Nguy
ễ
n.
M
ộ
t n
ă
m sau, n
ă
m
Ấ
t H
ợ
i (1635) chúa Nguy
ễ
n Phúc Nguyên c
ũ
ng qua
đờ
i
ở
ngôi 22 n
ă
m, th
ọ
73 tu
ổ
i, truy
ề
n ngôi cho con
th
ứ
hai là Nguy
ễ
n Phúc Lan. Sau tri
ề
u
đ́
nh Nguy
ễ
n truy tôn là Hy Tông Hi
ế
n V
ă
n Hoàng
đế
.
Nguy
ễ
n Phúc Nguyên có 11
con trai.
NGUY
Ễ
N PHÚC NGUYÊN (1613-1635)
V
ợ
Nguy
ễ
n Phúc Nguyên là con gái M
ạ
c Kính
Đ
i
ể
n. Khi Kính
Đ
i
ể
n b
ạ
i vong, bà theo chú là C
ả
nh Hu
ố
ng ch
ạ
y vào Nam,
cùng v
ớ
i chú
ẩ
n
ở
chùa Lam S
ơ
n,
đấ
t Qu
ả
ng Tr
ị
.
Nguy
ễ
n Th
ị
Ng
ọ
c D
ươ
ng, v
ợ
C
ả
nh Hu
ố
ng l
ạ
i là dì ru
ộ
t c
ủ
a Nguy
ễ
n Phúc
Nguyên, nhân
đ
ó bà ti
ế
n cháu
ḿ
nh vào h
ầ
u chúa Nguy
ễ
n t
ừ
khi ch
ư
a lên ngôi.
Bà v
ợ
h
ọ
M
ạ
c này sinh
đượ
c n
ă
m tri: con tr
ưở
ng là K
ỳ
,
làm H
ữ
u ph
ủ
ch
ưở
ng phủ
s
ự,
tr
ấ
n th
ủ
Qu
ả
ng
Nam
, hàm Thi
ế
u B
ả
o,
t
ướ
c Qu
ậ
n công; con trai th
ứ
hai là Phúc Lan; con th
ứ
ba là Trung, con th
ứ
t
ư
là Anh, th
ứ
n
ă
m là Ngh
ĩ
a ch
ế
t s
ớ
m. Ba ng
ườ
i
con gái là Ng
ọ
c Liên, Ng
ọ
c V
ạ
n và Ng
ọ
c Khoá. N
ă
m Canh Ng
ọ
(
1630) bà m
ấ
t, th
ọ
53 tu
ổ
i,
đượ
c truy tôn Huy cùng t
ừ
thân Thu
ậ
n phi.
Mùa h
ạ
n
ă
m Tân Mùi (1631), Hoàng t
ử
c
ả
là K
ỳ
m
ấ
t, Phúc Lan là con th
ứ
hai
đượ
c l
ậ
p làm Th
ế
t
ử,
m
ở
dinh Thu
ậ
n Ngh
ĩ
a.
N
ă
m
Ấ
t H
ợ
i (1635), chúa Nguy
ễ
n Phúc Nguyên m
ấ
t, Phúc Lan
đượ
c n
ố
i ngôi, lúc này ông
đă
35 tu
ổ
i, g
ọ
i là chúa Th
ượ
ng.
Nghe tin Lan
đượ
c n
ố
i ngôi Chúa, tr
ấ
n th
ủ
Qu
ả
ng Nam là Anh n
ổ
i lên, bí m
ậ
t
đầ
u hàng h
ọ
Tr
ị
nh, m
ư
u c
ướ
p ngôi chúa. Anh
cho
đắ
p l
ũ
y Cu Đ
ê
để
c
ố
th
ủ
và bày th
ủ
y quân
ở
c
ử
a bi
ể
n
Đ
à N
ẵ
ng ch
ố
ng l
ạ
i chúa. Phúc Lan
đ
ánh b
ắ
t
đượ
c, không n
ỡ
gi
ế
t
k
ẻ
ru
ộ
t th
ị
t, nh
ư
ng t
ướ
ng s
ĩ đề
u xin gi
ế
t
để
tr
ừ
h
ậ
u ho
ạ
, k
ể
c
ả đồ đả
ng có tên trong s
ổ
"
Đồ
ng tâm".
N
ă
m K
ỷ
M
ă
o (1639) v
ợ
c
ủ
a Tôn Th
ấ
t K
ỳ
là T
ố
ng Th
ị
vào y
ế
t ki
ế
n chúa Nguyên. T
ố
ng Th
ị
xinh
đẹ
p l
ạ
i khéo
ứ
ng
đố
i, nhân
vào g
ặ
p chúa, kêu kh
ổ,
xin chúa th
ươ
ng
t́
nh và bi
ế
u chúa chu
ỗ
i ng
ọ
c V
ạ
n Hoa. Phúc Lan th
ươ
ng
t́
nh cho l
ư
u l
ạ
i cung ph
ủ
.
Th
ị
th
ầ
n có ng
ườ
i can, chúa không nghe.
N
ă
m Canh Thìn (1640) quân Nguy
ễ
n do Nguy
ễ
n H
ữ
u D
ậ
t th
ố
ng su
ấ
t
đă
chi
ế
m
đượ
c châu B
ắ
c B
ố
Chính. Tr
ị
nh Tráng vi
ế
t
th
ư
xin l
ạ
i, chúa Nguy
ễ
n ra l
ệ
nh
đồ
ng
ư.
