NHÓM 7: DINH DƯỠNG CHO TRẺ SƠ SINH
GVHD: NGUYỄN THỊ VÂN
Lớp: 50CBTS
HỌ VÀ TÊN MSSV ĐÁNH GIÁ
TRẦN THIỆN KHIÊM(nhóm trưởng) 50130678 A
NGUYỄN THỊ HƯƠNG 50130495 A
LƯU THỊ LIÊN 50130779 A
BÙI THỊ HỌC 50130628 A
Nhận xét: các thành viên trong nhóm 7 đều làm 1 khối công việc ngang nhau, mỗi coong
việc là riêng cho mỗi thành viên.
Trong những năm đầu đời trẻ cần dược quan tâm chăm sóc và phát triển toàn diện.
Dinh dưỡng cho trẻ là một trong những yếu tố được quan tâm hàng đầu.Trong sáu tháng
đầu trẻ chỉ hoàn toàn bú sữa mẹ, sáu tháng tiếp theo do sữa mẹ không còn đáp ứng đủ nhu
cầu dinh dưỡng của trẻ vì vậy cần cung cấp thêm nguồn dinh dưỡng bên ngoài thông qua
nguồn thúc ăn.Vậy cho trẻ bú sữa và ăn dặm trong 12 tháng đầu đời như thế nào là hợp lý?
Làm thế nào để trẻ phát triển toàn diện về cả trí tuệ và thể chất? Đề tài của chúng em giúp
ta hiểu rõ hơn về vấn đề này.
A. GIỚI THIỆU CHUNG
1. Dinh dưỡng học?
Dinh dưỡng là: bộ môn khoa học nghiên cứu mối quan hệ giữa thức ăn với cơ thể, đó
là quá trình cơ thể sử dụng thức ăn để duy trì sự sống, sinh trưởng và phát triển bình thường
của các mô và cơ quan, và để sinh năng lượng, cũng như các phản ứng của cơ thể đối với ăn
uống, sự thay đổi của khẩu phần và các yếu tố khác có ý nghĩa bệnh lý.
- Thực phẩm được cấu tạo chủ yếu từ sáu loại chất dinh dưỡng chủ yếu là đường
(cacbonhydrat), protein (tinh bột), lipid (chất béo), chất khoáng, vitamin và nước. Các chất
dinh dưỡng này sau một tiến trình biến đổi trong cơ thể sẽ được hữu dụng hóa trong việc
xây dựng tế bào hoặc bồi bổ các mô hoặc đóng vai trò điều tiết các hoạt động của cơ thể.
-Do đó nhu cầu dinh dưỡng cho một cơ thể là rất quan trọng. Để đảm bảo sự sinh
trưởng và phát triển của trẻ sơ sinh một cách tốt nhất thì cần phải cung cấp đầy đủ các chất
dinh dưỡng. Chính vì vậy nhu cầu dinh dưỡng cho trẻ sơ sinh là rất quan trọng và cần quan
tâm.
2. Tình hình dinh dưỡng của trẻ sơ sinh hiện nay?
Về mặt dinh dưỡng, trên thế giới chia làm 2 thái cực:
+ Thừa ăn
+ Thiếu ăn
192 triệu trẻ em suy dinh dưỡng protein năng lượng.
40 triệu trẻ em bị thiếu VTM A
2 tỉ người bị thiếu sắt gây thiếu máu
1 tỉ người bị thiếu iod
Trẻ sơ sinh bị thiếu cân: trong đó 6% ở các nước phát triển và ở các nước đang phát
triển là 19%.
Tỉ lệ tử vong ở trẻ em liên quan đến suy dinh dưỡng là:
+ 2% ở các nước phát triển
+ 20% ở các nước kém phát triển
+ 12% ở các nước đang phát triển
50% trẻ em dưới 5 tuổi chết do thiếu ăn.
Ở Việt Nam:
+ Năm 2005: 25% trẻ em suy dinh dưỡng
+ Hiện nay: 15% suy dinh dưỡng, chủ yếu tập trung ở nông thôn.
+ Hiện nay: 15% suy dinh dưỡng, chủ yếu tập trung ở nông thôn.
Tình hình nuôi con bằng sữa mẹ ở nước ta hiện nay:
Hiện nay nhờ sự phát triển của các kênh truyền thông mà các bà mẹ đã tiếp cận
nhiều hơn với những thông tin bổ ích về chăm sóc sức khỏe trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ,trong đó
có thông tin về lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ.Tuy nhiên,theo số liệu cuộc điều tra
dinh dưỡng Quốc gia năm 2009,trong số 43% phụ nữ Việt Nam hiểu rõ sữa mẹ là nguồn
thức ăn chính cho trẻ dưới 6 tháng tuổi thì chỉ có 10% trẻ sơ sinh được bú mẹ hoàn toàn
trong 6 tháng đầu Tỷ lệ này khá thấp so với các nước trong khu vực châu Á.
NDĐT- Nghiên cứu về nuôi dưỡng trẻ nhỏ mới nhất cho thấy, chỉ 55% trẻ sơ sinh
sau khi chào đời được bú sữa mẹ trong vòng một tiếng đầu sau sinh. Tỷ lệ này ở miền núi
cao hơn nhiều (70%) so với các đô thị (30 %).
Thông tin trên được bác sĩ Nguyễn Xuân Vinh, Vụ Bảo vệ sức khoẻ bà mẹ trẻ em
(Bộ Y tế) công bố trong buổi họp báo về Tuần lễ nuôi con bằng sữa mẹ diễn ra vào tuần đầu
tiên của tháng 8 hằng năm, từ ngày 1 đến 7-8-2010, do Bộ Y tế, cơ quan Liên hợp quốc tại
Việt Nam và tổ chức Alive & Thrive thực hiện .
Nguyên nhân chính dẫn tới việc trì hoãn cho trẻ bú sớm là do quan niệm sai lầm sữa
mẹ chưa về, do mổ đẻ, mẹ không được nằm cùng con sau khi sinh, dựa vào sữa bột công
thức và tác động quảng cáo quá mức của các công ty sữa tại thị trường trong nước Ngoài
ra, các bà mẹ tại khu vực thành thị còn có quan niệm như ít cho bú để giữ dáng vóc sau
sinh, tập cho trẻ bú bình để có thể đi làm sau bốn tháng nghỉ thai sản
B. NỘI DUNG
I. Sữa mẹ
1. Định nghĩa sữa mẹ:
Theo y học cổ truyền cho rằng sữa là tinh của huyết,dòng sữa mẹ chính là một phần
cơ thể người mẹ.
Theo y học hiện đại, sữa mẹ là một dạng “mô sống ở thể lỏng” tương tự như máu,
với khoảng 4000 tế bào sống hoạt động trong 1ml sữa, một tập hợp phong phú các yếu tố
hóa sinh ở dạng đang hoạt động, một số lượng lớn các hormon và yếu tố tăng trưởng.
Thành phần hóa học của sữa
2. Vai trò của sữa mẹ:
“Sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ”. Sữa non 3 ngày đầu có thể xổ
hết phân thai (cứt xu). Vì thế sữa non có tác dung dẫn chất thải, chất thải ở đây là: chất
nước ối mà thai nhi nuốt vào tích trong đường ruột, chất này chứa bilirubin do hồng cầu
phân giải, nếu không thải hết chất này ra thì tràng đạo sẽ hấp thụ nhập về máu làm tăng
nồng độ bilirubin trong máu. Nồng độ bilirubin nếu lên đến 2mg sẽ mất chứng hoàng đản,
nồng độ cao nhất có thể tới 1,2mg. Trẻ đẻ non có thể lên tới 1,5mg. Nếu tiếp tục hấp thụ
chất này vào tế bào não, tổ chức não bị tổn thương nhất là hạch thần kinh, phần cuống đại
não bị tổn thương gọi là hoàng đản hạch. Ngoài ra sẽ tránh cho trẻ có đủ lực bú sữa, không
gây nên chớ sữa, buồn ngủ, chân tay co giật.
Người ta nhận thấy rằng sữa mẹ thường xuyên được giữ ở nhiệt độ khoảng 37
0
C, rất
phù hợp với thân nhiệt của trẻ đồng thời lại rất vệ sinh so với bất kỳ nguồn sữa nào.
Sữa non chứa nhiều bạch cầu: 50% bạch cầu nhiều nhân và 30-50 % thực khuẩn, có
tác dụng miễn dịch phòng ngừa cảm nhiễm. Mặt khác, kháng thể còn có Ig: IgG và IgA là
quan trọng nhất. Kháng thể có vai trò rất lớn trong hệ miễn dịch của cơ thể chống lại các tác
nhân gây nhiễm trùng, hoạt hóa bổ thể. Nó có thể bảo vệ sự hoàn chỉnh cho tế bào thượng
bì, đường hô hấp đường tiêu hóa cho trẻ sơ sinh. Trong sữa mẹ còn chứa các globulin miễn
dịch, chủ yếu là IgA (có nhiều nhất trong sữa non). IgA không hấp thu mà ở lại trong lòng
ruột, nên tác dụng đối kháng với một số vi khuẩn như: E.coli và virut trong ruột. Chính vì
vậy những bé được bú mẹ ít bị tiêu chảy và các viêm nhiễm đường ruột. Trong sữa mẹ có
lactoferin – một protein gắn với chất sắt, sự gắn kết này làm cho một số vi khuẩn có hại
không phát triển được. Chất lysozym (một loại men trong sữa mẹ cao hơn sữa bò hàng ngàn
lần) chất này có tác dụng tiêu diệt một số vi khuẩn có hại và nhiều loại virut khác. Trong
hai tuần lễ đầu sau sinh, sữa mẹ chứa 4.000 bạch cầu trong 1ml sữa mẹ, những bạch cầu
này tiết ra IgA, lactoferin, lysozym và interferon – những chất này ức chế hoạt động của
một số virut.
Do đó trong thời gian bú mẹ, trẻ ít bị tiêu chảy cũng như các bệnh khác. Sữa mẹ còn
có yếu tố bifidus – một chất carbohydrat có chứa nitơ là yếu tố cần thiết cho sự tăng trưởng
của vi khuẩn lactobacillus bifidus – có vai trò biến một vài loại lactoza trong sữa thành acid
lactic nên ngăn được sự tăng trưởng của vi khuẩn và ký sinh trùng có hại làm cho phân của
trẻ có mùi chua khác với phân của trẻ ăn sữa bò.
Sữa mẹ còn có ít nhất 60 loại enzyme bên cạnh thành phần hoàn hảo những chất
dinh dưỡng đa lượng và vi lượng mà không một loại sữa bột nào trên thị trường có được.
Bao gồm: Các bạch cầu, kháng thể, tiểu thể, DHA, Vitamin A, E, chất béo, chất bột đường,
protein, nucleotic, globulin miễn dịch, thực bào, tế bào lympho T, các men lysozyme, nội
tiết tố…
+ Trong sữa mẹ có globulin miễn dịch này sẽ theo máu đi đến bầu vú và có trong
sữa, nó sẽ bảo vệ bé giống như bảo vệ người mẹ khi bé bú sữa mẹ. Điều này thật sự quan
trọng vì hệ miễn dịch của bế sơ sinh còn rất yếu và những globulin miễn dịch trong sữa mẹ
sẽ giúp cho bé.
