Tải bản đầy đủ (.pdf) (7 trang)

Thông Đuôi Ngựa potx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (132.72 KB, 7 trang )

Thông Đuôi Ngựa

Công dụng:
Nhựa thông đuôi ngựa cũng được sử dụng tương tự như thông 3 lá
và thông nhựa. Một số địa phương tại miền Nam Trung Quốc đã dùng nhựa
thông đuôi ngựa làm thuốc chữa sỏi mật, thấp khớp và mụn nhọt. Gỗ thông
đuôi ngựa chứa trên 60% cellulose, nên đây là nguồn nguyên liệu cho công
nghiệp giấy, sợi và gỗ trụ mỏ có giá trị. Tuy có tính chống chịu kém hơn so
với thông nhựa và thông ba lá, nhưng thông đuôi ngựa vẫn được coi là “cây
tiên phong", là đối tượng trồng rừng trên các vùng đất trống, đồi núi trọc, đất
đai cằn cỗi, khô hạn.
Hình thái:
Cây gỗ lớn, cao 20-30(-40)m; thân thẳng, tròn; vỏ ngoài màu nâu
đỏ, nhưng ở phía gốc lại có màu nâu đen, khi già thường bong ra từng mảng.
Cành non màu hung hoặc màu vàng nhạt, nhẵn. Lá hình kim, màu xanh nhạt,
tập trung ở đầu cành, mềm, rủ xuống, thường 2 (rất ít khi 3) lá trong một bẹ,
dài 12-20cm. Nón cái có dạng gần hình cầu khi còn non, nhưng khi già lại
có dạng hình trứng, dài 4-7cm, đường kính 2,5-4cm; khi chín có màu hạt dẻ.
Hạt màu nâu nhạt, có cánh mỏng dài khoảng 1 ,5cm.
Phân bố:
- Việt Nam: Đã được trồng tại Lạng Sơn (Lộc Bình), Quảng Ninh,
Hà Giang, Lai Châu, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Hà Tây, Thanh Hóa, Nghệ
An.
- Thế giới: Thông đuôi ngựa là cây nguyên sản ở miền Nam Trung
Quốc (Quảng Đông, Quảng Tây).
Đặc điểm sinh học:
Cây ưa khí hậu á nhiệt đới, thường phân bố ở các khu vực có nhiệt
độ trung bình năm không vượt quá 21,5
0
C. Cây thích hợp với những khu
vực có nhiệt độ không khí trung bình năm trong khoảng 18-21,5


0
C và tổng
lượng mưa hàng năm (1.000-)1.500-2.000(-2.500) mm. Tuy vậy, vẫn có thể
đưa thông đuôi ngựa đến trồng ở những khu vực có nhiệt độ trung bình năm
lên tới 22-23
0
C, nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất 25(29)
0
C; song chúng
sinh trưởng kém và dễ bị sâu bệnh. Thông đuôi ngựa ưa sáng, ưa nóng ấm
và không chịu được bóng. Hệ rễ của cây phát triển nhanh và ăn sâu vào đất.
Chúng sinh trưởng tốt ở những khu vực có tầng đất mặt sâu, chua (pH 4,5-6)
và thoát nước. Tuy vậy, thông đuôi ngựa vẫn có thể mọc trên các vùng đất
bạc màu, với tầng đất mặt mỏng, chua và khô hạn. Trên các đồi núi, đất bạc
màu với thảm thực vật ưu thế là sim (Rhodomyrtus tomentosa (Ait.) Hass.),
chổi xuế (Baeckea frutescens L.), mua (Melastoma spp.), Tế guột
(Dicranopteris linearis (Burm.) Underw). . . đều có thể trồng thông đuôi
ngựa.
Ở điều kiện đất nghèo kiệt, khô hạn thông đuôi ngựa có sức chống
chịu kém hơn so với thông nhựa. Nhưng nếu ở điều kiện khí hậu và đất đai
tương đối thích hợp thông đuôi ngựa lại sinh trưởng nhanh hơn so với thông
nhựa. Trong 10 năm đầu tiên, thông đuôi ngựa có tốc độ tăng trưởng trung
bình hàng năm đạt khoảng 0,7-0,8m theo chiều cao và 1,3-1,5cm theo đường
kính thân. Sinh khối tăng trưởng hàng năm có thể đạt trung bình 5-10m
3
/ha.
Trong giai đoạn đầu tốc độ tăng trưởng của thông đuôi ngựa thường tương
đối cao, nhưng ở các giai đoạn sau thì chậm dần. Thông đuôi ngựa thường
bắt đầu ra nón ở giai đoạn 5-6 tuổi: Cây thường ra Nón vào tháng 4-5 và
chín vào các tháng 11-12 của năm sau.