T
ừ đ
ó Phúc Lan th
ấ
y vi
ệ
c biên c
ươ
ng không
đ
áng lo n
ữ
a, r
ơ
i vào ch
ă
m vui y
ế
n ti
ệ
c,
xây d
ự
ng cung th
ấ
t, công d
ị
ch không ng
ớ
t, vi
ệ
c th
ổ
m
ộ
c n
ặ
ng n
ề
,
t
ố
n kém. Nh
ư
ng còn may là qu
ầ
n th
ầ
n can ng
ă
n, chúa
đổ
i
s
ắ
c m
ặ
t nói:
-
Đấ
y là do ng
ườ
i ta xu n
ị
nh bày ra, th
ự
c không t
ự
ý ta.
T
ứ
c thì b
ă
i b
ỏ
vi
ệ
c xây d
ự
ng.
L
ạ
i nói
đế
n T
ố
ng Th
ị
,
khi
đă đượ
c vào cung,
đư
a
đ
ón, th
ỉ
nh thác l
ấ
y
ḷ
ng chúa r
ấ
t khéo, c
ủ
a c
ả
i ch
ấ
t
đầ
y. Ch
ưở
ng c
ơ
Tôn
Th
ấ
t Trung m
ư
u gi
ế
t th
ị
.
T
ố
ng Th
ị
vi
ế
t th
ư
và g
ử
i m
ộ
t chu
ỗ
i ng
ọ
c nh
ờ
cha là T
ố
ng Phúc Thông (
ở đấ
t Tr
ị
nh)
đ
em bi
ế
u chúa
Tr
ị
nh, xin Tr
ị
nh Tráng c
ấ
t quân
đ
ánh Nguy
ễ
n. T
ố
ng Th
ị
nguy
ệ
n
đ
em gia tài giúp quân l
ươ
ng. Tráng nh
ậ
n
đượ
c th
ư,
li
ề
n
đ
em
các
đạ
o quân thu
ỷ
bộ
vào
đ
ánh. Nguy
ễ
n Phúc Lan ph
ả
i t
ự
cầ
m quân
đ
ánh l
ạ
i. V
ề
sau, Phúc Lan không
đượ
c kho
ẻ
,
trao binh
quy
ề
n cho con trai là Nguy
ễ
n Phúc T
ầ
n và t
ướ
ng Nguy
ễ
n H
ữ
u D
ậ
t. Nhi
ề
u tr
ậ
n
đ
ánh l
ớ
n x
ả
y ra, quân Nguy
ễ
n
đạ
i th
ắ
ng b
ắ
t
đượ
c vô s
ố
tù binh c
ủ
a Tr
ị
nh.
Trân
đườ
ng rút quân,
đế
n phà Tam Giang, Phúc Lan m
ấ
t trên thuy
ề
n ng
ự.
Chúa
ở
ngôi 13 n
ă
m, th
ọ
48 tu
ổ
i. Th
ế
t
ử
Nguy
ễ
n
Phúc T
ầ
n khóc m
ờ
i chúa lên ngôi gánh vác vi
ệ
c n
ướ
c. Ông chú t
ử
t
ế đă
khuyên cháu lên ngôi cho danh chính ngôn thu
ậ
n.
Nguy
ễ
n Phúc T
ầ
n theo l
ờ
i, lên n
ố
i ngôi, truy tôn cha là Th
ầ
n tôn hi
ế
n chiêu Hoàng
đế
.
NGUY
Ễ
N PHÚC LAN (1635-1648)
Hi
ề
n v
ươ
ng Nguy
ễ
n Phúc T
ầ
n
(1620
-1687,
ở
ngôi 1648
-
1687) là
chúa Nguy
ễ
n
th
ứ
4 trong
lị
ch s
ử
Vi
ệ
t Nam
, ng
ườ
i
g
ố
c Gia Miêu,
huy
ệ
n T
ố
ng S
ơ
n
,
Thanh Hoá
,
Vi
ệ
t Nam
.
Nguy
ễ
n Phúc T
ầ
n là con trai c
ủ
a
Nguy
ễ
n Phúc Lan
và bà v
ợ
h
ọ Đ
oàn, con gái th
ứ
ba c
ủ
a Th
ạ
ch qu
ậ
n công
Đ
oàn Công
Nh
ạc
, ng
ườ
i huy
ệ
n
Diên Phúc
, t
ỉ
nh
Qu
ả
ng Nam
. Bà là ng
ườ
i minh m
ẫ
n, thông sáng, n
ă
m 15 tu
ổ
i nhân khi
Nguy
ễ
n Phúc Lan
cùng cha
đ
i ch
ơ
i
Qu
ả
ng Nam
tình c
ờ
g
ặ
p bà
đ
ang
đ
i hái dâu
ở
bãi sông, nhìn tr
ă
ng mà hát,
đ
em lòng yêu m
ế
n,
đư
a vào h
ầ
u
th
ế
t
ử
Phúc Lan.