+ Ngoài ra còn có men lysozyme, bạch cầu, kháng thể, nội tiết tố giúp bé chống lại
bệnh nhiễm trùng, nhiễm khuẩn gây tử vong cao ở trẻ.
+ Sữa mẹ chứa các acid docosohexaenoic và acid arachidonic góp phần phát triển
não bộ và võng mạc.
+ Sữa mẹ giúp phát triển nhận thức giác quan của trẻ và bảo vệ trẻ chống lại các
bệnh truyền nhiễm và mãn tính.
+ Sữa từ một bà mẹ có đầy đủ các chất dinh dưỡng sẽ cung cấp hầu hết các vitamin
và khoáng cho bé như: vitamin D, Fe
+ Trong sữa có tổng toàn bộ nucleotic (TDAN) là dưỡng chất hiện diện tự nhiên với
hàm lượng thay đổi từ 69 – 72 mg/l hỗ trợ sự phát triển hệ thống miễn dịch của trẻ, tăng
lượng kháng thể và giảm tần suất tiêu chảy, đáp ứng miễn dịch đối với vaccine chủng ngừa
viêm màng não và vaccine bạch hầu.
+ Chất đường trong sữa mẹ chứa nhiều lactose cần triển thiết cho sự phát triển thần
kinh và giúp vi khuẩn có ích trong đường ruột phát triển.
+ Chất bột đường là nguồn cung cấp năng lương tạo vị ngọt cho sữa.
+ Chất béo chuyên chở những vitamin tan trong chất béo (A, D, E, K)
+ Acid béo linolenic đóng vai trò sống còn cho sự phát triển của hệ thần kinh và
chức năng mô. Nó giúp cải thiện sự hấp thu chất béo tại ruột.
+ Cơ thể bé cần 20 loại acid amin trong đó có 8 loại acid amine cơ thể trẻ không tự
sản sinh ra được mà nó được cung cấp từ sữa mẹ.
Sữa non còn chứa kẽm, số kẽm trong sữa 5 ngày đầu có thể cung cấp cho trẻ dùng 1
năm. Kẽm là chất hoạt kích thích của men và là thành phần chính của nhiều loại men có
kim loại. Kẽm liên quan đến sự tổng hợp protein, thúc đẩy các quá trình phát triển,làm cho
khướu giác vị giác nhạy cảm hơn, thúc đẩy tế bào miễn dịch.
Sữa mẹ có chứa chất albumin, chất này vào dạ dày kết thành các hạt nhỏ, diện tích
bề mặt lớn, dễ tiếp xúc với pepsase và erepsin dễ tiêu hóa hấp thụ.
Sữa mẹ chứa acid linolic, có thể tổng hợp myelin để phát triển não, acid béo không no giúp
trẻ chống lại các bệnh về ghẻ lở.
Sữa mẹ tuy có hàm lượng Fe thấp nhưng hệ số hấp thụ tới 50%.
Sữa mẹ thúc đẩy trí lực của bé phát triển. Sữa mẹ có taurye thúc đẩy phân liệt tế bào
não trưởng thành tăng số lượng tế bào não. Taurye là chất chứa mấu liên kết dây thần kinh
làm tăng số lượng điểm két nối thần kinh.
Giảm thiểu mất máu tràng đạo ngăn ngừa các bệnh như ỉa chảy và thiếu máu
Sữa mẹ có hàm lượng nước cao, trừ được khát nước, ăn nhiều không gây ghánh nặng
cho thận.
Ngoài ra, cho con bú còn là sợi dây tình cảm giữa mẹ và con, tạo cơ sở cho trẻ phát
triển nhân cách và phát triển tình cảm.
3. Phân loại sữa mẹ
Theo thời gian, sữa mẹ được chia thành 3 loại chính sau:
Sữa non: Là dòng sữa đầu tiên được bầu vú mẹ tiết ra rất giàu năng lượng, chứa đủ các vi
chất dinh dưỡng cần thiết, các vitamin và chất khoáng, các yếu tố miễn dịch cần cho cơ thể
non nớt của trẻ sơ sinh, giúp trẻ chống lại bệnh đường ruột và các bệnh nhiễm khuẩn khác,
giúp giảm nguy cơ mắc bệnh vàng da. Vì vậy ngay giờ đầu sau sinh, cần cho trẻ được bú
mẹ. Nếu vì một lý do nào đó trẻ không được gần mẹ ngay thì cần vắt sữa non ra cho trẻ
uống.
Sữa chuyển tiếp (sữa trung gian): Có từ ngày thứ 5 đến ngày thứ 14 sau khi sinh.
Người mẹ tiết ra một loại sữa loãng, trong, nhạt như nước lã loại sữa này giàu protein và
chất mỡ. Với trẻ sơ sinh, loại sữa này rất có lợi vì tràn đạo còn chứa nhiều phân thai cần
phải làm sạch. Men tràng đạo còn ở trạng thái chờ đợi nên thiếu khả năng tiêu hóa vì vậy
tràng đạo chỉ còn cách hút loại sữa trong nhạt có đường lactose
Sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng quý giá cho trẻ mới sinh
Sữa vĩnh viễn: Từ ngày 10-14 sau khi sinh. Từ thời điểm này, sữa mẹ tăng nhiều về số
lượng và hoàn thiện dần về chất lượng với các thành phần dinh dưỡng ổn định dần. Trong
suốt thời gian cho con bú, chế độ dinh dưỡng và sinh hoạt, nghỉ ngơi, lao động của người
mẹ có ảnh hưởng lớn đến chất lượng cũng như lượng sữa tiết ra.
Thành phần hóa học của sữa mẹ- 1 lít sữa gồm có:
Bơ : 34,68g
Protit: 12,35g
Lactoza: 70,0
Muối khoáng: 1,9g
Nước: 908,7g
Vitamin A,B,C,D
1 lít sữa người cho: 70calo
4. Giới thiệu một số thực đơn cho mẹ.
Để tăng sữa, các bà mẹ có thể sử dụng một số món ăn bài thuốc sau:
- Quả đu đủ xanh chứa nhiều vitamin A, B, C, D, E Đu đủ xanh tươi nấu với chân móng
lợn (phần từ khuỷu xuống đến móng) cho sản phụ ăn có tác dụng thông sữa. Món ăn này rất
tốt cho những sản phụ ít sữa hoặc sữa loãng.
- Đương quy 100 g, thịt dê 200 g (rửa sạch, thái miếng), gừng tươi 5 lát, hành hoa 3 nhánh.
Tất cả cho vào nồi hầm nhỏ lửa, tới khi thịt dê chín nhừ, thêm gia vị vừa đủ. Ăn thịt, uống
nước hầm (chia nhiều bữa). Món này thích hợp với người sau đẻ mất máu nhiều, gầy còm,
kém ăn, người lạnh, ít sữa. Người táo bón không nên dùng.
- Vừng đen 30 g (giã nhỏ), gạo tẻ 50 g, nấu cháo. Món này vừa lợi sữa vừa nhuận tràng,
thích hợp với những sản phụ sau đẻ huyết hư, táo bón, ít sữa.
- Lạc nhân 50 g, gạo tẻ 100 g, đường phèn lượng vừa đủ. Lạc nhân rửa sạch, giã nhỏ, nấu
cháo cùng gạo tẻ; khi cháo chín cho thêm đường phèn vừa ăn. Có thể hầm lạc nhân cùng
móng giũ lợn. Khi nhu cầu của bé ngày một lớn, dòng sữa mẹ như cạn dần, không đủ đáp
ứng.
Hãy làm những món dưới đây để thay đổi thực đơn, giúp mẹ ngon miệng, bé đủ sữa bú.
- Quả đu đủ ương nấu với cá chép hoặc cá quả đến khi nhừ, cho sản phụ ăn cũng sẽ giúp
tăng lượng sữa.
- Chọn lá khoai lang tươi non, rửa sạch, thái chỉ, xào với thịt lợn nạc ăn. Hoặc có thể luộc
rau lang chấm mắm ăn hàng ngày.
Lưu ý: nếu muốn uống nước rau lang thì trần qua, bỏ nước đầu, uống nước thứ hai sẽ không
bị chát.
Những món ăn bài thuốc nêu trên sẽ giúp người mẹ tạo sữa tốt hơn. Tuy nhiên,
người mẹ không nên trông chờ hoàn toàn vào chế độ ăn uống để tạo sữa, mà còn cần phải
đảm bảo giấc ngủ tốt và nhất là cho con bú đúng cách. Có như thế thì mới kích thích cơ thể
người mẹ sản sinh ra nhiều sữa, giúp cho trẻ phát triển khoẻ mạnh.
Dinh Dưỡng Cho Bà Mẹ Nuôi Con Bú
Lượng calo bắt buộc đưa vào cơ thể đối với bà mẹ cho con bú hàng ngày là 330 calo,
nhiều hơn lượng thức ăn trước khi mang thai.
Sau đây là những cách giúp bạn hấp thụ đầy đủ chất dinh dưỡng một cách linh hoạt.
Đồ ăn nhanh đơn giản
Hãy để những đồ ăn nhanh trong phòng chăm sóc con để bạn luôn được nạp đủ năng lượng
trong ngày. Một số đồ ăn dễ dàng mà chỉ cần 1 tay bạn cũng có thể nhón được là: nho, bơ
lạc, sandwich thạch…
Thức ăn dự phòng
Hãy chuẩn bị thật nhiều thức ăn dự phòng dễ ăn như: ngũ cốc giàu chất xơ, bột yến mạch ăn
liền, sữa chua ít béo, chuối, bỏng ngô ít béo, bim bim.
Nấu ăn
Đừng vì bận rộn quá mà bạn bỏ bữa. Hãy nấu bữa tối dư ra để cất vào tủ lạnh dùng cho bữa
sau. Súp có thể nấu nhiều và bữa sau chỉ việc hâm nóng lại là vẫn giữ được hương vị thơm
ngon.
Uống nhiều nước
Bà mẹ cho con bú cần ăn đủ chất dinh dưỡng
Uống đủ nước là điều quan trọng với bà mẹ đang cho con bú, vì thế bạn nên mang theo một
chai nước bên mình. Nên hạn chế uống nước đóng chai vì hàm lượng đường thường rất cao.
Mẹ đang cho con bú có thể uống một chút caffeine nhưng không nên quá 150g/ngày để con
không bị kích thích hay khó chịu.
Bữa sáng
Theo thói quen thông thường, bạn không có thời gian dành cho bữa sáng nhưng có một vài
lựa chọn nhanh chóng và đủ chất: Thêm dâu vào món ngũ cốc hay bột yến mạch, rắc thêm
mứt trái cây vào sữa chua không béo…
Bữa tối
Hãy nấu một món nhẹ nhàng, nhanh chóng cho bữa tối để không mất quá nhiều thời gian
của những bà mẹ bận rộn.
