Tải bản đầy đủ (.pdf) (18 trang)

Dinh dưỡng với phụ nữ có thai doc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (120.05 KB, 18 trang )

186
DINH DƯỢNG
VỚI PHỤ NỮ CÓ THAI
K
hi một người phụ nữ mang thai, những người thân
đều cầu chúc cho được “mẹ tròn, con vuông”, ngụ ý
là sự sinh nở sẽ được thuận lợi, dễ dàng và cả mẹ lẫn con
đều bình an, khỏe mạnh.
Nhưng để đạt được như vậy, không chỉ dựa vào những lời
cầu chúc, mà còn phải cần đến rất nhiều yếu tố khách quan,
trong đó chế độ dinh dưỡng dành cho người phụ nữ có thai
đóng một vai trò rất quan trọng.
Trước khi mang thai, trong thời kỳ mang thai cũng như
khi cho con bú mà người mẹ có một chế độ dinh dưỡng đầy
đủ thì cả mẹ lẫn con đều tránh được một số bệnh tật, rủi ro.
Đứa con sẽ tròn trónh, đủ cân đủ lạng, cơ thể vẹn toàn, trí
óc phát triển tốt. Cũng có trường hợp mẹ thiếu dinh dưỡng
mà con vẫn khỏe, nhưng thực ra là người mẹ phải trả giá
đắt, vì khi thai nhi phát triển đã rút lấy nhiều chất dinh
dưỡng từ cơ thể người mẹ. Hơn nữa, sự khỏe mạnh của đứa
bé trong trường hợp này chắc chắn chưa phải là tối ưu, vì
bé còn có khả năng phát triển tốt hơn nữa nếu như người
mẹ có được một chế độ dinh dưỡng đầy đủ. Và chỉ khi đó
mới có thể thực sự được xem là “mẹ tròn, con vuông”, tốt
đẹp cho cả mẹ lẫn con.
Từ thû xa xưa, các danh y như
Hippocrates (460-377
trước Công nguyên),
Galen (129-199) đã nhận thấy rằng
Dinh dưỡng và điều trò
188


1. Hệ tuần hoàn
– Lượng máu lưu thông tăng lên 1/3.
– Nhòp tim tăng nhanh, từ 70 lên 85 nhòp một phút.
– Khối lượng máu trong cơ thể từ 4 lít tăng lên 5,2 lít;
– Khối huyết tương tăng 40%.
– Hồng cầu tăng 18%.
Các gia tăng này đều là để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng
cho người mẹ và thai nhi.
2. Tuyến nội tiết
Có nhiều thay đổi quan trọng
a. Nang thượng thận tăng sản xuất
hormon aldosterone
để giữ nước và muối trong cơ thể nhiều hơn cho nhu
cầu của thai nghén.
b.
Estrogen và progesteron từ noãn sào gia tăng để bảo
vệ thai nhi, tránh sẩy thai trong hai tháng đầu.
c. Lượng đường cao hơn trong máu người mẹ để nuôi thai
nhi,
insulin từ tụy tạng gia tăng để kiểm soát ổn đònh
mức đường.
d. Tuyến giáp hơi lớn lên để tăng hấp thụ khoáng
iod.
đ.
Progesteron, estrogen, human chorionic gonadotropin
từ nhau được sản xuất để duy trì thai trong 8 tuần lễ
đầu.
e. Sau khi sinh con, tuyến yên tăng sản xuất
prolactin để
kích thích việc tiết sữa cho con bú.

3. Hệ tiêu hóa
Thực phẩm lưu lại dạ dày và ruột lâu hơn để được tiêu
hóa kỹ và sự hấp thụ chất dinh dưỡng cao hơn cho nhu cầu
Dinh dưỡng và điều trò
190
dùng toàn đạm thực vật sẽ có nguy cơ thiếu một vài loại
acid amin cần thiết.
Một cách cụ thể, nếu người mẹ uống hai ly sữa, ăn một
miếng thòt nạc, miếng cá bằng lòng bàn tay, kèm theo các
loại hạt, rau là có thể đủ cho nhu cầu trong ngày.
b. Carbohydrat
Vì chất đạm được dùng cho sự tăng trưởng tế bào, nên
carbohydrat sẽ là nguồn năng lượng chính cho mẹ và con.
Carbohydrat nên được sử dụng đa dạng từ gạo còn cám,
bánh mì, bột ngũ cốc bổ sung các loại
vitamin, rau, trái
cây, khoai
c. Chất béo
Chất béo rất cần thiết cho sự phát triển của não bộ thai
nhi cũng như là nguồn năng lượng quan trọng.
d. Nước
Nước cần để gia tăng khối lượng máu; tránh khô da, táo
bón cũng như tạo ra nước ối che chở phôi thai.
đ. Vitamin A
Vitamin A giúp da lành mạnh, thò giác tốt và xương mau
lớn.
Nhu cầu
vitamin A khi mang thai không cần gia tăng,
chỉ cần giữ đủ như mức bình thường là khoảng 750mcg mỗi
ngày. Lượng