Nguy
ễ
n Phúc T
ầ
n lúc
đầ
u
đự
oc phong là phó t
ướ
ng D
ũ
ng Lê h
ầ
u, t
ừ
ng d
ẹ
p gi
ặ
c
ở
c
ử
a bi
ể
n,
đượ
c chúa Phúc Lan r
ấ
t ng
ợ
i
khen, n
ă
m M
ậ
u Tí (1648)
đượ
c phong là Ti
ế
t ch
ế
ch
ủ
quân, thay cha
đ
ánh phá quân Tr
ị
nh
ở
sông Gianh, khi
Nguy
ễ
n Phúc
Lan
ch
ế
t
độ
t ng
ộ
t, T
ầ
n m
ờ
i chú là Trung lên gánh vác vi
ệ
c n
ướ
c, xong ông này t
ừ
ch
ố
i, T
ầ
n lên ngôi chúa, g
ọ
i là
chúa Hi
ề
n
.
Hi
ề
n v
ươ
ng là ng
ườ
i ch
ă
m ch
ỉ
chính s
ự,
xa r
ờ
i n
ữ
s
ắ
c, bi
ế
t tr
ọ
ng ng
ườ
i tài.
Có ng
ườ
i con gái quê
Ngh
ệ
An
r
ấ
t xinh
đẹ
p tên là Th
ị
Th
ừ
a,
đượ
c l
ấ
y vào cung ph
ụ
c v
ụ
chúa. Chúa, nhân
đọ
c sách
Qu
ố
c
ng
ữ,
t
ớ
i chuy
ệ
n vua Ngô m
ấ
t n
ướ
c vì nàng
Tây Thi
li
ề
n t
ỉ
nh ng
ộ
sai Th
ị
Th
ừ
a mang ng
ự
bào cho ch
ưở
ng dinh
Nguy
ễ
n Phúc
Ki
ề
u
, gi
ấ
u th
ư
trong d
ả
i áo ng
ầ
m sai Ki
ề
u b
ỏ
thu
ố
c
độ
c gi
ế
t Th
ị
Th
ừ
a tr
ừ
h
ậ
u ho
ạ
.
Chúa r
ấ
t tr
ọ
ng d
ụ
ng hai t
ướ
ng gi
ỏ
i là
Nguy
ễ
n H
ữ
u D
ậ
t
và
Nguy
ễ
n H
ữ
u Ti
ế
n
, nh
ờ
v
ậ
y quân Nguy
ễ
n nhi
ề
u l
ầ
n v
ượ
t qua
đượ
c
sông Gianh ti
ế
n ra
Đ
àng Ngoài
. N
ă
m 1656, sau hai n
ă
m ti
ế
n quân ra B
ắ
c, quân Nguy
ễ
n
đ
ã chi
ế
m
đượ
c 7 huy
ệ
n c
ủ
a
Ngh
ệ
An
. Sau
đợ
t t
ấ
n công
đ
ó, quân Nguy
ễ
n còn chi
ế
m
đ
óng
đấ
t Ngh
ệ
An 5 n
ă
m. Sau
đ
ó bên Tr
ị
nh v
ố
n có
ư
u th
ế
h
ơ
n v
ề
quân
đ
ông t
ướ
ng nhi
ề
u, các t
ướ
ng Nguy
ễ
n dù gi
ỏ
i nh
ư
ng quân Nguy
ễ
n
đ
ánh xa nhà lâu ngày không
đủ
l
ự
c l
ượ
ng ti
ế
p ứ
ng, không
th
ể
ch
ố
ng
đỡ
h
ế
t l
ớ
p này t
ớ
i l
ớ
p khác vi
ệ
n binh c
ủ
a quân Tr
ị
nh. Thêm vào
đ
ó, Nguy
ễ
n Phúc T
ầ
n l
ạ
i tin yêu Nguy
ễ
n H
ữ
u D
ậ
t
h
ơ
n Nguy
ễ
n H
ữ
u Ti
ế
n nên các t
ướ
ng sinh ra ganh ghét b
ấ
t hoà. N
ă
m 1660, quân Nguy
ễ
n cu
ố
i cùng b
ạ
i tr
ậ
n, b
ị đẩ
y lùi kh
ỏ
i
Ngh
ệ
An
và B
ắ
c B
ố
Chính, rút v
ề
b
ờ
nam sông Gianh. T
ừ đ
ó, Tr
ị
nh
-
Nguy
ễ
n c
ầ
m c
ự
nhau trong nhi
ề
u n
ă
m và t
ớ
i n
ă
m 1672
thì
đ
ình chi
ế
n.
Nh
ữ
ng n
ă
m sau
đ
ó, t
ướ
ng
Nguy
ễ
n H
ữ
u Ti
ế
n
m
ấ
t n
ă
m 1666, t
ướ
ng
Nguy
ễ
n H
ữ
u D
ậ
t
m
ấ
t n
ă
m 1681
đ
ã làm phía chúa
Nguy
ễ
n b
ị
t
ổ
n th
ấ
t l
ớ
n và nhân dân
Đ
àng Trong c
ũ
ng r
ấ
t th
ươ
ng ti
ế
c.