Hấp thụ canxi
Khi cho con bú, bạn nên ăn những thức ăn giàu canxi như: sản phẩm từ sữa, cá hộp, ngũ
cốc nguyên hạt, lúa mì nguyên hạt, rau xanh, quả hạnh và các loại hạt, quả sung khô.
Và uống đủ lượng nước cần thiết
Chế độ ăn kiêng
Bà mẹ đang cho con bú thực hiện chế độ ăn kiêng sẽ rất an toàn khi ăn những thức ăn
không có thịt. Ăn những thức ăn có nguồn gốc động vật như các sản phẩm sữa cung cấp rất
nhiều canxi và protein. Những người không ăn các sản phẩm từ sữa thì nên bổ sung thêm
vitamin B12.
Thức ăn cay
Nếu bạn thích đồ ăn cay thì bạn vẫn có thể tiếp tục sở thích của mình khi cho con bú.
Nhưng hãy để ý đến khả năng bị dị ứng chỉ trong vài giờ cho con bú.
Thưởng thức thức ăn
Bạn ăn bất kì thức ăn nào thì con cũng cảm nhận được hương vị qua sữa mẹ. Nên ăn uống
lành mạnh và hạn chế việc dị ứng ở trẻ đối với loại thức ăn nào đó.
5. Cho trẻ bú như thế nào là đúng cách?
Mới sinh, người mẹ chưa có sữa ngay, chỉ có một thứ sữa non nhiều chất đạm, sinh
tố A, và những kháng thể. Sữa non bú rất tốt. sữa thực sự sẽ lên 3-4 ngày sau, nhiêu khi
phải kiên nhẫn cho bú vài tuần sữa mới lên nhiều, lên đủ. Bé sinh ra tự nhiên đã biết bú rồi
không cần ai dạy cả. không có một giờ giấc nhất định, một cân lượng nhất định nào cho
việc bú sữa mẹ. Bé muốn bú bao nhiêu thì bú, bé muốn bú lúc nào cũng được. Sữa mẹ dễ
tiêu nên chừng 2 giờ đến 2,5 giờ đồng hồ là bé đã đói. Mỗi ngày bé có thể bú từ 8-12 lần.
Mỗi lần bú không nên kéo giài quá 20 phút. Khi quen rồi thì cứ tới giờ bé đòi bú và cứ bú
no là ngủ.
Cơ thể người mẹ tạo ra sữa, bé bú sữa để phát triển mỗi ngày – 2 yếu tố này cùng
phối hợp nhịp nhàng với nhau. Tuy nhiên,không phải ai cũng gặp thuận lợi trong sự kết hợp
này. Trong lúc cho bú người mẹ nên tìm 1 thế ngồi thoải mái để đỡ mệt mỏi, tránh cho bé bị
trớ sữa
Sau đây là 1trong những phương pháp cho bé bú đúng cách:
+ Chọn một thế ngồi thoải mái, 2 vai thư giản. Nên mặc quần áo thoáng mát, không
cản trở việc cho bú
+ Bế bé nằm ngang trong lòng mẹ, ngực bé áp sát vào ngực mẹ. khi đang tập cho bé
bú có thể kê thêm 1 cái gối vào lòng.
+ Không bắt bé phải quay hoặc nhất đầu lên để bú.
+ Khi miệng bé ngậm lại thì mũi bé nên ở ngang mức với núm vú của mẹ.
+ Khi miệng bé hé mở phải cho bé bú bừng cách hướng núm vú đến phần trên của
miệng bé.
+ Việc cho bé bú đúng cách đem lại lợi ích cho cả mẹ và bé.
+ Lúc bé bú cần để ý giữ đừng để “cả vú lấp miệng bé”, bé sẽ ngạt thở.
+ Khi bé bú xong, nên nâng bé dậy vuốt hay vỗ lưng dúp bé ợ hơi dễ dàng.
6. So sánh sữa mẹ với sữa ngoài
Ngoài sữa mẹ là thứ sữa thiên nhiên, các thứ sữa dùng thay thế sữa mẹ để nuôi trẻ
gọi chung là sữa nhân tạo: sữa bò, sữa lừa, sữa dê, các loại sữa bột…. Chọn chế phẩm sữa
tùy theo tình hình kinh tế gia đình mà quyết định. Sữa bột có nhiều loại, nên xem kỹ phần
hàm lượng pha chế mà chọn cho phù hợp. Nhưng sữa bò là thứ sữa thông dụng nhất để thế
sữa mẹ. Trong những trường hợp người mẹ bị bệnh sữa bò là cứu tinh của bé.
BẢNG SO SÁNH SỮA MẸ VÀ SỮA BÒ
(Nếu phân chất 1 lít sữa bò và 1 sữa mẹ ta có kết quả như sau)
Sữa mẹ Sữa bò
Nước 900gr 900gr
Chất đạm 12-15gr 35gr
Chất béo 35gr 35gr
Muối khoáng 3gr 7gr
Chất đường 70gr 50gr
Sinh tố +++ ++
Bảng đối chiếu hàm lượng protein sữa mẹ - sữa bò (g/100ml)
Sữa mẹ Sữa bò
Tổng fibronecin 1,1 3,2
Albumin:casein 80:20 20:80
casein 1,1 2,7
Milk serum 0,7 0,6
Lacta bumin 0,26 0,11
Fero lactabumin 0,17 Vi lượng
Men khuẩn tan 0,05 Vi lượng
Như vậy các thành phần căn bản của sữa bò gần giống như sữa mẹ. Sữa bò tuy có
hàm lượng Ca cao hơn sữa mẹ nhưng hàm lượng P quá cao lại giảm thấp lượng hấp thụ Ca.
Cần phải bổ sung 100-200mg Ca mỗi ngày mới cân bằng tỷ lệ Ca có lợi cho hấp thụ. Ngoài
ra còn có các loại sữa thường dùng: sữa tươi, sữa đặc có đường, sữa bột. Nên chọn các loại
sữa bộ có chứa sắt. Sữa tươi ở nước ta ít được dùng cho trẻ em. Sữa đặc có đường và sữa
bột đều đã được khử trùng kỹ lưỡng nên chuyên dùng hơn.
Hàm lượng đường lactose trong sữa mẹ là 6-7g/ml, chiếm tới 90% trong khi sữa bò
chỉ có 4%, do đó nếu nuôi trẻ bằng sữa bò thường phải cho thêm 5% đường saccharose.
Đường lactose là loại đường kép có độ ngọt thấp nhất, đường mía (saccharose) ngọt nhất.
cho đườnnày vào sữa bò trẻ thích ăn hơn nhưng đường này dễ gây sún răng.
Mỡ có trong sữa mẹ dễ hấp thụ hơn sữa bò. Trẻ nuôi hoàn toàn bằng sữa bò thì có 15% trở
lên tổng nhiệt lượng về lượng mỡ không thu nhận được rồi thải ra ngoài theo phân. Trong
sữa mẹ có hai loại men kích thích là gall và serogan. Chúng vừa kích thích tiết mật lại vừa
hòa tan được mỡ có lợi cho việc hấp thụ.
Trong sữa mẹ có các loại acid béo cần thiết như acid linoleic, acid arachidonic, chiếm 1%
trở lên trong tổng nhiệt lượng, acid linoleic trong sữa bò chỉ có 0,4%.
Tỷ lệ Na:K trong sữa mẹ là 0,6:1. Để phát triển cơ thể trẻ cần nhiều K hơn Na. trong sữa
bò, hàm lượng Na, K, Cl cao gấp 4 lần sữa mẹ sẽ gây gánh nặng cho thận. Hàm lượng Ca
trong sữa bò cao hơn trong sữa mẹ. Trẻ nuôi bằng sữa bò thường có hiện tượng Ca trong
máu thấp bởi hấp thụ quá nhiều P còn VTM D lại nhận không đủ. Dùng sữa bột thì Ca nhận
được nhiều hơn Ca trong sữa mẹ nhưng nhận được rất ít K vì không hấp thụ mỡ được dẫn
đến mất VTM D.
Trong sữa mẹ hàm lượng sắt chỉ có 1mg.
Kẽm (Zn) là thành phần men phụ rất quan trọng trong quá trình trao đổi acid nuleic và tổng
hợp protein. Sữa non những ngày đầu chứa 1,6-20mg/l Zn. Hàm lượng K trong sữa bò gần
giống sữa mẹ nhưng về hiệu quả sinh học thì thấp hơn sữa mẹ.
Sữa mẹ có các loại men miễn dịch globulin IgA bảo vệ niêm mạc đường hô hấp và tràng
đạo. Men khuẩn tan có tác dụng diệt khuẩn, tăng theo thời gian bú, tăng tác dụng kháng thể.
Trong sữa bò có một loại protein, nếu cho trẻ ăn trực tiếp, nó sẽ ẩn trong tràng đạogây xuất
huyết dẫn tới thiếu máu dang thiếu sắt, điều này liên quan đến lượng dùng sữa
Sữa đặc có đường chứa 10% chất đạm, 10% chất béo nhưng đến 53% chất đường.
Cách pha chế ta làm như sau: nếu trên bình tương ứng với tuổi bé có khắc 2 vạch ta đổ
nước sôi đến vạch dưới, múc sữa đổ thêm cho đến vạch trên, lắc đều để nguội (35-37
0
C) là
cho bé bú. Nếu là 1 bình bú không có chia độ sẵn thì trung bình mỗi muỗng café sữa vụn
pha thành 40ml sữa cho bé.
Sữa bột là loại sữa phỏng theo sữa mẹ của các nhà dinh dưỡng học, rất phù hợp với
nhu cầu của trẻ sơ sinh. Trẻ ở độ tuổi này thường dùng sữa nguyên vẹn, còn có loại sữa bột
chua được cho thêm 1 chất chua để giúp sự tiêu hóa mau chóng bú loại sũa này bé không bị
bón và phân có màu hơi trắng. Ngoài các thứ sữa thông dụng kể trên, còn có những thứ sữa
đặc biệt dành cho những trường hợp đặc biệt có sự chỉ dẫn của bác sĩ: sữa có nhiều đạm,
sữa không có mỡ, sữa không có đường disaccharide… Các loại sữa này dùng để chữa các
bệnh rối loạn dinh dưỡng ở trẻ, do bác sĩ chỉ định tùy trường hợp, không thể tự ý mua dùng
được. Bảng chỉ dẫn sau giúp các bà mẹ tham khảo về khẩu phần ăn của bé mỗi ngày:
Tuổi Số bình bú Lượng sữa
Ngày đầu 6 Nước đường
Ngày thứ 2 6 10ml
Ngày thứ 3 6 20ml
Ngày thứ 4 6 30ml
Ngày thứ 5 6 40ml
Ngày thứ 6 6 50ml
Ngày thứ 7 6 60ml
Ngày thứ 8 6 70ml
Tuần lễ thứ 2 6 80ml
Tuần lễ thứ 3 6 90ml
Tuần lễ thứ 4 6 100ml
Tháng thứ 2 6 135ml
Tháng thứ 3 6 150ml
Tháng thứ 4 6 180ml
II. Dinh dưỡng cho trẻ 0-6 tháng tuổi:
1. Đặc điểm sinh lý:
Ở giai đoạn này trẻ có độ phát triển cơ thể rất nhanh, thường thì mỗi tuần tăng 180-
200g. Trung bình mỗi tháng tăng 700-800g, rất nhiều trẻ tới cuối tháng 4 tăng cân gấp 3 lần
lúc mới sinh. Chiều cao trung bình mỗi tháng tăng 3-3,5cm, đến cuối tháng 4 đã tăng 10-
12cm. Chu vi vòng đầu lúc mới sinh là 34cm, tới cuối tháng 4 trung bình mỗi tháng tăng 1-
1,5cm. Vòng ngực lúc mới sinh nhỏ hơn đầu 1,2cm tới cuối tháng 4 chu vi vòng ngực và
vòng đầu gần như nhau. Tuy tốc độ phát triển rất nhanh nhưng cơ thể còn hạn chế về khả
năng tiêu hóa và hấp thụ.