vitamin A này có thể dễ dàng có được trong
phó mát, sữa, bơ, các loại rau trái
Dinh dưỡng và điều trò
192
thai hoặc sinh con nhẹ ký. Nếu chỉ thiếu folacin (acid folic)
thì thai nhi dễ bò tật nứt đốt sống (
spina bifida), khuyết tật
ống thần kinh (
neural tube defect).
Nhu cầu
folacin của người mẹ tăng gấp đôi bình thường
hoặc hơn nữa, vào khoảng 400mcg mỗi ngày. Số lượng này
được cung cấp đầy đủ trong rau lá xanh, trái cây, gan Nếu
nhiều
folacin quá thì sự hấp thụ kẽm sẽ giảm.
Nhu cầu vitamin B
12
bình thường là 2mcg - 4mcg, khi
có thai cần thêm khoảng 0,2mcg mỗi ngày.
Vitamin B
12

nhiều trong thực phẩm động vật, nên với những người ăn
chay cần uống bổ sung.
i. Vitamin C
Nhu cầu vitamin C bình thường là 60mg mỗi ngày. Khi
mang thai, người mẹ cần tăng thêm khoảng 10mg. Chỉ cần
uống một ly nước cam là có thể đáp ứng đủ nhu cầu này.
Vitamin C giúp thai nhi phát triển tốt xương và răng lợi,
tăng cường hấp thụ khoáng

calci và sắt.
k. Sắt
Sắt là khoáng chất cần thiết cho việc tạo hồng cầu. Nhu
cầu sắt lên cao nhất vào 3 tháng cuối của thai kỳ, khi thai
nhi cần sắt để dự trữ cho khoảng 6 tháng sau khi sinh, vì
trong sữa mẹ có rất ít sắt.
Thai nhi ít khi bò thiếu sắt vì có thể lấy ở người mẹ,
nhưng cũng vì thế mà người mẹ dễ bò thiếu sắt nếu không
ăn đầy đủ, và sẽ dẫn đến thiếu máu.
Nhu cầu sắt bình thường là 15mg, khi có thai người mẹ
Dinh dưỡng và điều trò
194
trầm trọng thì người mẹ có thể bò bướu cổ (lớn tuyến giáp),
hormon tuyến giáp giảm và đến lượt thai nhi bò ảnh hưởng.
Đứa con sinh ra có thể sẽ bò đần độn, thiểu năng tuyến giáp
bẩm sinh, chậm phát triển trí tuệ, da và nét mặt thô, xương
thiếu khoáng chất và cơ thể lùn thấp. Những đứa trẻ này sẽ
cần phải uống
hormon tuyến giáp suốt đời.
Dùng muối
iod và hải sản đều có thể giúp tránh được sự
thiếu hụt khoáng chất này.
Các bệnh thường gặp
1. Bệnh tiểu đường
Khi mang thai, một số
hormon liên hệ tới thai nghén
như
estrogen, human chorionic gonadotropin, lactogen của
nhau (
placenta) được tiết ra. Các hormon này làm giảm tác