N
ă
m K
ỉ
Mùi (1679), chúa Nguy
ễ
n cho phép
D
ươ
ng Ng
ạ
n
Đị
ch
, m
ộ
t t
ướ
ng c
ũ
c
ủ
a tri
ề
u Minh cùng v
ớ
i
Tr
ầ
n Th
ượ
ng Xuyên
đ
em gia thu
ộ
c 3000 ng
ườ
i và 50 chi
ế
n thuy
ề
n vào khai phá vùng
Gia
Đị
nh
,
M
ỹ
Tho
, l
ậ
p nên các ph
ố
xá
đ
ông
đ
úc
ở
vùng
đấ
t
m
ớ
i, giao l
ư
u th
ươ
ng m
ạ
i v
ớ
i thuy
ề
n buôn c
ủ
a nhà
Mãn Thanh
, Tây ph
ươ
ng,
Nh
ậ
t B
ả
n
.
Chúa Hi
ề
n là m
ộ
t v
ị
chúa có tài,
đứ
c
độ,
vì th
ế
trong th
ờ
i gian ông này tr
ị
vì, nhi
ề
u vùng
đấ
t m
ớ
i
đượ
c m
ở
mang, các kênh
Trung
Đ
an, Mai Xá
đượ
c kh
ơ
i
đ
ào, b
ờ
cõi vô s
ự,
thóc lùa
đượ
c mùa, b
ớ
t lao dich thu
ế
má, nhân dân ng
ợ
i khen là th
ờ
i thái
bình.
Ông m
ấ
t n
ă
m 1687, th
ọ
68 tu
ổ
i. Nhà Nguy
ễ
n sau truy tôn ông là
Thái Tông Hi
ế
u Tri
ế
t hoàng
đế
.
NGUY
Ễ
N PHÚC TẦN(1648-1687)
Nguy
ễ
n Phúc T
ầ
n có hai bà v
ợ
chính. Bà h
ọ
Chu
là c
ả
,
theo h
ầ
u chúa t
ừ
khi
cò
n ch
ư
a lên ngôi chúa, sinh
đượ
c hai trai m
ộ
t
gái. Con trai là Di
ễ
n,
đượ
c t
ấ
n phong Phúc Qu
ậ
n công; th
ứ
hai là Thu
ầ
n,
đượ
c phong Hi
ệ
p qu
ậ
n công; con gái là Ng
ọ
c Tào.
Bà v
ợ
th
ứ
hai là ng
ườ
i h
ọ
T
ố
ng, quê
ở
huy
ệ
n T
ố
ng S
ơ
n (Thanh Hoá), là con gái T
ố
ng Phúc Khang, ng
ườ
i cùng quê v
ớ
i nhà
chúa,
đă đượ
c phong t
ớ
i Thi
ế
u phó. Bà v
ợ
h
ọ
T
ố
ng sinh
đượ
c hai trai, Nguy
ễ
n Phúc Tr
ă
n l
ạ
i là th
ứ
hai, sinh n
ă
m K
ỷ
Sử
u
(1649). Khi ng
ườ
i con trai c
ả
do bà v
ợ
h
ọ
Chu
sinh ra ch
ế
t, Nguy
ễ
n Phúc T
ầ
n cho r
ằ
ng Tr
ă
n tuy là con bà hai nh
ư
ng l
ớ
n tu
ổ
i
và hi
ề
n
đứ
c, phong cho làm T
ả
th
ủ
y dinh phó t
ướ
ng Ho
ằ
ng Âm h
ầ
u, làm ph
ủ đệ
t
ạ
i dinh T
ả
th
ủ
y. Nguy
ễ
n Phúc T
ầ
n m
ấ
t, Tr
ă
n
đă
39 tu
ổ
i,
đượ
c n
ố
i ngôi chúa. B
ấ
y gi
ờ
g
ọ
i là chúa Ngh
ĩ
a.
Nguy
ễ
n Phúc Tr
ă
n n
ổ
i ti
ế
ng là ng
ườ
i r
ộ
ng r
ă
i,
h́
nh ph
ạ
t và phú thu
ế đă
nh
ẹ
,
tr
ă
m h
ọ
ai c
ũ
ng vui m
ừ
ng, quan l
ạ
i c
ũ
c
ủ
a tiên
tri
ề
u
đề
u
đượ
c tr
ọ
ng
đă
i.
Nguy
ễ
n Phúc Tr
ă
n b
ắ
t
đầ
u quy
đị
nh l
ạ
i tang ph
ụ
c. S
ở
d
ĩ
có l
ệ
nh này là vì b
ấ
y gi
ờ
th
ầ
n dân
ở
trong ngoài thành qu
ậ
n, h
ễ
nghe
có qu
ố
c tang thì dù
ở
núi sâu hang cùng, dù là k
ẻ
già, con tr
ẻ
,
không ai là không l
ă
n khóc kêu gào: ng
ườ
i chài cá thì b
ỏ
thuy
ề
n, ng
ườ
i ch
ặ
t c
ủ
i thì quên búa, ng
ườ
i
đ
i cày thì quên b
ờ
,
ng
ườ
i
đ
i ch
ă
n thì buông trâu, ti
ế
ng bi th
ươ
ng vang kh
ắ
p g
ầ
n xa.
