Răng khôn hay 'dại'?
Nằm phía trong cùng của hàm răng, răng khôn hay còn gọi
là răng số 8 là răng mọc cuối cùng của mỗi người. Đây là
răng gây nhiều tranh cãi bởi vì chức năng của nó không rõ
ràng nhưng những phiền toái mà nó mang lại rất phổ
biến.
Trên thực tế, cho đến nay, ngoại trừ các răng khôn mọc
lệch hoặc ngầm cần phải nhổ, người ta vẫn chưa biết trước
được liệu răng khôn mọc thẳng có gây biến chứng hay
không? Một số nha sĩ khuyên nên nhổ bỏ răng khôn dù
chiếc răng này chưa gây khó chịu cho bạn. Mặc dù có các
quan điểm khác nhau, song bạn cũng cần hiểu rõ những lợi
ích hoặc bất lợi có thể xảy ra khi giữ lại hay nhổ bỏ răng
khôn.
Vì sao lại phiền toái?
Trong quá trình tiến hóa, xương hàm của con người bé dần,
phần lớn chỉ đủ chỗ cho 28 răng, 14 răng hàm trên và 14
răng hàm dưới. Nhưng thực tế, con người có tới 32 răng vì
thêm 4 răng khôn, 2 ở hàm trên và 2 ở hàm dưới, mọc sau
cùng, thường vào độ tuổi từ 17 - 25. Phiền toái xảy ra khi
những chiếc răng mọc sau cùng này không đủ chỗ để mọc
theo hướng bình thường mà tự tìm đường khác, ví dụ như
mọc ngược về phía xương hàm hoặc đâm thẳng về phía
răng số 7 và gây hại cho cả hàm răng.
Quá trình mọc 2 răng khôn hàm trên thường diễn ra bình
thường. Riêng 2 răng khôn hàm dưới, do xương hàm dưới
hẹp nên rất hay mọc lệch. Nó có thể lệch về phía trước, húc
vào răng số 7 hoặc lệch ra má, vào phía dưới, chìm trong
xương hàm, có lợi trùm hoặc bị cả xương và lợi che lấp
(gọi là răng mọc ngầm). Hoặc là răng khôn cùng chung lá
mầm với răng số 7.
Khi mọc, răng số 7 kéo mầm răng số 8 hướng về gần, dễ
gây tư thế lệch gần. Khi răng khôn mọc ở tư thế gần, nó sẽ
húc vào răng số 7 và gây các tai biến như lợi trùm. Khi ăn
uống, vun thức ăn giắt vào túi lợi, gây viêm túi lợi có mủ.
Người bệnh bị đau ở vùng răng khôn, vướng, khó nhai, có
khi sốt. Nếu viêm lan rộng, bệnh nhân có thể sưng to một
bên mặt, vùng lợi ở góc hàm căng đỏ, trên mặt có mủ, rất
đau, không há được miệng, không ăn uống được. Nếu
không xử lý kịp thời, viêm túi mủ răng khôn có thể chuyển
thành viêm phần mềm xung quanh, áp xe hoặc viêm tổ
chức liên kết lan tỏa, có thể lan vào xương hàm, gây cốt tủy
viêm xương hàm Đối với những trường hợp nhẹ hơn,
vùng răng khôn mọc lệch đầu đau âm ỉ mấy ngày rồi hết.
Nếu răng khôn mọc lệch húc vào răng số 7 gây sâu răng, kẽ
răng ở đây bị viêm lâu ngày sẽ gây tiêu xương. Cuối cùng
răng số 7 cũng bị viêm tủy, viêm quanh cuống răng và lung
lay, phải nhổ bỏ, làm giảm hẳn sức nhai vì số 7 và số 6 là
hai răng chủ lực nhai của hàm (Trong một số trường hợp
khi những bất thường của răng khôn không được chữa kịp
thời, nhiễm trùng lây lan sang các khu vực xung quanh như
mang tai, má, mắt, cổ gây nguy hiểm đến tính mạng). Do
đó, nếu bạn ở độ tuổi 23 - 25 mà răng số 8 mới chỉ nhìn
thấy một phần của răng thì gần như chắc chắn là răng khôn
của bạn đã mọc lệch.