dụng của
insulin khiến tụy phải làm việc nhiều hơn để sản
xuất thêm. Nếu
insulin sản xuất không đủ thì dấu hiệu của
bệnh tiểu đường sẽ xuất hiện. Ở một số người, hiện tượng
này mất đi sau khi sinh, nhưng hơn 50% trường hợp có
nhiều nguy cơ mắc bệnh tiểu đường trong tương lai.
Mọi phụ nữ có thai đều nên được kiểm tra kỹ các dấu
hiệu của bệnh này, vì nếu không phát hiện hoặc không điều
trò sẽ có nhiều nguy cơ tử vong cho cả mẹ lẫn con.
Người mẹ có thể bò nhiễm độc, rút ngắn thai kỳ (sinh
non), huyết áp cao cộng với các biến chứng thông thường
của tiểu đường như bệnh võng mạc, thận, dây thần kinh.
Thai nhi có thể bò khuyết tật thần kinh, bệnh tim hoặc
kém phát triển cột sống.
Tiểu đường do thai nghén thường xảy ra vào giữa thời kỳ
Dinh dưỡng và điều trò
196
tháng cuối của thai kỳ vì khối lượng máu của người mẹ gia
tăng. Hiện tượng này là bình thường và sẽ mất dần đi sau
khi sanh khoảng một tuần.
Nhưng nếu ứ đọng chất lỏng ở các phần khác của cơ thể
kèm theo huyết áp lên cao, nước tiểu có nhiều
ure thì lại là
điều cần quan tâm. Đây có thể là dấu hiệu của chứng
tiền
sản kinh
(preeclampsia), đôi khi tiếp tục đưa tới sản kinh
(eclampsia), một tình trạng hiếm gặp nhưng cực kỳ nghiêm
trọng, có thể đe dọa tính mệnh của cả mẹ lẫn con. Khi thấy

có các dấu hiệu này, người bệnh cần thông báo ngay cho
bác só điều trò.
4. Thiếu máu
Số lượng hồng cầu và
hemoglobin trong máu của người
có thai thường ở dưới mức trung bình. Nguyên nhân thông
thường là do thiếu chất sắt trong thực phẩm hoặc thiếu các
yếu tố khác như đạm,
vitamin B
6
, B
12
, C, folacin, khoáng
chất đồng, hoặc do mất máu mà không được thay thế.
Dinh dưỡng với đầy đủ khoáng chất sắt trong thực phẩm
(nhất là thòt, gan) là điều cần thiết. Đôi khi bác só cũng cho
uống thêm từ 30 - 60mg sắt mỗi ngày.
5. Sụt cân hoặc tăng cân
Khi người mẹ sụt cân đến hơn 15% trọng lượng cơ thể thì
dễ bò bệnh tim, phổi, thiếu hồng cầu, nhau thai sẽ nhỏ và
nhẹ, ít phần tử tiếp nhận dinh dưỡng và thải chất bã, do đó
có tác dụng xấu cho thai nhi.
Nhưng tăng cân quá mức cũng không tốt, có thể đưa tới
huyết áp cao, tiểu đường, thai nhi quá lớn. Thai nhi đến
thời điểm ra đời mà nặng trên 4,5kg cũng có rủi ro bệnh
Dinh dưỡng và điều trò
198
Chỉ được dùng thuốc chống acid khi có hướng dẫn của
thầy thuốc.
7. Táo bón

Vào những tháng cuối của thai kỳ, nhiều bà mẹ than
phiền bò táo bón. Phân thường rắn và vài ngày mới đại tiện
một lần.
Nguyên nhân có thể là do thai lớn, tạo sức ép vào hệ
tiêu hóa hoặc do giảm sức căng của bắp thòt vùng bụng nên
sự tiêu hóa thực phẩm chậm lại, phân nằm ở đại tràng lâu
hơn.
Để giảm bớt táo bón, khi mang thai nên uống nhiều
nước, ăn nhiều rau trái có chất xơ, ngũ cốc, gạo lức và
năng vận động cơ thể theo chỉ dẫn của thầy thuốc.
Chỉ dùng thuốc nhuận tràng khi có hướng dẫn của thầy
thuốc để tránh tác dụng phụ.
Một triệu chứng khác là người mẹ mang thai đến cuối
thai kỳ thường hay tiểu tiện nhiều lần hơn, vì thai ép vào
bàng quang, làm căng lên và gia tăng nhu cầu tiểu tiện.
8. Nôn ói
Triệu chứng này thường xảy ra vào tháng đầu của thai
kỳ, khi
hormon human chorionic gonadotropin lên cao để
giúp noãn sào thụ tinh làm tổ ở dạ con. Đến tháng thứ tư,
hormon này giảm thì nôn ói cũng giảm theo.
Nôn ói có thể xảy ra bất cứ lúc nào trong ngày, nhưng
thường nhất là vào sáng sớm, khi vừa thức dậy. Có người bò
nhiều, có người chỉ bò nhẹ trong ít ngày.
Không có thuốc và cũng
không nên dùng thuốc để giải
Dinh dưỡng và điều trò
200
Một số rủi ro khi mang thai
Một số thói quen không tốt có thể đưa tới rủi ro cho thai