Nguy
ễ
n Phúc Tr
ă
n cho
đ
ây là
ả
nh h
ưở
ng c
ủ
a t
ậ
p t
ụ
c b
ả
n x
ứ
ng
ườ
i Ch
ă
m, không có l
ợ
i, li
ề
n ch
ế đị
nh: Tôn th
ấ
t và th
ầ
n dân
để
tang 3 n
ă
m; t
ừ
cai
độ
i tr
ở
lên
để
tang hai tu
ầ
n Trung Nguyên; N
ộ
i ngo
ạ
i
độ
i ch
ưở
ng, v
ă
n ch
ứ
c, câu k
ể
thì
để
tang
đế
n gi
ỗ
đầ
u;
cò
n quân và dân thì
để
tang
đế
n t
ế
t Trung Nguyên (R
ằ
m tháng B
ả
y).
Th
ờ
i chúa Nguy
ễ
n, quan h
ệ
v
ớ
i ng
ườ
i Chân L
ạ
p v
ẫ
n r
ấ
t t
ố
t
đẹ
p sau khi
đă
gi
ế
t
đượ
c k
ẻ
phá
đ
ám là Hoàng Ti
ế
n (ng
ườ
i Hoa).
Chúa Ngh
ĩ
a không th
ọ đượ
c lâu, sau 4 n
ă
m c
ầ
m quy
ề
n, b
ị
b
ệ
nh r
ồ
i m
ấ
t n
ă
m Tân Mùi (1691) lúc 43 tu
ổ
i.
NGUY
Ễ
N PHÚC TRĂN (1687-1691)
NGUY
Ễ
N PHÚC CHU (1691-1725)
Nguy
ễ
n Phúc Chu là con c
ả
c
ủ
a Nguy
ễ
n Phúc Tr
ă
n. M
ẹ
ông, ng
ườ
i h
ọ
T
ố
ng, quê
ở
huy
ệ
n T
ố
ng S
ơ
n (Thanh Hoá), con c
ủ
a
Thi
ế
u phó Qu
ậ
n công T
ố
ng Phúc Vinh. Bà
đượ
c h
ầ
u Nguy
ễ
n Phúc Tr
ă
n t
ừ
khi ch
ư
a lên ngôi.
Đế
n khi ch
ồ
ng lên ngôi chúa,
bà
đượ
c th
ă
ng làm Cung t
ầ
n. Sinh
đượ
c con trai là Nguy
ễ
n Phúc Chu thì càng
đượ
c chúa yêu quí vì bà phi c
ủ
a Phúc Tr
ă
n
(không có con) càng vì n
ể
và
đ
em Phúc Chu v
ề
nuôi.
Nguy
ễ
n Phúc Chu sinh n
ă
m
Ấ
t M
ă
o (1675),
đượ
c cho nuôi
ă
n h
ọ
c khá c
ẩ
n th
ậ
n vì th
ế
v
ă
n hay ch
ữ
t
ố
t,
đủ
tài l
ượ
c v
ă
n v
ơ
.
Khi n
ố
i ngôi chúa m
ớ
i 17 tu
ổ
i, l
ấ
y hi
ệ
u là Thiên Túng
đạ
o nhân.
Đ
ây là l
ầ
n
đầ
u tiên chúa Nguy
ễ
n l
ấ
y hi
ệ
u m
ớ
i m
ẻ
,
sùng
đạ
o
Ph
ậ
t. Qu
ả
v
ậ
y, m
ớ
i lên gi
ữ
chính, chúa r
ấ
t quan t
ầ
m chiêu hi
ề
n
đă
i s
ĩ
,
cầ
u l
ờ
i nói th
ẳ
ng, n
ạ
p l
ờ
i can gián, b
ỏ
xa hoa, b
ớ
t chi
phí, nh
ẹ
thu
ế
má giao d
ị
ch, b
ớ
t vi
ệ
c
h́
nh ng
ụ
c. V
ừ
a lên ngôi, chúa cho xây d
ự
ng m
ộ
t lo
ạ
t chùa mi
ế
u; m
ở
h
ộ
i l
ớ
n
ở
chùa Thiên
M
ụ
,
chùa núi M
ỹ
Am. T
ự
chúa c
ũ
ng
ă
n chay
ở
v
ườ
n Côn Gia m
ộ
t tháng tr
ờ
i; chúa phát ti
ề
n g
ạ
o cho ng
ườ
i nghèo thi
ế
u.
Đ
ây
là th
ờ
i k
ỳ
mà chi
ế
n tranh Tr
ị
nh
-
Nguy
ễ
n
đă
t
ạ
m ng
ừ
ng h
ơ
n 30 n
ă
m, b
ờ
c
ơ
i yên
ổ
n. Nguy
ễ
n Phúc Chu có
đ
i
ề
u ki
ệ
n m
ở
r
ộ
ng
đấ
t
đ
ai xu
ố
ng phía Nam và
đạ
t
đượ
c nh
ữ
ng thành t
ự
u
đ
áng k
ể
:
đặ
t ph
ủ
B́
nh Thu
ậ
n n
ă
m
Đ
inh S
ử
u (1697) g
ồ
m các
đấ
t Phan
Rang, Phan Rí tr
ở
v
ề
Tây, chia làm hai huy
ệ
n An Phúc và Hoà
Đ
a b
ắ
t
đầ
u
đặ
t ph
ủ
Gia
Đị
nh: chia
đấ
t
Đ
ông Ph
ố,
l
ấ
y x
ứ
Đồ
ng Nai làm huy
ệ
n Phúc Long, d
ự
ng dinh Tr
ấ
n Biên (t
ứ
c Biên Hoà), l
ấ
y x
ứ
Sài
G̣
n làm huy
ệ
n Tân
B́
nh, d
ự
ng dinh Phiên
Tr
ấ
n, l
ậ
p x
ă
Minh H
ươ
ng T
ừ đ
ó ng
ườ
i Thanh
đ
i l
ạ
i buôn bán r
ấ
t s
ầ
m u
ấ
t.
