Tải bản đầy đủ (.pdf) (5 trang)

Thông Ba Lá pptx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (129.11 KB, 5 trang )


Thông Ba Lá





Công dụng:
Tùng hương là nguồn nguyên liệu cần thiết đối với nhiều ngành
công nghiệp như chế biến cao su, sơn, sản xuất giấy, vật liệu cách điện, nhựa
hàn, keo dán, chất tạo bọt cho xà phòng, công nghiệp in, vẽ các sản phẩm in
batic, làm xi, dùng để bôi trơn cho nhiều loại nhạc cụ và chế biến cao dán
chữa trị mụn nhọt. . .
Tinh dầu (turpentine oil) được dùng làm thuốc bôi, có tác dụng kích
thích tại chỗ, lưu thông máu đối với bệnh viêm thấp khớp, cảm lạnh. Tinh
dầu thông có tính sát trùng mạnh nên được dùng làm thuốc diệt khuẩn
đường hô hấp (thuốc ho, thuốc xông họng).
Tinh dầu thông cũng là nguồn nguyên liệu trong công nghiệp hóa mỹ
phẩm, sản xuất thuốc trừ sâu thảo mộc, làm dung môi trong công nghiệp
sơn, vecni và công nghiệp tuyển quặng. Từ gốc thông già ta có thể xử lý,
chưng cất lấy tinh dầu và hắc ín thảo mộc.
Gỗ thông ba lá tuy không bền bằng gỗ thông nhựa, nhưng cũng được
sử dụng khá phổ biến (đồ gỗ thông thường, thùng đựng hàng, cột điện, đóng
toa xe ), đặc biệt là trong công nghệ chế biến gỗ dán, bột giấy, sợi tổng
hợp.
Hình thái:
Cây gỗ lớn, thân thẳng đứng, cao 20-30(-45)m, đường kính thân có
thể tới 50-70(-100)cm, vỏ dày, nứt thành những rãnh sâu, màu nâu đen.
Cành nhỏ thường có màu vàng nhạt, màu phấn trắng. Lá hình kim, họp
thành từng túm 3 lá (ít khi có 2 hoặc 4 lá), dài (10-)12-21(-25)cm, mảnh,
mềm, màu xanh sáng. Nón đơn tính cùng gốc.


Nón cái hình trứng, dài (4-)5-8(-10)cm, gần như không cuống hoặc có
cuống rất ngắn (dài nhất chỉ khoảng 10 mm). Hạt nhỏ có cánh mỏng, dài 1
,5-2,5cm.
Phân bố:
- Việt Nam: Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang (Yên Minh, Hoàng Xu
Phì, Xín Mần), Quảng Ninh, Yên Bái (Mù Cang Chải), Lai Châu (Than
Uyên, Tủa Chùa), Sơn La (Mộc Châu), Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk
Nông, Lâm Đồng.
- Thế giới: Cây phân bố ở miền Nam Trung Quốc, Lào, Bắc Thái
Lan, Philippin, Myanmar và miền Đông Ấn Độ. Hiện thông ba lá đã được
đưa trồng ở khắp các khu vực nhiệt đới trong vùng Đông Nam Á.
Đặc điểm sinh học:
Cây ưa mát, ẩm và ưa sáng. Trong tự nhiên chúng thường sinh
trưởng ở các khu vực có độ cao từ 300m đến 2.700m, song thích hợp nhất là
ở các độ cao từ 1.000 đến 1.500m.
Ở nước ta, rừng thông ba lá mọc thuần loại chỉ phân bố ở một số khu
vực có độ cao trên 1.000m tại Tây Nguyên (nhiều nhất là ở Lâm Đồng, tiếp
đó là Gia Lai và Kon Tum).
Trong vành đai 800-1.000m là các kiểu rừng hỗn giao của thông ba lá
và thông nhựa (Pinus merkusil). Càng xuống thấp thông ba lá giảm dần,
nhưng với thông nhựa lại tăng lên. Tại một số địa phương ở phía Bắc cũng
có thể gặp thông ba lá mọc thuần loại hoặc hỗn giao với một số cây lá rụng
khác, nhưng với diện tích nhỏ và tạo thành loại hình rừng thưa lá kim.
Thông ba lá thích hợp với các khu vực có nhiệt độ trung bình năm
khoảng 15-20
0
C, tổng lượng mưa khoảng 2.000- 2.500mm và mùa khô ngắn.
Chúng ưa đất nhiều mùn, tương đối ẩm, chua (pH 4,8-5,5), phong hoá trên
đá mẹ hoa cương, gnai, phiến thạch, phiến thạch mi ca, sa thạch , thoát
nước tốt, quang đãng và được chiếu sáng đầy đủ. Thông ba lá không thích

ứng với đất kiềm.
Tại Tây Nguyên, thông ba lá tái sinh tự nhiên khá tốt. Hạt thường
phát tán vào mùa khô và nảy mầm vào mùa mưa. Cây con ưa sáng và ưa ẩm.
Trong tự nhiên, thông ba lá tăng trưởng chiều cao khá nhanh ở giai đoạn
trước 14-15 tuổi.
Đến giai đoạn 18-25 năm tuổi, cây đạt chiều cao khá ổn định. Tăng
trưởng đường kính trong giai đoạn trước 20 năm tuổi cũng cao nhất (đạt
trung bình 0,9-1,1cm/năm).
Thời kỳ cây đạt từ 21 đến 40 tuổi, tăng trưởng đường kính trung bình
chỉ khoảng 0,52-0,61cm/năm. Trên 40 tuổi, cây tăng trưởng không đáng kể.
Với điều kiện tự nhiên tại các tỉnh Tây Nguyên, thông ba lá thường có
đường kính thân lớn hơn so với thông nhựa ở cùng lứa tuổi. Cây ra nón vào
tháng 4-5 và chín sau đó khoảng 2 năm.

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×