Dạ dày của trẻ thời kỳ này có thể tích nhỏ, nằm ngang, thiếu hụt các men tiêu hóa
nên hấp thu không hết thức ăn, cho dù chỉ là sữa mẹ, do đó dễ bị đầy bụng, ói. Với đặc
điểm như vậy, nên cho bé bú từ 40 - 60ml sữa trong khoảng thời gian từ 2 đến 4 giờ, tùy
vào sức bú của bé, có thể tăng dần lượng sữa. Bé bú sữa mẹ thường bú lâu hơn và mau đói
hơn bú bình.
Khi sinh ra lớp vỏ thận tiếp tục phát triển, dần dần thêm lưu lượng huyết quản làm
cho hệ số lọc ở cầu thận tăng lên. Vài tháng sau sinh, ống thận dài dần mới có đủ khả năng
hấp thụ trao đổi. Khi đầy tháng, diện tích bề mặt của mỗi quả thận tiểu cầu lọc qua
30ml/phút. Tới 3 tháng tuổi là 30ml/phút, 1 tuổi là 100ml/phút.
Từ tháng thứ 2-3 sau khi sinh, gan bắt đầu tiết dịch mật, kích hoạt men steapsin nhũ
hóa mỡ và hòa tan acid alipatic.
2. Dinh dưỡng:
Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo rằng trẻ sơ sinh nên được bú sữa mẹ hoàn toàn sau khi
sinh được 1 giờ đến hết 6 tháng đầu đời. Với khởi đầu đầy đủ kịp thời, an toàn và đúng cách
cho ăn thức ăn bổ sung trong khi tiếp tục bú mẹ cho tới hai tuổi hoặc hơn thế nữa.
Trong năm đầu tiên trẻ phát triển nhanh, sau sinh 6 tháng trung bình cân nặng tăng lên gấp
đôi. Để đáp ứng tốc độ phát triển trong 6 tháng đầu, nhu cầu các chất dinh dưỡng cũng như
năng lượng đều cao.
a) Nhu cầu năng lượng:
- Năng lượng trung bình theo cân nặng của trẻ ở lứa tuổi này trung bình là
103kcal/ngày. Hiện nay theo bảng nhu cầu khuyến nghị của Việt Nam trẻ từ 3-6 tháng nhu
cầu năng lượng là 620 kcal. Năng lượng cung cấp cho trẻ phân bố như sau 50% đáp ứng
nhu cầu chuyển hóa cơ bản và 25% cho hoạt động và 25% cho phát triển( tăng cân trung
bình 15-35 g/ngày). Trẻ dưới 1 tuổi có chỉ số giữa bề mặt da và cân nặng lớn hơn người
trưởng thành nên năng lượng tiêu thụ để giữ cho cơ thể ấm cao hơn. Sữa mẹ đáp ứng được
nhu cầu cho trẻ trong 6 tháng đầu nhưng thực tế nhiều lý do mà có tỷ lệ lớn trẻ ăn bổ sung
sớm trước 4 tháng.
b) Nhu cầu protein:
- Nhu cầu protein của trẻ dưới 1 tuổi cao do tốc độ phát triển của xương, cơ và mô.
Nhu cầu protein hằng ngày là 2,2g/kg cân nặng của trẻ, đến tháng thứ 4 của trẻ trở đi nhu
cầu protein của trẻ là 1,4g/kg/ngày. Đối với trẻ em nên sử dụng protein có giá trị sinh học
cao từ 70-85% như thịt, sữa, trứng. Nhu cầu protein của trẻ Việt Nam hiện nay khuyến nghị
là 21g cho trẻ từ 4-6 tháng.
c) Nhu cầu lipid:
- Nhu cầu lipid của trẻ ở trẻ đảm bảo trước hết cho nhu cầu năng lượng năng lượng
và các acid béo cần thiết và hỗ trợ cho việc hấp thu các vitamin tan trong dầu( A, D, E, K).
Nhu cầu lipid cho trẻ được xác định dựa vào lượng chất béo trung bình có trong sữa mẹ và
lượng sữa trung bình mà trẻ được bú.
* Lượng lipid trung bình trẻ được cung cấp từ sữa mẹ:
Tháng tuổi Lượng sữa Cân nặng Lượng lipid
g g/kg
Trai
<1
1-2
2-3
3-4
Gái
<1
1-2
2-3
3-4
719
795
848
822
661
731
780
756
3,8
4,75
5,6
6,35
3,6
4,35
5,05
5,7
30
33
36
35
28
30
32
32
8
7
6
5
8
7
6
6
d) Nhu cầu glucid:
- Người ta thấy 8% trong sữa mẹ là lactose xấp xỉ 7g trong 100ml sữa mẹ,trong chế
độ ăn uống 37% năng lượng của trẻ do glucose,theo tháng tuổi số lượng glucid trong bữa ăn
của trẻ thay đổi bởi các thức ăn bổ sung và khi nhu cầu năng của trẻ thay đổi
e) Vitamin
- Vitamin trong sữa mẹ đủ để cung cấp cho trẻ trong 4-6 tháng đầu khi bà mẹ được
ăn uống đầy đủ.
* Vitamin tan trong nước:
Đối với vitamin tan trong nước sữa mẹ cung cấp đầy đủ nhu cầu cho trẻ khi người
mẹ được ăn uống đầy đủ. Nhu cầu đề nghị vitamin tan trong nước chủ yếu dựa vào hàm
lượng các vitamin nhóm này và thêm giới hạn an toàn cho trẻ.
Bảng 1: Nhu cầu vitamin hiện nay đề nghị như sau:
* Vitamin tan trong dầu:
Vitamim (mg)Vitamin
(mg)
6-12 tháng 0-6 tháng
Thiamin 0.3
Riboflavin 0.3
Niacin 5.0
Vitamin C 30.0
Vitamin A, bình thường trẻ mới sinh vitamin A được dự trữ ở gan, lượng vitamin A dự
trữ phụ thuộc vào tình trạng dinh dưỡng của người mẹ. đối với trẻ dưới 6 tháng tuổi nhu cầu
vitamin A được đề nghị là 375μg/ ngày.
Vitamin D, đối với trẻ có sự phát triển nhanh của xương và răng với lượng vitamin D là
100IU/ ngày phòng được còi xương, và 400IU/ ngày thúc đẩy chuyển hóa canxi và phát
triển khung xương. Trong sữa mẹ hàm lượng vitamin D chỉ có 50IU/ lít do đó người ta
khuyên nên bổ sung lương vitamin D trong tuần đầu sau khi sinh là 400IU/ ngày.
Vitamin K trong sữa mẹ có thể thấp, chính vì vậy mà trẻ nhỏ cần được bổ sung sớm
vitamin K sau khi sinh. Những loại sữa thay thế sữa mẹ cần được bổ sung vitamin K cao
gấp 10-20 lần so với lương vitamin K trong sữa mẹ.
f) Các chất khoáng:
- Canxi cần thiết cho trẻ trong thời kì 0-6 tháng tuổi vì cần thiết tạo mô xương răng
với tốc độ rất nhanh, sữa mẹ đáp ứng được đủ nhu cầu canxi của trẻ tuy nhiên cũng đòi hỏi
đủ vitamin D để đảm bảo canxi được hấp thu đầy đủ. Nhu cầu hàng ngày của trẻ về canxi từ
400-600mg/ ngày, đồng thời đòi hỏi tỉ lệ thích hợp giữa canxi/ photpho là 2:1 đúng như sữa
mẹ, còn ở sữa bò là 1,2:1 do đó hiện nay khuyên tỉ lệ là 1:1 đến 2:1.
- Sắt: trong sữa mẹ lượng sắt thấp, chỉ có 0.3mg/ lít nhưng giá trị sinh học của sắt
trong sữa mẹ cao tới 50% do sắt gắn với protein lactoferin, nên lượng sắt này đủ để đáp ứng
cho nhu cầu của trẻ từ 4-6 tháng tuổi. trong sữa mẹ còn có kẽm rất dễ hấp thu, đặc biệt là tỉ
lệ kẽm/ đồng (1/5) trong sữa mẹ thích hợp hơn trong sữa bò (1/15) mà tỉ lệ này ảnh hưởng
tới sự tổng hợp cholesterol ở gan đảm bảo cho sự phát triển hệ thần kinh ở trẻ nhỏ.
2.1 Dinh dưỡng cho trẻ 0-4 tháng tuổi
Sữa mẹ là thức ăn chủ yếu của trẻ 0 – 4 tháng tuổi. Trong giai đoạn bú sữa, tháng
thứ 6, bất kể thu nhận dinh dưỡng từ mẹ ở mức độ nào thì hàm lượng protein trong sữa
cũng rất ổn định. Trong acid amin của sữa mẹ có nhiều ammonia lyasid và tauryl rất có lợi
để phát triển hệ thần kinh trẻ. Sáu tháng đầu đời là thời kỳ tế bào thần kinh não phân liệt và
hình thành mạng lưới dây thần kinh, rất cần đến tauryl. Còn ammonia lyasid là tiền chất của
tauryl. Gan của trẻ tổng hợp được rất ít tauryl, chỉ có thể nhận trực tiếp từ sữa mẹ.
Vấn đề dinh dưỡng của bé trong những năm đầu đời rất quan trọng. Bé không phải
chỉ cần thỏa mãn nhu cầu căn bản để sống như người lớn mà còn cần nhiều năng lượng để
tăng trưởng thể chất và phát triển trí thông minh. Vì vậy cần cung cấp đầy đủ năng lượng
cho bé. Nhu cầu các chất dinh dưỡng dành cho trẻ từ 0-4 tháng như sau:
Tháng
tuổi
Ca(mg) Fe(mg) Zn(mg) Si(mg) P(mg) Vitamin
A(đvqt)
0-1 400 10 3 15 20 2000
1 400 10 3 15 20 2500
2 400 10 3 15 20 2500
3 400 10 3 15 20 2500
4 400 10 3 15 20 3000
Tháng
tuổi
B
1
(mg) B
2
(mg) PP(mg) C(mg) D(đvqt) H
2
O(ml/kg)
0-1 0,4 0,4 4 30 400 110-135
1 0,7 0,7 7 30 400 100-150
2 0,7 0,7 7 35 400 100-150
3 0,8 0,8 8 40 400 100-120
4 0,9 0,9 9 40 400 100-120
Ghi chú: - Năng lượng cần 120Kcal/1kg thể trọng
- Protein cần 2-4g/kg thể trọng
- Mỡ chiếm 45% tổng năng lượng
Khi mẹ đủ sữa, cho trẻ bú một ngày từ 8-12 lần. Sữa mẹ dễ tiêu nên chừng 2h-2,5h
là phải cho bé bú, cho trẻ bú khoảng 15-20 phút/lần, 5-7 phút đầu đã được 2/3. Trẻ đói thì
lực hút mạnh, nhưng 1/2 thời gian sau cũng rất quan trọng vì sữa tiết ra lúc đầu hàm lượng
nước rất nhiều, nửa thời gian sau là thứ sữa giàu protein và mỡ, cung cấp phần lớn nhiệt
lượng là đợt sữa bú sau. Một số trẻ quấy khóc do khát sữa, mới bú sữa đầu đã ngủ, người
mẹ cần nắm chân tay bé, đánh thức để con bú tiếp rồi hãy cho ngủ.
