ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA VẬT LÝ
BÀI TIỀU LUẬN
Chủ đề: NGOẠI KHÓA VẬT LÝ
Giảng viên hướng dẫn: Th.s Vũ Thụy Hùng
Nhóm sinh viên thực hiện: Đinh Thùy Dung
Nguyễn Thị Miền
Nguyễn Thị Hà My
Lớp: Lý K42A
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2010
1
MỤC LỤC
Mở đầu 2
Phần thực trạng nhận thức của học sinh THPT về vai trò 3
của trò chơi ngoại khoá vật lý
Phần I: Các câu hỏi trắc nghiệm 5
I,Câu hỏi trắc nghiệm trong lĩnh vực khoa học cơ bản 5
II, Các câu hỏi trắc nghiệm vật lý 8
Phần II: Trò chơi vận động 13
I. Đi cầu bỏ bóng 13
II. Chơi ki bằng con lắc 14
Phần III: Kết luận chung 16
2
MỞ ĐẦU
Nâng cao chất lượng dạy học là vấn đề cấp thiết của giáo dục Việt Nam trong
giai đoạn hiện nay. Bộ giáo dục đã và đang có những đổi mới mạnh mẽ về nội dung
và phương pháp dạy học. Trong nhà trường hiện nay hình thức lên lớp vẫn là một
hình thức phổ biến, nên việc phối hợp các hình thức tổ chức day học chưa được
quan tâm đúng mức.
Nội dung của các môn học trong trương phổ thông rất phong phú và đa dạng,
các đối tượng của nó thuộc nhiều lĩnh vực ( Tự nhiên, kinh tế, xã hội ), vì vậy việc
bổ sung, mở rộng các hoạt động ngoai khoá là rất cần thiết. Hoạt động ngoại khoá là
một hình thức tổ chức dạy học, là hoạt động tiến hành ngoài giờ chính khoá, nhằm
mục đích hỗ trợ cho trương trình nội khoá, góp phần hoàn thiện và phát triển nhân
cách, bồi dưỡng năng khiếu, khả năng tư duy sáng tạo của học sinh. Trong những
năm gần đây ở các trương phổ thông hoạt động ngoại khoá vật lý nói riêng và các
môn học khác ít được tổ chức, ban giám hiệu nhà trường và các giáo viên bộ môn
chưa có sự đầu tư cho các hoạt động này.
Hoạt đông ngoại khoá cần sự giúp đỡ của nhà trương, của hội phụ huynh học
sinh, các ban ngành đoàn thể… Họ vừa là các cố vấn chuyên môn, vừa có thể giúp
đỡ, cung cấp các phương tiện cần thiết cho hoạt đông này.
3
PHẦN THỰC TRẠNG NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH THPT
VỀ VAI TRÒ CỦA TRÒ CHƠI NGOẠI KHOÁ VẬT LÝ
Vui chơi giải trí là hoạt dộng rất cần thiết đối với mọi người trong đó có giới
trẻ và đặc biệt là học sinh THPT. Nó đã trở thành một nhu cầu trong cuộc sống của
mỗi học sinh. Sau những giờ học tập, làm việc căng thẳng, mệt mỏi các em luôn có
nhu cầu tìm đến các loại hình trò chơi để làm giảm đi phần nào mệt mỏi như: thể
dục thể thao, văn hoá văn nghệ, các trò chơi…Tuy nhiên, các hoạt động thể dục thể
thao, văn hoá văn nghệ lại chưa được mọi người quan tâm một cách thích đáng và
sự tổ chức phần nào còn nhiều khó khăn. Trong khi đó, các hoạt động vui chơi lại
rất phong phú và đa dạng trong cuộc sống hằng ngày như các trò chơi trên truyền
hình, trên mạng internet và đặc biệt là tính tiện ích của các trò chơi, các em có thể
tham gia trò chơi ở mọi lúc mọi nơi, cho nên trò chơi có vai trò rất quan trọng trong
việc giải quyết nhu cầu trên.
Các trò
chơi trên mạng rất hấp dẫn đối với học sinh THPT, một bộ phận không nhỏ các em
đã coi đó là hoạt động vui chơi giải trí chủ yếu và là sự lựa chọn đầu tiên của mình.