Có nên giữ lại?
Đây là vấn đề còn gây nhiều tranh cãi trong giới nha sĩ.
Nếu răng khôn mọc bình thường thì việc giữ lại những
chiếc răng khôn này có lợi. Trước hết là việc còn nguyên
hàm răng, giúp cho bạn có bộ răng khỏe và thực hiện được
đầy đủ các chức năng. Thứ nữa là bạn không phải trải qua
bất cứ cuộc phẫu thuật nào, dù là tiểu phẫu. Và cuối cùng là
giúp phục hình răng trong trường hợp mất răng số 7. Chiếc
răng khôn mọc thẳng này có thể được dùng làm trụ để phục
hình cầu răng của bạn.
Tuy nhiên, nếu chiếc răng khôn xảy ra biến chứng thì sao?
Có nên giữ lại? Câu trả lời là không. Các nha sĩ đã chỉ ra
rằng, những biến chứng của răng khôn không có lợi cho
sức khỏe của bạn. Đó là:
Viêm lợi trùm: Là một nhiễm trùng rất hay gặp trong quá
trình mọc răng. Bệnh biểu hiện bởi hiện tượng viêm tấy
nướu quanh bề mặt răng khôn, đôi khi kèm theo sốt và đau
vùng góc hàm. Trường hợp nặng hơn có thể dẫn đến viêm
các tổ chức liên kết gây sưng mặt. Để giải quyết, một số
nha sĩ khuyên chỉ nên cắt lợi trùm, tuy nhiên viêm lợi trùm
thường tái phát sau cắt.
Viêm nha chu: Rất thường xảy ra trên các răng khôn, gây
ảnh hưởng đến xương ổ răng và nướu vùng răng khôn. Nếu
đo túi nha chu vùng này, thường phát hiện túi sâu thêm
5mm, nhất là ở bệnh nhân vệ sinh răng miệng kém.
Răng mọc chen chúc: Thường gặp khi các răng khôn mọc
kẹt đẩy các răng nằm phía trước. Một răng khôn mọc kẹt
cũng có thể xô đẩy 2 răng cối lớn, 2 răng cối nhỏ và 1 răng
nanh, để cuối cùng gây nên sự chen chúc ở các răng cửa.
Để ngăn ngừa, việc nhổ bỏ răng khôn là cần thiết.
Làm hư các răng khác: Răng khôn mọc kẹt có thể làm hư
các răng nằm phía trước nó. Việc mọc kẹt tạo điều kiện cho
sự nhồi nhét thức ăn ở mặt xa răng số 7 và dẫn đến trường
hợp hiếm hơn, các răng khôn mọc kẹt có thể gây tiêu chân
răng xa ở các răng kế cận.
Viêm mô tế bào: Là biến chứng khá nặng với các biểu hiện
như: má bị phồng lên, da căng, màu bình thường hay hơi
đỏ, sờ vào đau. Người bệnh đau nhức dữ dội, nhai khó, há
miệng khó, có khi cứng hàm hoàn toàn. Có thể nóng sốt,
mệt mỏi, không ăn ngủ được, nếu không điều trị hoặc điều
trị không đúng, mủ sẽ thoát ra qua lỗ rò trong miệng hoặc
ra ngoài da.
U nguyên bào men: Trường hợp này khá hiếm gặp và việc
điều trị thường là phải cắt đoạn xương hàm.
Những ảnh hưởng của răng khôn
Sâu răng: Do răng khôn ở trong cùng của hàm nên rất khó
vệ sinh, thức ăn và vi khuẩn dễ dàng tích tụ, đặc biệt là ở
những răng chỉ mọc lên được một phần hoặc mọc lệch, đâm
vào răng bên cạnh. Sự tích tụ này lâu ngày gây sâu răng.