nhi và người mẹ:
1. Rượu
Các chuyên gia đều đồng ý rằng, không có một lượng
rượu nào có thể gọi là an toàn cho người mẹ đang mang
thai. Người mẹ nghiện rượu sẽ đưa tới nhiều rủi ro bất
thường cho thai nhi, mà hội chứng “khuyết tật” là rõ ràng
nhất. Trẻ sinh ra nhẹ cân, ngắn chiều cao, đầu mỏ, mũi
rộng Khi lớn lên, những đứa bé này sẽ chậm phát triển
trí tuệ và mọi chức năng cơ thể.
Lý do là vì rượu từ máu người mẹ sẽ qua nhau thai đi vào
thai nhi, hòa trong máu và tế bào. Vì thai nhi chưa có loại
enzym cần thiết để phân hủy rượu nên rượu gây ra hậu quả
xấu cho não bộ, nhất là vào thời kỳ đầu của thai kỳ, khi hệ
thần kinh đang được kiến tạo.
Vì thế, tốt nhất là khi có thai không nên uống bất kỳ
loại rượu bia nào, dù là với một lượng rất nhỏ.
2. Thuốc lá
Carbon monoxyd (CO) trong khói thuốc lá bám vào
hemoglobin trong máu, gây trở ngại cho sự chuyên chở oxy.
Do đó, thai nhi sẽ bò giảm
oxy, sinh ra nhẹ cân, chậm học
hỏi. Thuốc lá cũng làm cho người mẹ thiếu
oxy, tim phải
làm việc nhiều hơn, dễ bò sẩy thai. Khi hút thuốc nhiều,
người mẹ cũng ăn uống ít hơn nên suy dinh dưỡng.
Dinh dưỡng và điều trò
202
5. Ăn kiêng khem để bớt mập
Nếu người mẹ đang mang thai áp dụng một chế độ ăn
uống kiêng khem để giảm cân, sẽ có nhiều nguy cơ thiếu

dinh dưỡng cho cả mẹ lẫn con. Ngay cả những phụ nữ không
có thai mà giảm ăn uống cũng không tốt, có thể đưa tới rối
loạn kinh nguyệt, không có trứng rụng, vô sinh.
6. Cà phê
Một số nghiên cứu cho rằng người mẹ mang thai uống cà
phê ở mức dưới 200mg mỗi ngày thì không có ảnh hưởng
xấu cho thai nhi. Nếu sử dụng trên 500mg mỗi ngày thì thai
nhi có thể bò ảnh hưởng như nhẹ cân, vòng đầu nhỏ.
Tuy nhiên, các chuyên gia y tế đều khuyên những bà mẹ
khi mang thai nên tránh dùng cà phê.
Kết luận
Dinh dưỡng đóng vai trò rất quan trọng trong thai nghén.
Với thai nhi, đã có câu nói “
Mẹ ăn sao thì con là vậy”. Chế
độ dinh dưỡng dành cho người mẹ có được đầy đủ thì đứa
con mới bụ bẫm, kháu khỉnh, trí tuệ tinh anh, mau lớn, còn
người mẹ thì duy trì được sức khỏe, đủ sức chăm sóc tốt cho
con và vui với gia đình.
Dinh dưỡng và điều trò
204
sinh lại có đầy đủ chất dinh dưỡng. “Thì hà cớ gì phải ngồi
vạch áo cho con bú, hở bác? Vừa mắc cỡ lại xấu người đi.”
Cô cháu tân thời của tôi nói vậy. Chả hiểu cô ta nói đùa
hay nói thật.
Nhưng có lẽ chẳng phải một mình cháu nói vậy, mà
nhiều bà mẹ bây giờ cũng nghó như thế.
Ngày nay, chỉ vài tuần sau khi sinh là các bà mẹ đều
phải trở lại với công việc làm ăn, không có nhiều thì giờ
ngồi cho con bú. Nên cái tập tục cao đẹp ôm con vào lòng,
cho con bú cũng dần dần đi vào dó vãng. Nhất là với những