Các trò chơi này có tác dụng rất to lớn đối với các em , như giúp cho các em sự phát
triển trí tuệ, tính nhanh nhạy của tư duy, biết sử lí những tình huống xảy ra và đặc
biệt giúp các em giải toả những căng thẳng. Nhưng bên cạnh những tác dụng đó nó
còn chứa đựng cả những tác hại. Do lứa tuổi của học sinh phổ thông vẫn còn hiếu
động, thích khám phá cho nên các em rất hay chọn các trò chơi nguy hiểm, mang
đậm tính bạo lực, mà các em rất hay học hỏi và áp dụng vào cuộc sống dẫn đến sự
phát triển lệch lạc trong nhận thức và trong tâm lí của các em. Trong những năm
gần đây xuất hiện một trò chơi thu hút một lượng rất lớn các học sinh phổ thông đó
là các trò chơi điện tử đặc biệt người chơi được hoá thân vào thế giới ảo, đóng vai
4
những nhân vật trong thế giới ảo đó, hằng ngày họ phải bỏ ra vài chục nghìn để
nuôi nhân vật của mình mất thời gian và tốn tiền vô ích, nhưng ma lực của các trò
chơi này rất lớn học sinh có thể ngồi chơi vài ba ngày và chơi bất chấp sức khoẻ của
mình và đã có rất nhièu người bị đột quỵ ngay khi chơi. Đặc biệt khi tham gia vào
các trò chơi các em rất dễ tiếp xúc với cá trang web đen có nội dung không lành
mạnh và đó cũng có thể là những nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội đang gia
tăng ở lứa tuổi học sinh THPT, vì thế nhà trường, gia đình cần quan tâm hơn đối với
các em và các cửa hàng internet phải được quản lí chặt chẽ.
Các trò chơi trên truyền hình cũng thu hút được rất đông các bạn học sinh tham
gia, đặc biệt là các trò chơi trí tuệ và các trò chơi âm nhạc. Khi tham gia các trò
chơi trên truyền hình thì ngoài tính hài hước, dí dỏm,vui nhộn tính giáo dục ra các
em còn có thể được trông thấy các “thần tượng” của mình trên đó vì thế các em rất
hào hứng mỗi khi chơi và thật sự các trò chơi trên truyền hình đã áp ứng được nhu
cầu giải trí của các em.
Thực tế, ở các trường học và ở các địa phương cũng đã có sự tổ chức các trò chơi
nhưng việc tạo dựng các sân chơi thường xuyên cho học sinh phần nào còn khiêm
tốn.
5
PHẦN MỘT: CÁC CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM
I, Câu hỏi trắc nghiệm trong lĩnh vực khoa học cơ bản.
Câu 1: Đơn vị cơ sở của hệ thống tiến hoá là gì?
A. Loài
B. Bộ
C. Ngành
D. Lớp
- Đáp án: A
- Giải thích: Khái niệm về loài phát sinh từ thực tế quan sát sinh vật trong thiên
nhiên, sự giống nhau và khác nhau giữa các cá thể. Loài là một tập hợp của nhiều cá
thể cùng xuất phát từ một tổ tiên chung, trải qua quá trình đấu tranh sinh tồn và
chọn lọc tự nhiên mà cách li với các sinh vật khác, đồng thời loài là một giai đoạn
nhất định trong quá trình tiến hoá chung của sinh vật.
( Trang 20 - Sách phân loại thực vật - Tác giả: Hoàng Thị Sản, Hoàng Thị Bé -
NXB Đại Học Sư Phạm năm 2006)
Câu 2: Phản ứng thuỷ phân tinh bột thì sản phẩm là gì?
A. Xenlulôzơ
B. Glucôzơ
C. Saccarozơ
D. Lipit
- Đáp án: B
- Giải thích: Công thức cấu tạo của tinh bột là C
6
H
10
O
6
khi thuỷ phân:
(C
6
H
10
O
5
)
n
+ nH
2
O nC
6
H
12
O
6
(glucôzơ)
6
Câu 3: Anken (hay olefin) có công thức chung là gì?