2.2 Từ 4-6 tháng tuổi:
Nên cho trẻ ăn dặm bắt đầu từ thời điểm này là tốt nhất. Bởi vì nếu cho trẻ ăn sớm
quá thì men tiêu hóa chưa đủ, trẻ dễ bị sình bụng, rối loạn tiêu hóa. Muộn quá không tốt vì
trẻ sẽ suy yếu và mất thói quen ăn uống.
Trẻ tăng cân thì năng lượng cũng phải tăng nếu dựa hoàn toàn vào sữa mẹ thì sẽ
không cung cấp đủ năng lượng cho mọi hoạt động của trẻ vì vậy cần thiết phải cho trẻ ăn
thêm thức ăn dặm. Trong giai đoạn này dịch bọt đã có nhiều, men trong dịch bọt bắt đầu có
thể tiêu hóa thức ăn có bột, nhưng khả năng còn hạn chế chưa ăn được nhiều. Cho ăn dặm
phải theo các nguyên tắc sau: cho ăn từ từ, không đột ngột. Tập cho trẻ ăn dần với 1 thức ăn
mới. Chỉ cho ăn sau khi bú mẹ, lúc đầu chỉ cần trẻ nếm chút thôi, nửa muỗng, một muỗng
cafe là đủ. Ngày hôm sau tiếp tục món đó và tăng dần lên. Đến 5-7 ngày khi trẻ đã quen
mùi mới tập qua món khác. Dùng chén và muỗng đút ăn tốt hơn là cho vào bình bú, vì trẻ sẽ
bỏ vú mẹ. Sau đó trộn dần 2 món rồi 3 món thức ăn để có thức ăn hỗn hợp ví dụ như lúc
đầu bột + rau; sau đó bột + rau +nước thịt; rồi bốn món như rau + bột + trứng + thịt hay
đậu. Tuy nhiên khi cho trẻ ăn nên từ thức ăn loãng chuyển dần sang thức ăn đặc, cho trẻ ăn
từ ít tới nhiều. Mỗi ngày cho trẻ ăn từ 4-6 lần.
Nhu cầu dinh dưỡng thức ăn hàng ngày cho trẻ:
Nhiệt lượng(Kcal) 110/kg Vitamin A 700đvqt
Protein(g) 2-4/kg Caro ten 1,2 (mg)
% mỡ trong tổng nhiệt
lượng
45% B
1
0,4 (mg)
Canxi(mg) 400 B
2
0,4 (mg)
Fe(mg) 10 PP 4 (mg)
Zn(mg) 3 C 30 (mg)
Se(mg) 15 D 400 (mg)
I
2
(mg) 40 E 3 (mg)
Mỗi lần khi cho trẻ ăn dặm chỉ cho ăn một thứ
a. Bổ sung Fe
Lượng Fe trữ được ở giai đoạn thai nhi đã dùng hết thì cần được bổ sung. Khả năng
tiêu hóa hạn chế, chưa thể tiếp nhận các thức ăn giàu sắt. Bổ sung sắt như thế nào là vấn đề
nổi cộm ở thời kỳ này. Fe là nhân tố quan trọng để tạo hồng cầu và nhiều loại men khác, vì
vậy cần phải cho trẻ ăn phụ thức ăn có Fe nếu không sẽ thiếu máu kéo theo việc sẽ ảnh
hưởng tới thể hình và trí lực chậm phát triển.
Cho trẻ ăn bắt đầu từ trứng gà vì lòng đỏ trứng gà chứa 7,0 mg Fe/100g, hơn nữa
lòng đỏ trứng gà rất dễ hấp thụ, giảm thiểu phản ứng phụ. Đồng thời, lòng đỏ trứng gà còn
có chứa Protein, chất béo, canxi, có tác dụng giúp cho sự phát triển của não, của hệ xương,
cơ và các tế bào thần kinh của bé. Cách làm là, luộc chín trứng, sau khi trứng chín, lấy ra
lòng đỏ dùng thìa nghiền nhuyễn, bắt đầu mỗi ngày một nửa.Nên cho trẻ ăn vào lúc đói một
giờ trước bữa ăn, cho ăn bằng thìa, Sau đó tuỳ theo sự hấp thu của trẻ có thể tăng lên mỗi
ngày một lòng đỏ trắng.
Khoảng 5 tháng cho ăn gan nghiền mịn với một ít muối. Lấy 250g gan gà hoặc gan
lợn rửa sạch, trần nước sôi cho cứng bề mặt. Lấy dao bằm mịn rồi xào chín. Bắt đầu cho ăn
một thìa cà phê một lần, thấy phân bình thường mấy ngày liền thì tăng lên mỗi ngày hai
thìa.Cho ăn gan giữa 2 bữa ăn, uống thêm vitamin C hay các loại quả cam quýt, thúc đẩy
hấp thụ Fe. Không được đồng thời cho uống sữa hay thứ gì khác. Ngoài ra còn có thể cho
trẻ ăn đậu phụ trộn tương vừng, các loại ngũ cốc chứa Fe (đậu tương,đậu xanh). Khi cho ăn
có thể cho thêm ít muối, không nên cho ăn quá mặn gây khó khăn cho thận, khi cho ăn cũng
thực hiện tương tự như trên từng thứ một.
Tim động vật có hàm lượng Protein, photpho và sắt cao, có tác dụng bổ máu, thúc
đẩy sự phát triển của não. Đồng thời có thể đề phòng chống bệnh thiếu máu, bệnh mềm
xương, thiếu dinh dưỡng.
Cách làm bột tim cho bé là lấy 50 – 80 gam tim lợn hoặc tim gà tươi mới, rửa sạch và thái
ra, cho vào nồi cháo trắng hoặc nấu chín, cho trẻ ăn khi còn ấm. Thịt lợn nạc giàu Vitamin
và ít chất béo, vị thơm ngon, trẻ thích ăn. Cách làm là lấy lượng thịt vừa phải, tươi ngon,
rửa sạch thái chỉ, thêm muối và gia vị, hấp chín hoặc rang chín. Cách 3-5 ngày cho trẻ ăn
một lần.
b. Bổ sung chất bột:
Thời điểm này, trẻ bắt đầu có nhiều dịch bọt,báo hiệu đã có hiệu đã có men amylase,
có thể cho ăn dễ tiêu hóa nhất là nước cơm đặt. Dù cho là cho ăn loại tinh bột mua hay tự
làm đều phải nấu chín kỹ. Nếu ăn bột chưa chín kỹ thì không thể tiêu hóa và hấp thụ được,
khi vào tới ruột gặp khuẩn sẽ lên men, phân có mùi chua thối do chưa tiêu hết. Nếu cho bột
đậu vào bột nấu lại càng phải rang sấy thật kỹ bởi trong đậu tương có độc tố xà phòng, men
kháng trypsase…là thành phần có hại, gia nhiệt trên 90
o
C mới phân hủy được các chất này.
Khi nấu bột phải từ từ cho nóng dần, không được cho sôi vài phút mới đem ra. Phải cho trẻ
ăn dần dần, bắt đầu từ một thìa 4- 5 ngày sau thêm một thìa nữa. Mỗi lần chỉ có thể cho ăn
3 thìa (1,5ml).
c.Các loại hoa quả nghiền:
Là thức ăn cung cấp vitamin và chất khoáng. Rau xanh có chứa rất nhiều chất vi
lượng và khoáng chất cũng là chất mà sữa mẹ sau 6 tháng sau khi sinh bị thiếu. Thực phẩm
này có lợi cho tiêu hoá, phòng chống bệnh táo bón, giảm độc tố trong đường tiêu hoá và
không bị nhiễm các loại thuốc trừ sâu. Với các loại rau thì rửa sạch thái nhỏ, luộc chín,
chuyển sang rổ lưới đồng, lấy thìa nghiền, cho trẻ ăn phần lọc được. Cho thêm dầu thực vật
và muối, nấu cho đến khi thành bột rau, bắc ra để nguội rồi dùng thìa cho bé ăn. Có thể cho
trẻ ăn luân phiên, một bữa ăn quả ép một bữa ăn rau nghiền. Mỗi loại hoa quả cho ăn liền
vài ngày mới làm cho tràng vị quen tiêu hoa và hấp thụ, không nên thay đổi món ăn quá
nhiều và dày. Nên chọn các lọai hoa quả mềm như: Chuối tiêu, táo xay thành nước sinh tố,
bí đỏ nấu thành chè Sau đó chuyển sang rau cải, không dùng các loại thớ to như rau
muống, rau cần Giới thiệu cách thức nghiền và cách thức xay hoa quả tươi hoa, quả nấu
chín:
- Cách thức nghiền :
+ Bột rau: Rửa sạch lá rau (cải, dền, cải thảo, bắp cải…) trước, bỏ cuống, xé nhỏ, chần qua
nước sôi rồi vớt ra, để vào một chiếc rá kim loại, dùng thìa canh dằm hoặc nghiền nát, lọc
bột rau ra. Nếu không có rá kim loại thì có thể xắt nhỏ rau ra, cho dầu ăn vào chảo và xào
bằng lửa lớn cho mềm. Một cách nữa là bỏ vào may xay sinh tố để xay nhuyễn và cho vào
cháo đun sôi lại.
- Các món hoa quả xay :
Vào khoảng từ 4 tháng tuổi trở đi là bé bắt đầu có thể ăn được tất cả các loại hoa quả
rồi, tuy nhiên nếu có điều kiện thì nên cho bé ăn hoa quả theo đúng mùa thì tươi hơn. Và
cũng nên cho bé ăn theo thời tiết, ví dụ trời lạnh quá thì cũng ko nên cho bé ăn các loại hoa
quả có tính lạnh như đu đủ, các loại dưa…Và ngược lại, trời nóng thì tránh các loại hoa quả
nóng như xoài, mít, dứa…
+ Hoa quả xay tươi:
Có thể xay bất cứ loại hoa quả nào, trước khi xay cần rửa nước muối sạch, sau đó
bóc vỏ, bỏ hạt, cắt nhỏ rồi cho vào máy xay thật nhuyễn. Có thể xay lẫn hai ba loại quả với
nhau để thay đổi vị, ví dụ xay chuối lẫn với na hoặc nhãn hoặc thêm một miếng đu đủ hay
dứa nhỏ cho thơm. Thỉnh thoảng để đổi vị, có thể cho vào một nửa cốc hoa quả xay một
đến hai thìa sữa bột hoặc một nửa thìa mật ong.