N
ă
m M
ậ
u T
ư
(
1708), chúa dùng M
ạ
c Cử
u làm t
ổ
ng binh tr
ấ
n Hà Tiên.
Ngoài t
ư
cách là m
ộ
t v
ị
chúa có h
ọ
c v
ấ
n cao th
ể
hi
ệ
n qua chính s
ự
khá toàn di
ệ
n và c
ở
i m
ở
.
Nguy
ễ
n Phúc Chu còn là m
ộ
t
ng
ườ
i làm r
ấ
t nhi
ề
u th
ơ
.
Ông có hàng ch
ụ
c bài th
ơ
khóc v
ợ
,
tình ý r
ấ
t tha thi
ế
t.
N
ă
m
Ấ
t T
ị
(
1725) Nguy
ễ
n Phúc Chu m
ấ
t,
ở
ngôi 34 n
ă
m, th
ọ
51 tu
ổ
i. Phúc Chu là chúa có
đ
ông con nh
ấ
t: 146 ng
ườ
i, trai
l
ẫ
n gái! Trong m
ộ
t bài th
ơ
khóc v
ợ
,
chúa r
ấ
t t
ự
hào v
ề đ
i
ề
u
đ
ó:
d
ị
ch:
Mình tu
ổi thọ ít, như
ng phúc thì nhi
ề
u,
Người ta thường đồn phúc trạch thơm trong cung họ Nguy
ễ
n.
Vàng ngọ
c hai hòm
đề
u vứt bỏ
;
Để
l
ạ
i con cháu
đầy một nhà
N
ế
u tính riêng con trai, ông có 38 ng
ườ
i.
Ch
ắ
c là Nguy
ễ
n Phúc Chu có r
ấ
t nhi
ề
u v
ợ
,
nh
ư
ng ch
ỉ
th
ấ
y s
ử
sách chép chuy
ệ
n hai bà: bà h
ọ
H
ồ
và bà h
ọ
Nguy
ễ
n.
Bà th
ứ
nh
ấ
t h
ọ
H
ồ,
sau khi vào cung cho l
ấ
y h
ọ
T
ố
ng (các chúa Nguy
ễ
n th
ườ
ng l
ấ
y v
ợ
h
ọ
T
ố
ng
ở
T
ố
ng S
ơ
n Thanh Hoá), bà
ng
ườ
i huy
ệ
n H
ươ
ng Trà, ph
ủ
Th
ừ
a Thiên, con gái Tr
ưở
ng Doanh H
ồ
V
ă
n Mai.
Vào cung, bà
đượ
c chúa yêu chi
ề
u, l
ấ
y làm H
ữ
u cung t
ầ
n th
ứ
t
ư.
Sau l
ạ
i
đượ
c lên làm Chiêu Nghi. Tính bà nhân thu
ậ
n cung
kính. Bà sinh
đượ
c hai con trai, con tr
ưở
ng là Phúc Chú, sau
đượ
c n
ố
i ngôi chúa, con trai th
ứ
là Phúc T
ư,
đượ
c phong Lu
ậ
n
Qu
ố
c công.
Bà v
ợ
h
ọ
Nguy
ễ
n là con gái c
ủ
a Tham chính Nguy
ễ
n H
ữ
u Hi
ệ
p. Khi Phúc Chu m
ớ
i
đượ
c n
ố
i ngôi, bà
đượ
c vào h
ầ
u
ở
n
ộ
i
đ
ình,
đượ
c c
ấ
t nh
ắ
c làm H
ữ
u cung t
ầ
n th
ứ
5, r
ồ
i th
ă
ng Chánh n
ộ
i ph
ủ
.
Bà này có h
ọ
c hành và giáo d
ụ
c c
ẩ
n th
ậ
n, h
ầ
u chúa r
ấ
t
có tín nhi
ệ
m,
đượ
c chúa yêu quí nh
ấ
t. B
ằ
ng c
ứ
là bà
đă
sinh cho chúa 11 ng
ườ
i con, mùa thu n
ă
m Giáp Ng
ọ
(
1714) bà m
ấ
t
s
ớ
m. Chúa Nguy
ễ
n Phúc Chu th
ươ
ng nh
ớ
,
sai l
ậ
p đ
àn chay tr
ọ
ng th
ể ở
chùa Thiên M
ụ
và làm r
ấ
t nhi
ề
u th
ơ
v
ề
bà.
Nguy
ễ
n Phúc Chú sinh n
ă
m Bính T
ư
(
1696), là con bà c
ả
.
Lúc
đầ
u Phúc Chú
đượ
c trao ch
ứ
c Cai c
ơ Đỉ
nh th
ị
nh h
ầ
u. N
ă
m
Ấ
t Mùi (1715), th
ă
ng làm ch
ưở
ng c
ơ
,
làm ph
ủ đệ
t
ạ
i c
ơ
T
ả
Dùng.