người dân thành thò.
Và nhất là tại các quốc gia văn minh, kỹ nghệ.
Tại Hoa Kỳ, cách đây hơn nửa thế kỷ, có khoảng 65% trẻ
sơ sinh được ôm bầu sữa mẹ. Đến cuối thế kỷ vừa qua thì
con số trẻ em may mắn đó tụt xuống còn 25%. Cũng có một
số bà mẹ có lý do chính đáng như ít sữa, không đủ cho con
bú, hoặc đau bệnh, kém sức khỏe Nhưng cũng có nhiều
người là vì không được hướng dẫn về lợi ích của dòng sữa
mẹ.
Từ thû tạo ra loài người, Thượng Đế đã tin cậy giao cho
phụ nữ cái trọng trách mang thai, sinh con rồi cho con bú.
Do đó họ mới được Thượng Đế ban cho cặp nhũ hoa bầu
bónh đầy ắp sữa.
Sữa mẹ là thực phẩm hoàn toàn thích hợp cho sự tăng
trưởng của bé mới sinh. Sữa bò có nhiều
calci và chất đạm
khác cần cho con bê mau lớn, biết đi. Còn trẻ sơ sinh lại
cần tăng trưởng não bộ và dây thần kinh nhiều hơn, và
sữa mẹ cung cấp những chất dinh dưỡng đúng với nhu cầu
này.
Dinh dưỡng và điều trò
206
nhiều kháng thể giúp con chống trả với một số bệnh
thường mắc phải trong thời gian mấy tháng đầu.
3. Sữa mẹ là nguồn thực phẩm tự nhiên, hoàn toàn tinh
khiết và lúc nào cũng được giữ ở nhiệt độ thích hợp,
sẵn sàng khi con cần đến. Người mẹ không cần phải
quan tâm đến bình sữa, nơi cất sữa, đồ pha sữa, đun
nấu nước sôi
4. Sữa mẹ có thành phần hóa học đặc biệt thích hợp với

cơ thể trẻ sơ sinh mà khoa học cho đến nay vẫn không
thể tạo ra được. Sữa mẹ có đủ chất dinh dưỡng, từ chất
đạm, chất béo,
vitamin, khoáng chất Sữa mẹ lại dễ
tiêu hóa và dễ hấp thụ. Chất béo trong sữa mẹ thuộc
nhóm chưa bão hòa nên rất tốt cho trẻ.
6. Sữa mẹ thường ít đóng cục hơn sữa bò nên ít khi gây
ra táo bón, tiêu chảy hoặc dò ứng.
7. Đặc biệt sữa mẹ có nhiều kháng thể chống lại một số
bệnh tật. Trẻ sơ sinh bú sữa mẹ được hưởng sự miễn
dòch tự nhiên đối với các bệnh như bại liệt, bệnh do
các vi khuẩn
E. Coli, Salmonella, Shigella gây ra cho
hệ tiêu hóa.
8. Cho con bú sữa mẹ rất an toàn, không bò nhiễm hóa
chất, kháng sinh, lại không phải mất tiền mua các
loại sữa đặc biệt dành cho trẻ sơ sinh. Hơn nữa, ngay
cả loại sữa đắt tiền nhất cũng vẫn không tốt bằng sữa
mẹ.
9. Khi bú sữa mẹ, em bé thường tự nhả núm vú khi no
bụng. Như vậy tránh được trường hợp bú quá nhiều
Dinh dưỡng và điều trò
208
Mỗi tuần đều nên theo dõi mức tăng cân của trẻ.
Một vài vấn đề cần lưu ý
1. Sữa mẹ thường có rất ít
vitamin A và các khoáng
chất sắt, đồng. Thường thì không gây tác hại gì, vì
cơ thể trẻ đã dự trữ một số lớn các chất này đủ dùng
trong khoảng 6 tháng đầu tiên. Nhưng nếu chế độ