Nhờ xay nhuyễn, lượng hoa quả bé ăn được sẽ nhiều hơn rất nhiều.
- Hoa quả nấu chín :
Cũng có thể dùng bất cứ loại hoa quả nào, có thể làm riêng hoặc trộn lẫn với nhau.
Sau khi rửa sạch, bỏ hạt, cắt nhỏ, trộn vào một ít đường theo tỷ lệ 100 g hoa quả thì cho
khoảng 10-20 g đường, có thể cho một dóng mía chẻ ra để hấp cùng cho thơm ( trước khi
xay thì bỏ mía ra). Sau đó cho vào nồi hấp hoặc cho vào lò vi sóng hấp chừng 10 phút, lấy
đũa chọc vào thấy quả mềm nhũn là được. Sau đó cho vào máy xay xay nhuyễn. Món này
cũng có thể trộn thêm một hai thìa sũa hoặc tý mật ong để thay đổi.
Món quả xay chín thường hay làm táo không, hoặc táo trộn với chuối hoặc lê hoặc
na, hoặc cà rốt, hoặc vắt vào một ít nước cam. Các loại hoa quả ít nước thì trước khi hấp có
thể cho vài thìa nước tráng dưới đáy hộp để cho mềm nhanh.
Bạn cũng có thể cho vào một ít bột sắn dây hoặc ít bột ăn liền là thành luôn một món cho
bữa ăn lót dạ buổi chiều cho bé được
Rau xanh có chứa rất nhiều chất vi lượng và khoáng chất cũng là chất mà sữa mẹ
sau 6 tháng sau khi sinh bị thiếu. Thực phẩm này có lợi cho tiêu hoá, phòng chống bệnh táo
bón, giảm độc tố trong đường tiêu hoá và không bị nhiễm các loại thuốc trừ sâu, rửa sạch,
xay nhuyễn, laọi đi các cọng cứng, cho cũng với nước rau và nồi. Cho thêm dầu thực vật và
muối, nấu cho đến khi thành bột rau, bắc ra để nguội rồi dùng thìa cho bé ăn.
Cá giàu protein, canxi, phôtpho,sắt và ít chất béo đồng thời dễ tiêu hoá. Cách làm
bột cá là bỏ da, xương và vảy cá đi. Cho lượng nước thích hợp dầu thực vật và muối, nấu
chín, khuấy đến khi nhuyễn, bắc ra để nguội cho trẻ ăn. Cách 3 – 5 ngày cho trẻ ăn một lần,
có thể chọn cá chéo hay cá trắm cỏ.
Trong nước quất có chứa nhiều đường, khoáng chất, các tố chất caroten và các Vitamin C,
B1, B2, có tác dụng tạo cảm giác ngon miệng và tăng sự thèm ăn, ngoài ra còn có khả năng
chống viêm phổi. Cách làm nước quất là chọn những quả quất sạch, tươi, bỏ vỏ và htạ, vắt
lấy nước.
III. Dinh dưỡng cho trẻ 6-12 tháng:
1. Đặc điểm sinh lý:
Trẻ 6-12 tháng có rất nhiều thay đổi: từ biết ngồi đến biết trườn, biết nằm chuyển
sang bò, biết đứng rồi tập đi. Trẻ cần có 1 năng lượng khá nhiều thu được từ thức ăn để thỏa
mãn các hoạt động đó. Tuy nhiên lúc này, khả năng tiêu hóa và hấp thụ còn hạn chế, vẫn
còn 1 khoảng cách giữa thu nạp và hấp thụ.
Trẻ bắt đầu mọc răng, sau khi mọc răng sữa trẻ thích cắn đồ vật, thích cắn các vật
giòn cứng. Khi nhai, thức ăn trong miệng đã có nhiều dịch bọt, men tiêu hóa chất bọt tăng
dần, theo đó các men gastrin ở dạ dày, men trypsase, amylopsin và các loại men tràng đạo
cũng nhiều lên, dịch mật cũng trợ giúp tiêu hóa mỡ, dùng vào tiêu hóa ở tràng đạo. thận
phát triển hơn 1 bước: hệ số lọc qua tiểu cầu thận tăng, hệ số thu hồi qua ống thận cũng
tăng, thận đã có chức năng bài tiết Na có thể cho trẻ ăn thức ăn mặn, nhưng chớ cho trẻ ăn
quá mặn tránh tồn tích Na qua nhiều dẫn tới phù.
2. Dinh dưỡng:
Trong giai đoạn này đặc biệt là từ tháng thứ 9-12 là thời kỳ tập cho bé cai sữa, thời
kỳ này thức ăn cho bé chuyển từ sữa mẹ sang sữa bò, các chế phẩm sữa khác, các thức ăn
bổ sung.
Cho trẻ ăn các loại bột để làm thay đổi vấn đề sữa vón cục trong dạ dày, thúc đẩy
thụy tạng bài tiêt men amilaza, tăng số lượng calo của khẩu phần lên 75% mà không cần
tăng số lượng nước, chuyển dần glucid dưới dạng đường kép sang đường đơn. Các loại bột
thường dùng cho trẻ như sau.
- Bột ngũ cốc: bột có dạng glucid dưới dạng tinh bột(70%) nhưng ít protein,
lipid ít các muối khoáng như NaCl, Ca, nhưng có nhiều Mg và P, trong bột có chứa nhiều
Fe. Các loại bột hay dùng như bột gạo, bột mì. Bột dùng dưới dạng: nước cháo, dùng để
pha sữa bò, bột đặc, nấu với nước, nước rau, nước canh hay với sữa
- Bột của các loại củ: bột khoai(khoai lang, khoai tây) có tinh bột khá lớn và nhiều xơ;
bột sắn dây hạt tinh bột nhỏ nên dễ tiêu hóa như bột gạo.
- Bột đậu: có nhiều loại đậu, mỗi loại đậu có nhiều tỷ lệ khác nhau về protein, lipid,
đường. ví dụ: đậu đen có 16% lipid và 47,8% protein, đậu trắng có 16,8% lipid và 21,87%
protein, đậu nành trong 1 lít sữa đậu nành có 42g protein, 4g lipid, 71g gluxid và 489calo
đậu nành là thức ăn tốt vì có nhiều protein thực vật chất dầu, có vitamin A, B
1
, B
2
, PP, E, K.
Ta có thể chế biến sữa đậu nành như sau say 1kg đậu khô, để hạt đậu vỡ và bong vỏ, sàng
để loại vỏ đậu, ngâm đậu trong nước lã 6 giờ, cho đậu vào cối đá xay, vừa xay vừa đổ thêm
7lít nước, sữa chảy ra khỏi cối đem lọc qua vải thưa bỏ bã, đun sôi trong 20 phút pha thêm
10% đường và 3g muối cho 1lít.
- Có thể cho trẻ ăn đậu phụ. Đậu phụ là protein của sữa đậu nành cô lại bằng một thứ
men chua, trong 100g đậu phụ có chứa 10,9g protein, 5,4g lipid, 0,7g glucid và 93calo.
Dinh dưỡng và Vitamin cần có trong thức ăn của trẻ
Nhiệt lượng(Kcal) 100/kg Vitamin A 700 đvqt
Protein (g) 2-4/kg Caroten 1,2 (mg)
%mỡ trong tổng nhiệt lượng 30-40% B
1
0,4 mg
Ca (mg) 600 B
2
0,4 mg
Fe (mg) 10 C 3,0 mg
Zn (mg) 5 PP 4,0 mg
Se (mg) 15 Vitamin D 400 đvqt
I
2
(mg) 50 E 4 mg
Trong khi trẻ đang bước vào giai đoạn mọc răng và đứng dậy, sương và răng đều
phải canxi hóa do vậy phải bổ sung 1 lượng thích hợp canxi. Cũng cần bổ sung vitamin D
để thúc đẩy hấp thụ canxi và cốt hóa cho xương. Nếu điều kiện thời tiết cho phép nên cho
trẻ ra ngoài tắm nắng để tổng hợp vitamin D
3
. Thúc đẩy hấp thụ Ca. món ăn: nên cho trẻ ăn
thường xuyên ăn đậu phụ trộn tương vừng và các thứ có Ca.
Trẻ trong giai đoạn này rất dễ mắc chứng thiếu Fe trong máu. Hãy cho trẻ ăn nhiều
thức ăn động vật dễ hấp thụ và chứa nhiều huyết sắc tố Fe như: gan, tiết, thịt nạc màu
hồng… Tốt nhất nên có 2 lần kiểm tra huyết sắc tố và tế bào máu. Nếu huyết sắc tố là
11g/100ml, tế bào máu là 34% chứng tỏ là thức ăn có đủ chất theo nhu cầu, nếu thấp hơn
phải hỏi ý kiến bác sĩ và phải cho uống thuốc Fe.
Cần cho trẻ ăn thêm rau xanh và hoa quả để cung cấp thêm vitamin, caroten, muối
vô cơ, các loại chất xơ,còn có acid hữu cơ chất thơm và sắc tố. Ngoài ra còn có các nguyên
tố vi lượng như: Na, K, Ca, Mg…Có thể điều hòa độ acid do các thức ăn phát sinh ra nhằm
duy trì độ pH cho cơ thể.
Trong các loại rau, rau xanh sẫm, cà rốt, cà chua tươi, đều là món ăn trẻ em thích
nhất.
Người ta thường dùng những loại thức ăn sau đây:
* Nước rau luộc: cách làm
Khoai tây(hay các thứ khoai khác) 400g, rau tươi(rau muống, rau ngót, carot, bầu
bí…) 100g, muối 5g cho vào 1 lít nước đun sôi cho thật nhừ, nghiền kỹ, lọc lấy nước. Nước
rau luộc có nhiều muối khoáng, nhiều vitamin B, C, kích thích mạnh sự bài tiết dịch vị.
Nước rau dùng để pha sữa, nấu bột, làm súp rau.
* Súp rau: cách làm
Lấy 200ml nước luộc rau làm theo như trên, cho vào một thìa súp bột(9g) nấu thật
chín, sau đó lấy một thìa khoai nghiền kỹ và một thìa nhỏ rau tươi nghiền kỹ trộn vào nước
rau với 2g muối, 4ml nước mắm. Ngoài ra cho thêm vào súp 1 thìa café sữa hộp hoặc một
lòng đỏ trứng gà hoặc 20-30g thịt.
* Rau nghiền, khoai nghiền: rau tươi(carot, rau xanh…) 100g, khoai 100g, bơ hoặc
dầu 5g, nước rau 200g, nươc mắm 5ml. nghiền kỹ các thức ăn này rồi cho vào nước rau đun
sôi sau đó cho thêm thịt trứng.