A. C
n
H
2n+2
B. C
n
H
2n
C. C
n
H
2n-2
D. C
n
H
2n-6
- Đáp án: B
- Giải thích:
+ Công thức chung của Ankan là C
n
H
2n+2
(Ví dụ: Metan-CH
4
, Etan-C
2
H
6
, Propan –
C
3
H
8
).
+ Công thức chung của Ankin là C
n
H
2n-2
(Ví dụ: Etin-C
2
H
2
, Propin-C
3
H
4
, Butin-
C
4
H
6
).
+ Công thức chung của Anken là C
n
H
2n
(Ví dụ: Eten-C
2
H
4
, Propen-C
3
H
6
, Buten-
C
4
H
8
).
+ Công thức chung của Aren là C
n
H
2n-6
(Ví dụ: Benzen-C
6
H
6
, metylbenzen-C
7
H
8
,
Etylbenzen-C
8
H
10
).
Câu 4: Mặt trụ tròn xoay bán kính r có phương trình như thế nào?
A. x
2
+ y
2
+ z
2
= r
2
B. x
2
+ y
2
= r
2
C. x
2
+ y
2
= a
2
z
D. x
2
= 2py
- Đáp án: B
- Giải thích :
+ Mặt cầu tâm O bán kính r có phương trình là: x
2
+ y
2
+ z
2
= r
2
+ Mặt trụ tròn xoay bán kính r trục oz có phương trình là: x
2
+ y
2
= r
2
+ Mặt prabol tròn xoay đỉnh O trục oz có phương trình là: x
2
+ y
2
= a
2
z
+ Mặt trụ parabol : x
2
= 2py
Câu 5: Chức năng của bạch cầu là gì?
A. Bảo vệ cơ thể
B. Tham gia vào quá trình đông máu
7
C. Vận chuyển khí trong quá trình hô hấp
D. Cả A, B, C.
- Đáp án: A
( Trang 21 - Giáo trình: Giải phẫu người - Tác giả: Hoàng Thị Sèn giảng viện Đại
Học Sư Phạm Thái Nguyên)
Câu 6: Bạn cho biết tên hệ thống núi lớn nhất thế giới:
A. Andres
B. Alps
C. Trường Sơn
D. Himalaya.
Đáp án: D
- Hệ thống núi himalaya là dãy núi cao nhất hành tinh và là nơi của 14 đỉnh núi
cao nhất thế giới: các đỉnh cao trên 8000m, bao gồm cả đỉnh Everest.
Câu 7: Nước ở đâu rộng nhất thể giới:
A. Mỹ
B. Nga
C. Trung Quốc
D. Phương án khác.
Đáp án: D
- Nước biển rộng nhất thế giới chiếm hơn ¾ diện tích bề mặt Trái Đất.
Câu 8: Cho một hỗn hợp gồm 3 chất có khối lượng lần lượt: m
B
= 2m
A
, m
C
= 3m
A
.
Tính phần trăm khối lượng chất B có trong hỗn hợp:
A. 25%
B. 40%
C. 33,3%
D. 15,7%
Đáp án: C
8
- ta có tổng khối lượng chất trong hỗn hợp:m
A
+ m
B
+ m
C
= 6m
A
, phần trăm khối
lượng chất B trong hỗn hợp= (m
B
/ m hỗn hợp)*100= (2m
A
/ 6m
A
)*100= 33,3%.
Câu 9: Mối quan hệ giữa giun dẹp sống trong mang sam là mối quan hệ gì:
A. Quan hệ hợp tác
B. Quan hệ đối địch
C. Quan hệ cộng sinh
D. Quan hệ hội sinh.
Đáp án: D- vì quan hệ hội sinh là quan hệ một bên có lợi còn bên kia không có
ảnh hưởng gì. Giun dẹp sống trong mang sam, ăn thức ăn thừa của sam và sam
không có ảnh hưởng gì.
II, Các câu hỏi trắc nghiệm vật lý.
Câu 1: Cho hai con lắc có chiều dài hơn kém nhau 22cm, đặt cùng một nơi, trong
1s con lắc 1 thực hiện được 30dđ, con lắc 2 thực hiện được 36dđ, chiều dài con
lắc 2 bằng bao nhiêu?