dinh dưỡng trong thời gian mang thai kém, trẻ sinh
ra nhẹ ký, người mẹ cần lưu ý bổ sung đầy đủ các chất
dinh dưỡng này trong thời gian cho con bú.
2. Đôi khi người mẹ có thể không đủ sữa cho con bú. Tuy
nhiên, trường hợp này ít khi xảy ra, trừ phi người mẹ
mắc một bệnh nào đó gây ra thiếu sữa, tắt tuyến sữa
Nếu thiếu sữa kéo dài, cần cho trẻ bú dặm thêm sữa
bình.
Chế độ dinh dưỡng cho người mẹ
Trong khi nuôi dưỡng con bằng sữa của mình thì người
mẹ cũng cần lưu tâm tới chế độ dinh dưỡng đầy đủ cho bản
thân. Người mẹ phải tăng thêm khẩu phần ăn, cân đối đa
dạng các loại thực phẩm như thòt, cá, trứng, sữa, rau trái và
các loại
vitamin, khoáng chất. Nước uống khoảng 2 lít mỗi
ngày để bù đắp lại số chất lỏng chuyển sang sữa.
Ngay sau khi sinh, nếu người mẹ không phải uống thuốc,
bé chào đời bình thường khỏe mạnh, thì có thể cho con bú
mỗi bên vú vài phút. Những giọt sữa non (
colustrum) rất là
quý giá vì có nhiều chất bổ dưỡng cũng như kháng thể.
Dinh dưỡng và điều trò
210
của em bé. Vì thế, khi sử dụng bất cứ loại thuốc nào
cũng cần phải tham khảo ý kiến của bác só điều trò để
biết là có nên tiếp tục cho con bú hay không.
Khi dùng các thuốc sau đây thì không cho con bú:
– Thuốc
atropin, thuốc warfarin chống đông máu.
– Thuốc chữa bệnh tuyến giáp.

– Thuốc chữa ung thư.
– Thuốc có chất á phiện.
– Kháng sinh
tetracyclin, metronidazole và nhiều thuốc
khác.
Cafeine, nicotine với lượng nhỏ có thể không sao, nhưng
nếu nhiều thì sẽ có tác dụng không tốt đến em bé.
Kết luận
Sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng quý giá mà tạo hóa ban
tặng cho con người. Mỗi con người chỉ có được một thời gian
rất ngắn ngủi để tận hưởng dòng sữa mẹ. Thật không may
khi vì bất cứ lý do nào đó mà một đứa trẻ sinh ra không
được nuôi bằng những giọt sữa ngọt của mẹ hiền. Ngoài sự
bất lợi về mặt dinh dưỡng, trẻ lớn lên thiếu sự vuốt ve trìu
mến và gần gũi với người mẹ cũng sẽ có một tâm lý khởi
đầu cuộc sống không tốt lắm. Vì thế, những bậc làm cha mẹ
nên hiểu rõ và cân nhắc tất cả những ưu điểm của việc nuôi
con bằng sữa mẹ, đừng vì thiếu hiểu biết mà để cho đứa con
thân yêu của mình phải chòu một sự thiệt thòi không gì có
thể bù đắp được.
Dinh dưỡng và điều trò
212
thức thông thường nhất mà người mẹ cần biết để có thể
nuôi dưỡng con thật tốt.
1. Nên cho trẻ bú loại sữa nào?
Trong 6 tháng đầu tiên, chỉ cho con bú sữa mẹ là tốt
nhất. Trừ phi vì một lý do nào đó mà người mẹ không đủ
sữa để thỏa mãn nhu cầu của con hoặc không thể cho con bú
thì mới chọn một loại sữa đặc biệt dành cho trẻ sơ sinh để
bổ sung hoặc thay thế. Hiện nay, dạng sữa phổ biến nhất