Có thể cho ăn thêm nấm hương khô,nấm tươi, nấm rơm có mùi vị thơm ngon thúc
đẩy ăn uống. Các loại nấm chứa nhiều thể đường,có tác dụng chống ung thư,tăng độ miễn
dịch, loại trừ chất lạ, một số có giá trị về dược lý.
Trong giai đoạn này mỗi ngày nhất thiết phải được ăn đủ 600ml sữa bò hay sữa bột.
Tuy đã được ăn bữa phụ, nhưng khả năng tiêu hóa của tràng vị còn chưa thích ứng, phải
thải ra một phần theo phân.Với trẻ, lúc này cũng phải nhờ vào sữa bởi vì sữa còn có canxi
dễ hấp thụ mà các thứ khác không thể có được, cho nên trong thực đơn phải có thời gian ăn
sữa (3 lần vào sáng sau giờ ngủ trưa,trước giờ ngủ tối). Nếu mỗi lần ăn không hết 200ml có
thể cho ăn bánh sữa, hấp cháo sữa tóm lại sao cho trẻ ăn hết là được.
Cho trẻ cho ăn thức gặm:
Khi trẻ đã có nhiều kinh nghiệm ăn uống hơn, ta có thể tăng cường thêm những thực
phẩm cắt miếng được nấu mềm. Ở thời điểm 7 – 9 tháng, bé đã sẵn sàng với các món ăn cần
tới khả năng gặm.
Một số món ăn dễ gặm và tốt cho tiêu hóa ở thời điểm này bao gồm: bánh mỳ, bánh
bao, chuối chín, dưa thơm, cà rốt luộc chín, khoai lang Khi ngậm nhai như vậy, dịch bọt
được tiết ra đồng thời thức ăn rắn lại có thể thúc đẩy răng mọc. Nếu trẻ không được tập
dược mà chỉ ăn bột, thì chức năng nhai sẽ mất đi, không được rèn luyện, ảnh hưởng đến
phát triển cơ thể. Khi cho trẻ ăn, phải cho người lớn theo dõi, không được để bé một mình
với các món ăn này đề phòng nguy cơ bé bị hóc, ngẹn hay nhét bánh vào mắt, mũi gây
nguy hiểm.
IV. Những điều cần lưu ý trong dinh dưỡng trẻ sơ sinh:
1. Nếu mẹ không đủ sữa?(0-4 tháng)
Các nguyên nhân làm giảm sự tiết sữa
+Cho con bú chậm sau sinh từ 2 -3 ngày. Mẹ có các bệnh lý như: suy tim, thiếu máu,
suy dinh dưỡng…
+Mẹ còn quá trẻ: dưới 18 tuổi, tuyến vú chưa phát triển.
+Mẹ không tăng cân đầy đủ khi mang thai.
+Mẹ dùng các thuốc ức chế sự tiết sữa: aspirin, kháng sinh, chống dị ứng.
Làm gì để mẹ có nhiều sữa?
Cho trẻ bú đều: tốt nhất, ngay sau khi sinh trong vòng nửa giờ đầu người mẹ nên cho
trẻ bú. Vì sữa mẹ tiết ra theo phản xạ, bú sớm có tác dụng kích thích bài tiết sữa sớm…
Trong những ngày đầu sữa còn ít, cần cho trẻ bú nhiều lần, sữa sẽ “về” nhiều hơn. Nếu đã ít
sữa mà lại cho trẻ bú ít hoặc ăn bổ sung sữa ngoài, trẻ sẽ bỏ bú và sữa cạn dần, dẫn đến mất
sữa. Trẻ được bú sữa non sẽ phòng bệnh được tốt. Động tác bú có tác dụng co hồi tử cung
và cầm máu cho người mẹ sau sinh.
Dinh dưỡng đầy đủ: để góp phần đảm bảo có đủ sữa cả về số lượng lẫn chất lượng,
người mẹ cần ăn uống đầy đủ. Khẩu phần ăn cần tăng thêm khoảng 350 Kcal/ngày, tương
đương khoảng 1/4 lượng thức ăn so với ngày thường. Bữa ăn của mẹ cần đảm bảo đủ 4
nhóm thực phẩm. Nhóm chất bột (cơm, khoai củ, bánh mì, bún, bánh phở…); Nhóm chất
đạm (thịt, cá, trứng, sữa, tôm, cua, đậu đỗ…); Nhóm chất béo (dầu mỡ, bơ, lạc…); Nhóm
viatmin và khoáng chất (rau xanh, quả chín). Mỗi bữa bà mẹ nên ăn thêm một bát cơm hoặc
một củ khoai cùng ít thịt hoặc cá, trứng, đậu đỗ, rau củ và quả chín…
Uống đủ nước: người mẹ cần cung cấp đủ lượng nước cần thiết cho cơ thể, có thể là
uống sữa hay nước ép trái cây đều rất tốt trong thời gian cho bé bú, uống đủ nước giúp cơ
thể mẹ tiết ra nhiều sữa cho bé hơn.
Nghỉ ngơi đầy đủ: các bà mẹ đang trong thời kỳ cho con bú rất cần được nghỉ ngơi
đầy đủ và thường xuyên đi dạo để hít thở không khí trong lành. Để đảm bảo sức khỏe và đủ
sữa cho con bú, bạn cần ngủ ít nhất 10 tiếng mỗi ngày, 2 - 4 tiếng ban ngày và 6-8 tiếng ban
đêm. Stress ảnh hưởng lớn đến việc tiết sữa của cơ thể người mẹ, vì thế nghỉ ngơi và thư
giãn là cách giúp tăng cường lượng sữa. Ngoài ra, người mẹ cần ăn kiêng những chất ảnh
hưởng đến chất lượng và số lượng sữa như: rượu, cà phê, thuốc lá… Không nên uống các
loại thuốc tân dược khi không có chỉ định của bác sĩ.
2. Sử dụng các chế phẩm sữa như thế nào?
Sữa đậu nành: cứ 100g đậu tương có 36 – 40g protein có giá trị cao nhất trong các
loại protein thực vật, tính chất acid amin gần giống casein trong sữa bò. Ở thị trường có
nhiều loại sữa đậu nành, tuy nhiên cần lưu ý: sữa đậu nành phải có tỉ lệ protein là 15% trở
lên mới dùng được. Trong sữa đậu nành còn có các thành phần có hại, không tiêu hóa được
là các chất độc tố xà phòng, men kháng trypsin, phải đun sôi trên 90
0
C mới phá hủy được
các độc tố này. Vì thế chế phẩm đậu dùng thay sữa phải dược đun sôi rồi sấy phun, tạo bột
thì trẻ ăn mới không cồn ruột, buồn nôn và đau bụng tả. Bột đậu chưa xử lý trước thì phải
đun sôi kỹ mới cho trẻ ăn.
Protein cá thay bột sữa:
Trong 1 gam cá tươi có 15 – 20g protein. Thịt của cá mềm, protein có chất lượng
cao. Đã có người dùng cá thay cho chế phẩm sữa để nuôi trẻ 2,5 tháng trở lên. Cá đánh vảy,
bỏ ruột cho vào hấp chín, loc bỏ xương cho vào nấu với bột. Trẻ 2,5 tháng mỗi lần 1 thìa.
Trẻ 4,5 tháng trở lên có thể nấu với bột , mỗi lần một thìa.
Bột trộn trứng gà:
Có thể tự chế biến như sau: Gạo tẻ 500g xay thành bột mịn, sao nóng, trứng gà 4 quả đánh
tan khuấy đều, muối ăn 3g, viên cacbonat Ca nghiền thành bột, đổ 3 thứ vào bột đang sao,
vừa đổ vừa khuấy cho tới khi trứng sao không bám, đánh tan là được. Gia công theo quy
mô lớn : 50kg bột gạo, 15kg trứng gà, 0,3kg muối 300g bột cacbonat can xi sấy khô, trộn
đều. Loại bột này dùng ho trẻ lớn.
3. Người mẹ đi làm vắng giải quyết thế nào?(5-8 tháng)
Khi người mẹ vắng nhà, người lớn trong nhà cho trẻ ăn, đảm bảo đủ 3 bữa sáng,
chiều, tối. Nếu xếp được thời gian thì cho bú giữa ca sáng, chiều. trường hợp sữa nhiều, có
thể dùng bình hút sữa đặt vào nơi mát, mang về đun sôi cho trẻ ăn, vừa tránh được căng sữa
lại tránh được giảm lượng sữa. Sữa mẹ khi vắt ra có thể để ở nhiệt độ thường 3-4 giờ. Nên
dùng sữa này cho con ăn bởi trong sữa có các kháng thể có thể tránh viêm nhiễm cho trẻ.
Một khi trẻ bị sốt hoặc đau bụng tả, dùng sữa mẹ vắt ra để trong tủ lạnh(ngăn mát) 4 giờ ở
nhiệt độ 40
0
C, lấy ra cho uống trực tiếp không phải tiêu độc. Như thế có thể giảm thiểu tổn
thất kháng thể và Vitamin. Trẻ sẽ mau khỏe.
4. Trẻ không bú chai sữa giải quyết thế nào?
Có một số trẻ từ chối bú chai sữa, người mẹ phải dùng thìa bón cho con ăn thường
không kịp, vì khi đói trẻ mút rất mạnh. Biện pháp tốt nhất là lấy một chiếu cốc cao ghé vào
môi để trẻ tập uống sữa, mỗi lần chỉ rót vào cốc 30-50ml sữa, ghé cốc vào giữa môi trên
môi dưới, giữ nguyên như thế để trẻ uống cạn hết, tùy tình hình mà rót thêm khi trong cốc
sắp cạn. cho con ăn sữa bằng cốc có ưu điểm là cốc luôn luôn được rủa sạch, tiêu độc sạch
sẽ, không như vú caosu dễ cáu bẩn, nhiễm khuẩn.
Một điều lợi ích của việc bỏ bú bằng chai sữa là: tránh được biến dạng khoang miệng, vẩu
răng do hàm trên nhô ra ảnh hưởng đến chức năng nhai cắn và vẻ đẹp khuôn mặt. mới đầu
nên dùng loại cốc nhựa mềm, sau mới dùng loại ca, cốc có quai người lớn đỡ vào đáy cốc
khi nào trẻ tự chủ được mới bỏ tay.
5. Trẻ ăn không hết định lượng giải quyết thế nào?
Trẻ 7-8 tháng đã mở rộng phạm vi hoạt động: biết lẫy, lật nghiêng, biết ngồi vững, lê
chân hoặc bò. Lúc này trẻ tiếp xúc với ngoại cảnh nhiều hơn, đã thích chọn lựa, người lớn
không cho ăn thì khóc, không cho ăn thì hất gạt đi. Thấy người lớn ăn cơm thì nôn nóng,
đòi ăn các thứ trong mâm. Chuẩn bị thức ăn phụ hay sữa thì từ chối, chỉ cần trẻ ngồi vững,
biết cầm thúc ăn đưa vào miệng là có thể cho ngồi gần mâm cơm đưa cho thức ăn đã chuẩn
bị. Trẻ sau 6 tháng thì chức năng thận đã có những tiến triển rõ hơn trẻ 3 tháng, đã có thể ăn
được các thức ăn mặn chút ít. Nhưng nếu trong giai đoạn này không nên cho trẻ ăn thức ăn
quá mặn. Để trẻ ngồi gần mâm cơm sẽ thúc đẩy trẻ ham muốn ăn, sẽ ăn hết lượng thức ăn
chuẩn bị, thỉnh thoảng có thể cho chút ít món ăn chay mềm sẽ gây hứng thú cho trẻ. Nhưng
cần cố gắng để sau khi trẻ uống sữa xong thì hãy cho ăn.