A. L
1
= L
2
B. L
1
= L
2
– 22cm
C. L
1
= L
2
+ 22cm
D. Phương án khác.
-Đáp án: C
- ta có T1/T2 =(L1/L2)=f2/f1=36/30, suy ra L1> L2, L1= L2+22.
Câu 2: Vận tốc truyền sóng phụ thuộc vào:
A. Năng lượng sóng
B. Tần số dao động
C. Môi trường truyền sóng.
D. Bước sóng.
Đáp án: C.
9
Câu 3: Một chất điểm dao động điều hòa với A= 8cm, trong 1 phút chất điểm thực
hiện 40 lần dao động. Vận tốc cực đại là:
A. 50 cm/s
B. 15 cm/s
C. 33,49 cm/s
D. Đáp án khác.
Đáp án: C- f = 40/60, Vmax = w.A =2∏.f.A= 33,49 cm/s.
Câu 4: Con lắc đơn có ℓ= 50cm, khối lượng m=25g, từ vị trí cân bằng kéo vật đến
vị trí dây treo nằm ngang rồi thả ra cho dao động. Lấy g= 10m/s2. Xác định vận
tốc vật khi qua vị trí cân bằng:
A. ±10m/s
B. ±3,16m/s
C. ±0,5m/s
D. ±0,25m/s
Đáp án: B
- E= mgℓ (1- cos) => mgℓ= mv
2
/2=> v=±3,16 m/s
Câu 5: Hai con lắc đơn có cùng khối lượng, chiều dài lần lượt là: 81cm, 64cm.
Dao động với biên độ góc nhỏ tại cùng một nơi cùng một năng lượng dao động.
Biên độ góc của con lắc 1 1= 5 độ, xác định biên độ góc của con lắc 2:
A. 10 độ
B. 5,25 độ
C. 5 độ
D. 7 độ
Đáp án: C
- từ công thức: m
1
g
1
ℓ
1
.(1- cos
1
) = m
2
g
2
ℓ
2
(1-cos
2
).
Vậy α
2
= 5
0
Câu 6: Véc tơ an= 0, véc tơ at biến thiên , chuyển động thẳng……
Véc tơ an= 0, véc tơ at không đổi, chuyển động thẳng………
10
Điền tiếp vào cho câu đúng:
A. Biến đổi, đều
B. Biến đổi đều, đều
C. Đều, biến đổi đều
D. Biến đổi, biến đổi đều.
Đáp án: D
Câu 7: Đại lượng nào đặc trưng cho mức quán tính của vật?
A. Khối lượng
B Vận tốc
C. Gia tốc
D. Khối lượng và vận tốc
- Đáp án: A
Câu 8: So sánh độ lớn của lực ma sát lăn trượt?
A. F
msn
> F
msl
> F
mst
B. F
mst
> F
msn
> F
msl
C. F
msn
> F
mst
> F
msl
D. F
mst
> F
msl
> F
msn
- Đáp án: C
Câu 9: Khi xe đạp chuyển động thì van bánh trước của xe đạp có quỹ đạo như thế
nào?
A. Một đường cong lúc lên cao, lúc xuống thấp.
B. Quỹ đạo là một đường tròn.
C. Quỹ đạo là một đường thẳng.
D. Chưa xác định được
- Đáp án: D
- Giải thích: Hình dạng quỹ đạo của chuyển động trong các hệ quy chiếu khác nhau
thì khác nhau. Hay quỹ đạo có tính tương đối. Do đó phải xem người quan sát đang
đứng trong hệ quy chiếu nào. Nếu người quan sát đứng bên đường thì sẽ thấy đầu
11
van chuyển động theo một đường cong lúc lên cao, lúc xuống thấp. Còn đối với
người ngồi trên xe đạp sẽ thấy đầu van chuyển động tròn đều quanh trục của bánh
xe.
Câu 10: Khi một vật trượt trên mặt phẳng nghiêng thì cố thế năng của những lực
nào?
A. Thế năng của trọng lực, phản lực, lực ma sát.
B. Thế năng của trọng lực,phản lực.
C. Thế năng của trọng lực.
D. Thế năng của phản lực
-Đáp án: C
-Thế năng là năng lượng của 1 hệ có được do tương tác giữa các phần tử của hệ
thông qua lực thế. Khái niệm thế năng luôn gắn với lực thế, vì chỉ có lực thế tác
dụng lên vật mới tạo cho vật có thế năng. Mà lực ma sát không phải lực thế vì công
của nó không phụ thuộc vào hình dạng đường đi.Còn trọng lực là lực thế do công
của nó không phụ thuộc vào hình dạng đường đi.