được dùng là sữa hộp ở dạng bột (
formula), có nhiều loại
khác nhau, được chế biến theo yêu cầu cung cấp đầy đủ chất
dinh dưỡng thích hợp cho từng độ tuổi, từ sơ sinh cho đến
các dộ tuổi lớn hơn.
Sữa bò đóng hộp hoặc sữa tươi chưa pha loãng có nhiều
chất đạm, muối khoáng, ít
carbohydrat. Loại sữa này thích
hợp với sự phát triển cơ thể rất nhanh của loài vật, và khó
tiêu hóa đối với cơ thể của trẻ em. Nghiên cứu cho thấy
rằng một con bê chỉ cần khoảng 50 ngày để tăng cân gấp
đôi so với lúc mới sinh ra, trong khi đó trẻ con lớn chậm
hơn nhiều, chỉ có thể tăng cân gấp đôi sau khi sinh khoảng
150 ngày.
Nếu phải dùng sữa bò như sự chọn lựa bắt buộc thì cần
pha loãng tùy theo độ tuổi của trẻ.
Nhiều đứa trẻ bò dò ứng hoặc không dung nạp sữa bò thì
có thể thay thế bằng loại sữa chế từ đậu nành.
Dinh dưỡng và điều trò
214
số lần giảm đi. Chẳng hạn, 5 tháng tuổi thì 4, 5 lần một
ngày; tới 9 tháng thì rút xuống còn 3 lần. Nếu trẻ được bú
hoàn toàn là sữa mẹ thì số lần cần tăng lên, vì sữa mẹ rất
dễ tiêu hóa, trẻ sẽ mau đói.
4. Thực phẩm cho con: mua sẵn hay làm lấy?
Nâng niu bú mớm đêm ngày,
Công cha nghóa mẹ coi tầy biển khơi.
Bú mớm là hình thức nuôi con của các cụ ta khi xưa. Sữa
từ bầu vú mẹ, thức ăn thì mẹ nhai rồi mớm cho con, cho
tới khi con ăn thức ăn đặc được. Thực là cả một công trình

mà chỉ tình thương người mẹ mới làm được cho con mình.
Những người mẹ ngày nay chúng ta không làm giống như
các cụ xưa kia, một phần vì sự thay đổi quan niệm trong
cách nuôi con, một phần vì sẵn có những loại sữa và thực
phẩm rất tiện dụng và đầy đủ dinh dưỡng.
Thực phẩm được chế biến sẵn có rất nhiều loại, thích
hợp cho trẻ ở từng độ tuổi khác nhau, người mẹ chỉ việc
chọn mua loại nào thích hợp với độ tuổi và tình trạng sức
khỏe của con mình. Và việc nuôi trẻ bằng những loại thực
phẩm này rất dễ dàng và tiện lợi.
Các thực phẩm này có những đặc điểm chung như sau:
a. Dựa theo thành phần trong sữa mẹ nên có đầy đủ chất
dinh dưỡng.
b. Tuân thủ các tiêu chuẩn vệ sinh và an toàn thực phẩm,
được kiểm nghiệm kỹ trước khi lưu hành nên rất an
toàn khi sử dụng.
Dinh dưỡng và điều trò
216
tự nhiên mà đứa trẻ nào cũng có. Từ sơ sinh cho đến 3, 4
tháng tuổi, miệng bé chưa sẵn sàng để nhận thực phẩm
đưa vào, chỉ biết ngậm núm vú. Vì thế, cho ăn thực phẩm
đặc bằng thìa sẽ bò đẩy ra và cũng khiến bé khó chòu. Sau 4
tháng tuổi, môi miệng đủ sức mạnh để khép kín miệng và
việc ăn bằng thìa có thể thực hiện được. Đồng thời ở tuổi
này, trẻ có thể ngồi vững, há miệng đón thức ăn.
Như vậy, về mặt khả năng thì trẻ có thể bắt đầu ăn
thực phẩm đặc từ khoảng sau 4 tháng tuổi. Tuy nhiên, các
nghiên cứu cho thấy là hệ tiêu hóa của trẻ vẫn chưa thực
sự đủ sức để tiếp nhận thức ăn đặc, bao gồm cả khả năng
tiêu hóa và hấp thụ dinh dưỡng trong thức ăn. Vì thế, lời