Có khi trẻ thay đổi định lượng, mấy ngày liền ăn lại rất tốt, lại không muốn ăn nữa,
hoặc thích ăn một loại thức ăn mấy ngày liền, lại thay món khác mấy ngày liền, đó là hiện
tượng bình thường. Chẳng hạn như: vì ăn liền mấy ngày gan lợn, đậu phụ tương
vừng chứa nhiều Fe, khi ferubumin đã bão hòa, trẻ sẽ đòi ăn thứ dinh dưỡng khác,hoặc
thích ăn một số loại thức ăn rau quả để bổ sung chất cần thiết. Việc chọn lựa thức ăn chỉ là
do sinh lý đòi hỏi, ăn no rồi thì tự nhiên sẽ cảm thấy không thích ăn nữa mà từ chối.
6. Trẻ thích ăn ngọt giải quyết thế nào?
Trẻ bú sữa mẹ nếu quen ăn các thứ rau quả nghiền nát không cho muối, đường thì về
cơ bản có thể uống được khi đun sôi và thức ăn không cho đường. Trẻ nuôi bộ thì dùng loại
sữa bột cao cấp, tức là dùng đường lactose, không dùng đường mía, cũng có thói quen
không ăn thức ăn cho đường và uống được nước đun sôi. Trẻ cho sữa bò, khi cho sữa cho
thêm 5% đường mía. Vì đường mía ngọt hơn đường lactose, trẻ từ chối ăn loại sữa có
đường lactose, hoa quả, rau không cho đường. Có người cho đường mía vào thức ăn phụ
nên khi không cho đường trẻ không ăn. Gặp tình huống này phải giảm dần cho đến khi hết,
lúc này trẻ đã dần ăn được tinh bột. Trong tinh bột có đường. Trẻ nuôi bằng sữa bò cũng
nên giảm dần từ 5% xuống 4%, 3%, 2%, 1%. Tới khi không cho đường nữa. Vì 5- 8 tháng
tuổi trẻ bắt đầu mọc răng. Tối đi ngủ mà có đường mía trong khoang miệng sẽ lên men, gây
sún răng. Khi trẻ bắt đầu ăn phụ, phải cố gắng cho trẻ uống nước đun sôi, và nhất là buổi tối
không nên cho ăn kẹo. Cần cho trẻ súc miệng bằng nước pha chất dịch chống sâu răng cho
từng lứa tuổi.
7. Tập cho trẻ tự ăn?
Khi cho trẻ ăn phụ tốt nhất là để cho trẻ tự cầm thìa, học cách xúc thức ăn. Mới đầu,
trẻ chưa biết cầm thế nào, mặt nào lõm mặt nào lồi, tùy ý xúc, có khi thì quá nhiều cầm thì
cũng chưa vững. Lúc này, người lớn đỡ tay để đưa trẻ lên mồm, hoặc lấy một chiếc thìa
khác đỡ phía dưới để nó ăn được. Bình thường có thể lấy một chiếc thìa nhựa, hộp giấy và
vài cái vỏ sáp hay quả bóng bàn cho trẻ tập xúc. Nó sẽ dần tự mình xúc thức ăn, đưa lên
mồm. Phải mất vài tháng trẻ mới học được và làm thành thạo.
8. Uống thêm canxi và dầu cá thế nào?
Trẻ nuôi bằng sữa mẹ và nuôi bột bằng sữa bò nhất thiết phải uống vitamin D
400đvqt mỗi ngày. Cho trẻ tắm nắng 20 phút, riêng mặt và tay để hở dưới ánh nắng 2 giờ
thì có thể không uống vitamin D.
Dầu gan cá dùng cho trẻ em có 2 loại: 10:1 và 3:1.Loại 10 thì mỗi ml có 50.000đvqt
A có 5000 đvqt D. Mỗi ml có 30 giọt, mỗi ngày có 3 giọt là 5000 đvqt A và 500 đvqt D,
mỗi ngày một lần. Có người đã cho uống 3 lần x 3 giọt làm tăng A tới 15000đvqt, nếu dùng
dài ngày sẽ gây ngộ độc vitamin A. Mỗi ngày uống 50000 đvqt A tức là hàm lượng 30 giọt
liên tục trong 3 tháng sẽ gây ngộ độc, ăn uống không ngon, ngứa ngáy toàn thân, bồn chồn,
rụng lông tóc, màng xương phát triển gây đau nhức, niêm mạc miệng bong rộp.
Dầu gan cá 3:1, viên nang chứa A 500 đvqt, D 500đvqt, ngày một lần, đặt vào cuống
lưỡi cho trẻ nuốt, có thể thay bằng D 500 đvqt hoặc 10- 12mg mỗi ngày uống một lần. nếu
trẻ đau bụng tả thì ngừng thuốc A, D, vì mỡ sẽ làm bệnh tăng lên. Tới khi khỏi bệnh cho
uống lại bắt đầu từ một giọt cho quen dần cho đến khi đủ liều.
Trong sữa bột nếu mỗi ml có 200 đvqt, trẻ uống quá 200ml là đủ lượng vitamin D,
không phải uống thêm.
Các trường hợp khác như; trẻ sinh vào mùa đông, thiếu cơ hội tằm nắng,trẻ đẻ thiếu
tháng, cân nặng dưới 2500g, Người mang thai không uống vitamin D 1000đv/ngày, có
nghĩa là thai nhi không có tích trữ…đều phải uống vitamin D 400 đv. Nếu thấy hiện tượng
còi xương quá sớm cần đưa con đi khám và uống vitamin D 1000 đv/ ngày.
Người mẹ đủ sữa, hấp thụ Ca tốt, không thiếu Ca, nhưng nếu cho con ăn bột ( chưa
đủ 3 tháng đã cho con ăn bột ) thì hàm lượng photpho trong bột quá cao làm mất tỉ lệ cân
bằng Ca, P hạ thấp tỉ lệ sử dụng Ca. Trường hợp này thiếu hụt Ca và còi xương.
Sữa bò nhiều Ca hơn sũa mẹ. Cho ăn 500ml sữa bò có thể thu được 600mg Ca, xấp
xỉ nhu cầu cho trẻ 4 tháng tuổi, do vậy có người chủ trương ăn các loại sữa 500ml. Trẻ 6
tháng tuổi trở lại không cần phải bổ sung Ca
Sữa bột có tỉ lệ Ca:P là 1,5:1 cao hơn sữa bò 1,2:1, thấp hơn sữa mẹ 2:1. Với loại sữa
này, tuy giảm nhiều tỉ lệ phát sinh co giật chân tay nhưng không giảm được tỉ lệ còi xương.
Trẻ lúc này rất cần vitamin D và Ca. Vì xương cốt toàn thân đứa trẻ lúc này rất cần cho
sự phát triển.
9. Sữa pha đặc hơn một ít có tốt không?
Nhiều người muốn cho con mình ăn được nhiều hơn, khi con ăn được ít đã cố tình
không theo hướng dẫn mà pha sữa đặt hơn. Thực ra, cách làm này sẽ làm cho trẻ một bữa
ăn và tiêu hóa hấp thụ không tốt mà từ chối ăn bữa tiếp theo. Sữa pha hơi đặc sẽ là một loại
dịch thể có độ thẩm thấu cao,vào đến đường tiêu hóa phải hút hết nhiều dịch tiêu hóa mới
có thể tiêu hóa được. Hệ tiêu hóa của trẻ còn chưa phát triển, chưa thể tiết ra một lượng
dịch thể tiêu hóa. Một phần dịch thể quá đặc, vượt quá phụ tải gây ra chướng bụng, nôn ọe,
đau bụng tả. Protein đưa vào vượt quá nhu cầu cần thiết để trẻ tổng hợp sẽ cản trở trao đổi
chất, làm nồng độ nitrogen quá cao trong máu. Nồng độ ure trong máu tăng lên, làm cho
thận phải làm việc quá tải. chứng ure cao trong máu sẽ dẫn tới kinh giật và hôn mê.
Khi thấy trẻ ăn không hết lượng sữa phải xét ngay vì trẻ cần phải nghỉ nhu cầu tiêu hóa,
hoặc vì nguyên nhân nào đó tạm thời chưa cần quá nhiều nhiệt lượng.
Hãy chiều theo tình trạng sức khỏe để trẻ nghỉ ngơi, cho uống nhiều nước. Giống như
người lớn, cũng có lúc không muốn ăn gì, nếu cứ cố gắng thì sẽ cảm thấy khó chịu. Sữa bột
cần pha đúng hướng dẫn, nếu thấy trẻ ăn không được thì tạm thời pha loãng hơn, hãy giảm
tỉ lệ sữa và nước, thấy trẻ ăn được mới pha theo đúng tỉ lệ hướng dẫn.
C. KẾT LUẬN:
Trên thang tiến hóa, con người là sinh vật cao cấp nhất, có một cơ thể – một bộ máy
tinh vi hơn cả. Mặt khác, con người là động vật duy nhất mất cuộc đời để trưởng thành.
Trong chu kì phát triển lâu dài đó, những năm tháng đầu tiên và đặc biệt là 4 tuần lễ đầu
tiên thường gặp nhiều khó khăn nhất.
Mỗi đứa trẻ có một cách "lớn" riêng của nó. Và bố mẹ cần phải tôn trọng cái cách
đó. Bố mẹ phải sẵn sàng giúp đứa con nhỏ của mình thực hiện sự phát triển của bé chứ
không nên gượng ép trẻ giống như em này em kia.
Trẻ em người Việt Nam, mang gen của bố mẹ là người Việt Nam, lớn lên và phát
triển trong điều kiện kinh tế – xã hội ở Việt Nam đương nhiên sẽ khác rất xa các trẻ em các
nước khác. Các tiêu chuẩn phát triển đã được các nhà khoa học về sức khỏe và dinh dưỡng
trẻ em Việt Nam cung cấp để giúp cho các bố mẹ yên tâm hơn trong việc chăm sóc các
thiên thần trong năm đầu tiên.
Các hằng số phát triển của trẻ em Việt Nam trong 12 tháng đầu
i. Trọng lượng và chiều cao
ii. Vòng đầu và vòng ngực
(Dấu ± có nghĩa là cộng thêm hoặc trừ bớt vào con số trung bình là phạm vi xê xích cho
phép và vẫn được công nhận là trung bình)
Ngoài các dinh dưỡng mang vào cho trẻ trong quá trình này thì các bậc cha mẹ cũng
nên quan tâm tới trẻ bằng cách thường xuyên massage toàn thân cho trẻ khi mỏi do nằm
yên một chỗ hay ngồi lâu…