Câu 11: Treo 1 vật nặng vào 1 sợi dây có thể chịu được 1 trọng lượng lớn hơn trọng
lưọng của vật đó một chút. Rồi ta buộc thêm một đoạn dây cũng loại ấy vào phía
dưới vật. Hỏi nếu ta giật mạnh thì dây nào sẽ bị đứt?
A. Dây trên sẽ bị đứt.
B. Dây dưới sẽ bị đứt.
C. Cả 2 dây bị đứt.
-Đáp án: B
-Vì khi tác dụng vào một vật dang ở trạng thái đứng yên thì vật sẽ chuyển động tức
là thay đổi vận tốc. Tuy nhiên không phải vận tốc thay đôi tức khắc được. Vì vật
nặng có quán tính, nên phải sau một thời gian nhất định vận tốc mới thay đổi một
lượng đáng kể. Do đó khi ta cầm dây dưới giật mạnh, thời gian tác động của lực
nhanh, sức căng dây lớn, vật nặng chưa kịp chuyển động dây dưới đã đứt rồi.
12
-(Trang 100- sách hỏi đáp về những hiện tượng vật lý- tập 1 cơ học - tác giả:
Nguyễn Đức Minh và Ngô Văn Khoát - NXB khoa học và kỹ thuật - xuất bản
1970).
Câu 12: Trong ổ bi có lực ma sát gì?
A. Lực ma sát lăn.
B. Lực ma sát trượt.
C. Lực ma sát nghỉ.
D. Cả 3 lực: ma sát nghỉ, ma sát lăn, ma sát trượt.
- Đáp án: D
-Nhờ có ổ bi ma sat trượt được thay bằng ma sát lăn, ổ trục quay được nhẹ nhàng.
Ổ trục quay các viên bi quay ngược chiều nhau vẫn cọ sát vào nhau, do đó giữa các
viên bi vẫn có ma sát trượt cản trở sự quay của chúng. Tuy nhiên lực ép của các
viên bi lên nhau rất nhỏ, nên lực ma sát này nhỏ, không ảnh hưởng đến sự quay của
trục. Chỉ khi ổ bi thừa bi các viên bi chèn nhau chúng ép vào nhau với lực lớn, lực
ma sát trượt giữa chúng lớn cản trở sự quay của chúng, do đó ổ trục quay nặng hơn.
Mặt khác khi đó bi sẽ chóng vỡ, vì thế ta không được lắp thừa bi. Khi lắp bi vào
trong ổ bi bao giờ giữa chúng ta cũng để có khe hở để tra mỡ vào, mỡ có tác dụng
làm giảm ma sát trượt giữa các viên bi với nhau.
-(Trang 100- sách hỏi đáp về những hiện tượng vật lý- tập 1 cơ học - tác giả:
Nguyễn Đức Minh và Ngô Văn Khoát - NXB khoa học và kỹ thuật - xuất bản
1970).
13
Phần II TRÒ CHƠI VẬN ĐỘNG
I, Đi cầu bỏ bóng
1. Mục đích.
-Giúp học sinh hiểu rõ hơn về quy tắc hợp lực song song. Cân bằng của một vật có
trục quay cố định, mômen lực.
-Rèn luyện cho học sinh khả năng khéo léo, tinh thần đồng đội, làm việc theo nhóm.
2. Thiết kế.
a)Dụng cụ.
-Một thanh gỗ dài 3m, rông 8cm, cao 3cm.
-Một trụ đỡ hình lập phương có cạnh 30cm.
-Đĩa phẳng làm bằng bìa cứng có tay cầm, đường kính từ 12-15cm, tay cầm 10cm.
14
-Bóng bàn.
-Hai cái chuông.
-Giỏ bằng nhựa.
-Hai hình lăng trụ đứng làm bằng bìa cứng để làm chướng ngại vật.
b)Bố trí các dụng cụ.