Đau đớn và nhiễm trùng có thể xảy ra.
Viêm lợi: Sự tích tụ của thức ăn và vi khuẩn ở răng khôn
gây ra viêm nhiễm trùng lợi xung quanh, dẫn đến triệu
chứng: sưng, đau, hôi miệng và đôi khi cứng hàm (bệnh
nhân không thể mở miệng to được). Bệnh viêm lợi này tái
phát nhiều lần chưa được chữa trị, và những lần tái phát sau
mức độ nguy hiểm càng cao.
Hủy hoại xương và răng xung quanh: Khi răng khôn mọc
đâm sang răng bên cạnh, nó sẽ làm răng đó bị tiêu hủy,
lung lay, nhiều khi gây sâu răng, và cuối cùng là rụng răng.
Triệu chứng sớm của việc mọc lệch này là những cơn đau
âm ỉ ở khu vực đó.
Phòng bệnh ngay từ nhỏ
Theo bác sĩ Nguyễn Văn Hải, nha khoa Hà Nội (316 Lạch
Tray, Hải Phòng), các mầm răng khôn xuất hiện lúc khoảng
5 tuổi và lớp men răng được tạo thành từ lúc 8 tuổi cho đến
12 tuổi, bắt đầu mọc nhú lên lúc 16 tuổi cho đến khi 21
tuổi. Một chiếc răng khôn có hình dạng cuối cùng, có rễ
hẳn hoi ít nhất là khi đã đến tuổi 25 hoặc muộn hơn.
Để tránh những biến chứng do răng khôn mọc lệch, bạn
nên chú ý đến răng của trẻ, dự đoán sớm nhất những chênh
lệch về vị trí của răng khôn. Ngay từ khi trẻ mọc những
chiếc răng đầu tiên được 6 tháng, hãy cho trẻ làm quen với
nha sĩ và có các cuộc khám định kỳ và thường xuyên. Khi
trẻ được 14 - 15 tuổi, tức là trước khi răng khôn nhô ra khỏi
lợi, bạn nên đưa trẻ đi khám và chụp Xquang hàm răng để
phát hiện mầm răng.
Răng khôn ở trạng thái mầm không có chân, trông giống
như những viên bi nhỏ. Quan sát phim chụp, nha sĩ ước
lượng được vị trí răng sẽ mọc. Nếu chiếc răng khôn tương
lai có thể làm xiên xẹo hàm răng, nha sĩ sẽ gắp bỏ mầm
răng. Đây là một thủ thuật nhỏ, dễ thực hiện vì răng chưa
có chân. Sau khi gây tê tại chỗ, nha sĩ sẽ rạch một đường
nhỏ, lấy ra mầm của 2 răng khôn đối nhau (ở hàm trên và
hàm dưới) nhằm tránh những vấn đề về khớp cắn khi chiếc
răng kia mọc.
Tuy nhiên, cũng có một số tai biến có thể xảy ra khi nhổ
răng khôn như:
Viêm ổ răng khôn: Là biến chứng thường gặp nhất, xảy ra
nhiều ở người bệnh lớn tuổi, nữ dễ bị hơn nam.
Sưng mặt: Rất thường xảy ra, nhất là trong các trường hợp
tiểu phẫn răng khôn mọc kẹt hoặc ngầm có khoan xương.
Hiện tượng này sẽ giảm dần nếu người bệnh tuân thủ đúng
hướng dẫn chăm sóc hậu phẫu của nha sĩ. Ngoài ra, sau khi
nhổ răng khôn người bệnh cảm thấy khó mở miệng. Đó là
phản xạ bảo vệ vết thương và không đáng lo ngại, chỉ sau
một thời gian ngắn sẽ hết.
Một lời khuyên là, sau khi nhổ răng khôn, người bệnh nên
chờ ít nhất là 1 giờ mới súc miệng để cho các mạch máu tại
vết thương được bịt kín lại, tránh tình trạng xuất huyết
trong miệng.