khuyên chung của tất cả các chuyên gia dinh dưỡng và y
tế là
chỉ nên bắt đầu cho trẻ ăn dặm với thức ăn đặc kể
từ sau 6 tháng tuổi
. Từ sơ sinh cho đến 6 tháng tuổi, điều
kiện dinh dưỡng lý tưởng nhất vẫn là sữa mẹ, hoặc nếu
không được vậy thì có thể bổ sung thêm bằng các loại sữa
đặc biệt dành cho trẻ sơ sinh. Sau 6 tháng tuổi, vẫn tiếp
tục cho trẻ bú sữa mẹ, nhưng có thể bắt đầu cho trẻ ăn dặm
thêm một ít thức ăn trong ngày.
Thức ăn dặm cho trẻ nên bắt đầu với các loại bột ngũ
cốc. Có thể là bột gạo lức, các loại đậu như đậu xanh, đậu đỏ
và hầu hết đều được bổ sung các
vitamin và khoáng chất, rất
dễ tiêu hóa.
Không cho trẻ ăn bằng cách pha loãng bột rồi cho vào
bình. Tốt nhất là tập cho trẻ làm quen dần với việc ăn bằng
thìa và với thực phẩm có độ đậm đặc tăng dần.
Dinh dưỡng và điều trò
218
tiếp trong vài ngày để trẻ phân biệt và làm quen với hương
vò mới. Nên làm chín thòt, gan, cá bằng những phương
pháp như luộc, hấp, nấu nhừ nhưng tránh không chiên,
rán với nhiều dầu mỡ.
Lòng đỏ trứng cũng có thể bắt đầu cho trẻ ăn vào sau 6
tháng tuổi, bắt đầu chỉ với một thìa nhỏ rồi tăng dần cho
tới một lòng đỏ trứng mỗi ngày.
Lòng trắng trứng có thể gây dò ứng cho trẻ, chỉ nên cho
ăn khi đã lớn hơn nhiều và phải dè dặt theo dõi lần ăn đầu
tiên.

8. Có nên cho bé tự ăn một mình?
Khi đủ lớn để tự cầm thìa xúc thức ăn đưa vào miệng, trẻ
thường rất thích làm việc này. Nhiều bà mẹ ngại không cho
trẻ tự ăn, vì trẻ thường làm đổ thức ăn vương vãi cũng như
để thức ăn dính vào tay chân, mặt mũi
Tuy nhiên, để cho trẻ tự ăn một mình là điều cần thiết
để giúp trẻ phát triển nhanh các kỹ năng vận động. Cử
động của trẻ sẽ ngày càng khéo léo hơn khi có điều kiện để
vận động theo ý muốn, còn nếu ngăn không cho trẻ tự làm
một số việc, trẻ sẽ chậm phát triển hơn.
Mặc dù vậy, chỉ nên cho trẻ tự ăn một mình dưới sự

giám sát” theo dõi chặt chẽ của người mẹ. Trước hết, phải
tắm rửa cho trẻ thật sạch sẽ trước khi ăn, vì thật ra trẻ
không chỉ ăn bằng thìa mà còn rất thích dùng tay bốc thức
ăn cho vào miệng. Thức ăn rơi xuống lấm bẩn cần lấy đi
Dinh dưỡng và điều trò
220
trẻ ăn được không phải là ít. Chỉ vì cha mẹ luôn muốn cho
trẻ ăn
nhiều hơn nên mới thấy rằng lượng thức ăn như thế
là ít.
Tuy nhiên, có những trường hợp mà trẻ thực sự biếng
ăn, không chòu ăn đủ lượng dinh dưỡng cần thiết, khiến cho
các bậc cha mẹ rất lo ngại nhưng không biết làm sao để trẻ
chòu ăn nhiều hơn. Sau đây là một số gợi ý có thể giúp trẻ
ăn ngon hơn, và nhờ đó có thể ăn nhiều hơn:
a. Bữa ăn cần có không khí thoải mái, thân thiện, không
ép trẻ ngồi gò bó trên ghế.
b. Khích lệ trẻ bằng những trò vui, vừa chơi vừa ăn, bằng

thực phẩm nhiều màu sắc, hương vò khác nhau.
c. Để trẻ được thoải mái, tự khám phá món ăn với các
giác quan của mình, sờ mó món ăn, ngửi món ăn, nếm
thử món ăn Tất nhiên là phải đảm bảo các điều kiện
vệ sinh trước khi cho trẻ ăn.
d. Cho trẻ ăn nhiều món ăn khác nhau từ khi bé được 7
– 8 tháng tuổi, để trẻ quen với nhiều loại thức ăn;
đ. Có khi trẻ thích món này mà không thích món kia,
không nên ép trẻ ăn những món không thích. Có thể
vào thời gian khác trẻ lại thay đổi khẩu vò và sẽ thích
món đó.
e. Không nên cho thuốc bổ, thuốc trò bệnh vào thức ăn, vì
mùi vò thay đổi và làm trẻ thấy e ngại khi ăn.
e. Không cố ép trẻ ăn hết phần ăn, khi trẻ không thích
sẽ nôn ọe. Lấy thức ăn vừa đủ, không quá nhiều có thể

×