-Gắn trụ đỡ vào chính giữa( trùng với trọng tâm) của thanh gỗ.
-Đặt 2 hình lăng trụ trên thanh gỗ sao cho 1 hình cách mỗi đầu 0.5cm, để làm
chướng ngại vật.
Để ngay dưới 2 đầu của thanh gỗ 1 cái chuông.
3. Cách chơi.
-Hình thức: chơi theo đội, mỗi đội gồm 5-7 người.
- Thời gian chơi : 10 phút
-Cách chơi: có 1 thành viên của đội để giữ cho cầu luôn cân bằng. Thành viên thứ 2
sẽ di chuyển qua cấu bằng cách 2 tay cầm 2 đĩa, mỗi đĩa đặt 1 quả bóng bàn, di
chuyển từ đầu cầu bên này sang đầu cầu bên kia để bóng vào giỏ. Đội thắng cuộc sẽ
là đội đưa dược nhiều bóng vào giỏ nhiều hơn.
-Chú ý:
+Nếu chuông ở 1 trong 2 vi trí reo lên, 1 trong 2 chướng ngại vật bị đổ, 2 quả bóng
bị rơi hết hoặc người chơi chạm chân xuống sàn thì người chơi phải quay trở về
vạch xuất phát thì các thành viên khác trong đội mới được đi tiếp.
+Khi người chơi đi hêt cầu và bỏ bóng vào giỏ thi các thành viên khác trong đội
mới được đi tiếp.
II. Chơi ki bằng con lắc.
1. Mục đích
-Giúp học sinh hiểu hơn về con lắc đơn.
-Va chạm.
-Rèn luyện khả năng khéo léo.
2. Thiết kế
15
a) Dụng cụ:
- 1 quả bóng cỡ như bóng tennis, dây, 1 tấm ván phẳng hoặc 1 bề mặt phẳng, bút chì
và trục chỉ hoặc lon không.
-Cột bằng gỗ cao chừng 1.5m, có thanh ngang, chân đỡ.
b)Bố trí các dụng cụ
-Gắn chặt dây vào bóng.
-Treo quả bóng lên xà ngang để cho quả bóng cách mặt đất chừng 15cm.
-Cắm đứng cây bút chì vào giữa trục chỉ để làm con ki.
-Xếp so le các con ki thành 2 hàng ( hàng trên 8 con ki,hàng dưới 7 con ki) trên mặt
đất phẳng ( hoặc tấm ván phẳng).
3. Cách chơi
-Hình thức: chơi theo đội, mỗi đội từ 5-7 người.
-Điều kiện chơi: phải có không gian rộng.
-Thời gian chơi: 5 phút.
-Đung đưa con lắc làm sao cho nó không đánh con ki ở luợt đưa ra nhưng đánh con
ki ở lượt về.
-Mỗi thành viên trong đội được thực hiên 1 lần sau đó đến thành viên khác chơi.
-Các con ki được đánh số điểm.
-Đội thắng cuộc là đội ghi được nhiều điểm nhất.
16
PHẦN III : KẾT LUẬN CHUNG
1. Tổ chức trò chơi ngoại khoá vật lý có vai trò rất lớn đối với học sinh. Vì vậy song
song với việc xây dựng kiến thức văn hoá và khoa học cho các em, giáo viên PT
cần biết cách tổ chức cho các em vui chơi một cách li thú bổ ích và phù hợp để qua
đó các em có thể giảm bớt được sự căng thẳng sau những giờ học trên lớp, có thể
thoải mái vui đùa, tự do sáng tạo đồng thời có thể phát triển và hoàn thiện nhân
cách của các em.
2. Với những điều kiên và hạn chế của chúng em nên việc tìm hiểu về các nội dung
liên quan đến ngoại khoá vật lý chưa thật sự sâu sắc, nếu có điều kiện chung em hy
vọng rằng vấn đề này sẽ được nghiên cứu một cách toàn diên hơn, kĩ lưỡng hơn dể
có thể dáp ứng nhu cầu vui chơi của học sinh THPT trong các buổi ngoại khoá vật
lý, góp phần làm cho buổi ngoại khoá vật lý có ý nghĩa hơn trong dạy học và là một
sân chơi bổ ích cho các em.
17