Đế
n khi chúa Phúc Chu m
ấ
t, ông
đượ
c n
ố
i ngôi (n
ă
m
1725) khi 30 tu
ổ
i, l
ấ
hi
ệ
u là Vân Truy
ề
n
đạ
o nhân. Nguy
ễ
n Phúc Chú
ở
ngôi
đượ
c 13 n
ă
m thì m
ấ
t. Trong th
ờ
i k
ỳ
cầ
m quy
ề
n,
chúa không có gì n
ổ
i b
ậ
t ngoài hai vi
ệ
c:
N
ă
m Quí S
ử
u (1733), chúa cho
đặ
t
đồ
ng h
ồ
nh
ậ
p c
ủ
a Tây ph
ươ
ng
ở
các dinh và các
đồ
n tàu d
ọ
c bi
ể
n. Sau
đ
ó có Nguy
ễ
n
V
ă
n Tú
đă
ch
ế
t
ạ
o
đượ
c.
N
ă
m Bính Thìn (1736), M
ạ
c Cử
u m
ấ
t, con trai là M
ạ
c Thiên T
ứ đượ
c chúa Nguy
ễ
n cho làm
Đ
ô đố
c tr
ấ
n Hà Tiên. T
ứ
có
t
ầ
m m
ắ
t
nh́
n xa bi
ế
t r
ộ
ng: cho mi
ễ
n thu
ế
,
sai ba chi
ế
c thuy
ề
n Long bài, xu
ấ
t d
ươ
ng
t́
m mua các hàng qu
ư
hi
ế
m dâng n
ộ
p, m
ở
c
ụ
c
đ
úc ti
ề
n
để
ti
ệ
n vi
ệ
c trao
đổ
i. Thiên T
ứ
chia
đặ
t nha thu
ộ
c, kén b
ổ
quân ng
ũ
,
đắ
p thành l
ũ
y, m
ở
ph
ố
ch
ợ
,
khách buôn các
n
ướ
c
đế
n h
ọp đ
ông
đ
úc. Ông l
ạ
i
c̣
n v
ờ
i v
ă
n nhân thi s
ĩ
,
m
ỏ
Chiêu Anh các, ngày ngày cùng nhau gi
ả
ng bàn và x
ướ
ng ho
ạ
,
để
l
ạ
i 10 bài th
ơ
V
ị
nh c
ả
nh Hà Tiên (Hà Tiên th
ậ
p v
ị
nh). Sau h
ợ
p l
ạ
i thành t
ậ
p 320 bài c
ủ
a 25 tác gi
ả
Trung Qu
ố
c và 6 tác gi
ả
Vi
ệ
t Nam.
N
ă
m M
ậ
u Ng
ọ
(
1783) chúa Nguy
ễ
n Phúc Chú m
ấ
t, th
ọ
43 tu
ổ
i,
ở
ngôi 13 n
ă
m.
NGUY
Ễ
N PHÚC CHÚ (1725-1738)
Nguy
ễ
n Phúc Khoát là con Nguy
ễ
n Phúc Chú, sinh n
ă
m Giáp Ng
ọ
(
1714). M
ẹ
là ng
ườ
i h
ọ
Tr
ươ
ng
ở
huy
ệ
n T
ố
ng S
ơ
n,
Thanh Hoá, con ch
ưở
ng c
ơ
Tr
ươ
ng Phúc Phan. Vào h
ầ
u Phúc Chú t
ừ
khi
c̣
n ch
ư
a lên ngôi,
đượ
c phong H
ữ
u cung t
ầ
n. Tính
bà e l
ệ
cẩ
n th
ậ
n, d
ạ
y b
ả
o n
ộ
i ch
ứ
c có phong
độ
c
ủ
ah
ậ
u phi
đờ
i x
ư
a. Bà sinh
đượ
c 2 ng
ườ
i con trai r
ồ
i m
ấ
t n
ă
m bà m
ớ
i 22
tu
ổ
i.
Nguy
ễ
n Phúc Khoát là con tr
ưở
ng,
đượ
c phong làm ch
ưở
ng dinh Dinh ti
ề
n th
ủ
y chính h
ầ
u, làm ph
ủ đệ
t
ạ
C
ơ
Ti
ề
n D
ự
c
ở
D
ươ
ng Xuân. Phúc Chú m
ấ
t, Khoát
đượ
c lên ngôi khi 25 tu
ổ
i, l
ấ
y hi
ệ
u là T
ừ
T
ế đạ
o nhân.
Nguy
ễ
n Phúc Khoát b
ắ
t
đầ
u x
ư
ng v
ươ
ng. N
ă
m Giáp T
ư
(
1744)
đ
úc
ấ
n Qu
ố
c v
ươ
ng, sau
đ
ó, ngày K
ỷ
Mùi, lên ngôi vua
ở
ph
ủ
chính Phú Xuân, ban chi
ế
u b
ố
cáo thiên h
ạ
.
B
ộ
máy chính quy
ề
n t
ư
trên xu
ố
ng c
ơ s
ở
,
các ch
ứ
c danh, tên g
ọ
i c
ũ
ng thay
đổ
i theo: ph
ủ
chúa g
ọ
i là
Đ
i
ệ
n,
đổ
i ch
ữ
"
thân" làm ch
ữ
"
t
ấ
u" khi có vi
ệ
c c
ầ
n bàn v
ớ
i chúa. Tuy nhiên vua Nguy
ễ
n v
ẫ
n dùng
niên hi
ệ
u vua Lê trong các v
ă
n b
ả
n hành chính.
Đố
i v
ớ
i các thu
ộ
c qu
ố
c Cao Miên, Ai Lao, Xiêm l
ạ
i x
ư
ng là Thiên v
ươ
ng.
Tôn hi
ệ
u các
đờ
i tr
ướ
c c
ũ
ng
đượ
c nâng lên phù h
ợ
p v
ớ
i c
ươ
ng v
ị
m
ớ
i c
ủ
a Qu
ố
c v
ươ
ng.
Đố
i v
ớ
i anh em h
ọ
hàng g
ầ
n thì
phong t
ướ
c Qu
ậ
n công. Hoàng t
ử
v
ẫ
n x
ư
ng là Công t
ử
;
con trai tr
ưở
ng là Thái công t
ử,
c
ứ
theo th
ứ
t
ự
mà x
ư
ng.
Đặ
c bi
ệ
t
Nguy
ễ
n v
ươ
ng cho r
ằ
ng con trai khó nuôi, nên g
ọ
i là con gái và ng
ượ
c l
ạ
i gái thì g
ọ
i là trai.
Cùng v
ớ
i thay
đổ
i trên, tri
ề
u ph
ụ
c bách quan c
ũ
ng thay
đổ
i. Các
đơ
n v
ị
hành chính
đị
a ph
ươ
ng c
ũ
ng m
ộ
t phen thay
đổ
i.
T
ừ
n
ă
m Giáp Tu
ấ
t (1754)
để
x
ứ
ng
đ
áng là kinh
đ
ô c
ủ
a Nguy
ễ
n v
ươ
ng,
đượ
c xây d
ự
ng thêm hàng lo
ạ
t
đ
i
ệ
n
đ
ài m
ớ
i theo quy
mô
đế
v
ươ
ng: d
ự
ng hai
đ
i
ệ
n Kim Hoa và Quang Hoa, các gác Dao
Tŕ
,
Tri
ệ
u D
ươ
ng, Quang Thiên và các nhà T
ự
u L
ạ
c,
Chính Quan, Trung Hoà, Di Nhiên cùng các
đ
ài S
ướ
ng Xuân,
đ́
nh Th
ụ
y Vân, hiên
Đồ
ng L
ạ
c, an N
ộ
i Vi
ệ
n,
đ́
nh Giáng
H
ươ
ng.
Ở
th
ượ
ng l
ư
u sông H
ươ
ng có ph
ủ
D
ươ
ng Xuân,
đ
i
ệ
n Tr
ườ
ng L
ạ
c, hiên Duy
ệ
t V
ơ
,
ch
ạ
m v
ẽ
tinh x
ả
o. V
ườ
n h
ậ
u uy
ể
n
có non b
ộ, đ
á l
ạ
,
h
ồ
vuông, hào cong, c
ầ
u
ṿ
ng, th
ủ
y t
ạ
.
T
ườ
ng trong, t
ườ
ng ngoài
đắ
p r
ồ
ng, h
ổ,
lân, ph
ượ
ng, hoa c
ỏ.
Gác
Triêu D
ươ
ng nhìn xu
ố
ng
ḍ
ng sông, có quy mô nguy nga. Phía trên phía d
ướ
i
đ
ô thành
đề
u
đặ
t quân xá và
đệ
tr
ạ
ch. Cho công
h
ầ
u, chia ra t
ừ
ng ô nh
ư
bàn c
ờ
.
Phía ngoài thành thì ch
ợ
ph
ố
liên ti
ế
p, cây to um tùm, thuy
ề
n chài buôn bán
đ
i l
ạ
i nh
ư
m
ắ
c
c
ử
i. R
ơ
ràng d
ướ
i th
ờ
i chúa Nguy
ễ
n Phúc Khoát, kinh
đ
ô Phú Xuân tr
ở
thành n
ơ
i
đ
ô h
ộ
i l
ớ
n, v
ă
n v
ậ
t thanh dung l
ừ
ng l
ẫ
y,
đờ
i
tr
ướ
c ch
ư
a t
ừ
ng có.
Xây d
ự
ng xong kinh
đ
ô Chúa sai nhi
ề
u v
ă
n quan
đề
v
ị
nh phong c
ả
nh c
ố đ
ô. Phú Xuân tr
ở
thành m
ộ
t thành ph
ố
nên th
ơ
t
ừ
ngày
ấ
y. Chúa Nguy
ễ
n
đă đ
ón ti
ế
p các qu
ố
c v
ươ
ng láng gi
ề
ng
ở đấ
t Phú Xuân.
Nguy
ễ
n Phúc Khoát
đă
t
ự
x
ư
ng v
ươ
ng,
ở
ngôi
đượ
c 27 n
ă
m. N
ă
m
Ấ
t D
ậ
u (1765), qu
ố
c v
ươ
ng b
ă
ng, th
ọ
52 tu
ổ
i. Con trai
th
ứ
16 lên n
ố
i ngôi.
NGUY
Ễ
N PHÚC KHOÁT (1738-1765)