Trầm Hương

Công dụng:
Trầm là loại sản phẩm đặc biệt được dùng làm hương thắp và rất
được coi trọng trong công việc cúng lễ của các tín đồ đạo Phật, đạo Hồi, đạo
Hin đu ở khắp các nước thuộc khu vực Nam Á, Đông Nam Á và Đông Á.
Tại Thái Lan, Ấn Độ trầm được sử dụng khi hoả táng thi hài của những
người quyền quý. Còn ở Nhật Bản, hương trầm lại có giá trị đặc biệt trong
các dịp lễ hội "uống trà". Tinh dầu trầm là chất định lượng có giá trị đặc biệt
trong công nghệ chế biến các loại hương liệu, các loại nước hoa cao cấp,
sang trọng, đắt tiền. Các hoá mỹ phẩm chứa tinh dầu trầm được ưa chuộng
đặc biệt trong giới thượng lưu tại khu vực Trung Đông và Nam Á. Trong y
học cổ truyền ở nước ta cũng như tại Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ trầm
được coi là vị thuốc quý hiếm, dùng chữa trị các chứng bệnh đau ngực, hen
suyễn, khó thở, cảm, đau, bỏng, lợi tiễu, giảm đau, bổ huyết, trợ tim, thấp
khớp và đặc biệt là một số dạng ung thư (nhất là với ung thư tuyến giáp
trứng). . . Gỗ thường xốp, nhẹ, tỷ trọng khoảng 400kg/m
3
có thể dùng đóng
đồ gỗ gia dụng, làm nguyên liệu trong công nghiệp gỗ dán.
Hình thái:
Cây gỗ lớn thường xanh, tán thưa, cao 15-20(-30)m, đường kính đạt
tới 40- 60cm hay hơn. Thân thường thẳng, đôi khi có rãnh dạng lòng máng;
vỏ màu nâu xám, nứt dọc nhẹ, dễ bóc và tước ngược từ gốc lên. Cành mảnh,
cong queo màu nâu nhạt, có lông hoặc nhẵn. Lá đơn mọc so le phiến lá hình
trứng, bầu dục thuôn đều hoặc mác thuôn, kích thước 5-12x2,5-9 cm; mỏng
như giấy hoặc dai như da, mặt trên màu lục bóng, mặt dưới nhạt hơn và có
lông mịn, đầu nhọn hay thuôn nhọn và tận cùng có mũi ngắn gốc thon nhọn

dần, hình nêm; cuống lá ngắn, dài 4-6mm.
Cụm hoa dạng tán hoặc chùm tán, mọc ở nách lá hoặc ở đầu cành;
cuống cụm hoa mảnh. Hoa nhỏ, đài hợp ở phần dưới, hình chuông, màu
vàng lục, trắng nhạt hoặc vàng xám, Có 5 thùy, cánh hoa 10, nhị 10; bầu
hình trứng 2 ô, có lông rậm, phía dưới có tuyến mật. Quả nang gần hình
trứng ngược hay hình quả lê, dài 4cm, đường kính 2,5-3cm; có lông mềm,
ngắn, có mang đài tồn tại, khi khô nứt thành 2 mảnh. Mỗi quả thường 1-2
hạt.
Phân bố:
- Việt Nam: Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hoà
Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-
Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông,
Phú Yên, Bình Định, Khánh Hoà, An Giang, Kiên Giang. Các khu vực nhiều
trầm hương nhất là Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Khánh
Hoà, An Giang và Kiên Giang (đảo Phú Quốc). Hiện nay các cá thể trưởng
thành của trầm hương cơ bản bị tuyệt diệt trong tự nhiên. Nhưng diện tích
rừng trồng ngày một tăng, tới năm 2005 tổng diện tích rừng trồng trầm trong
cả nước đã vào khoảng 6.000 ha. Riêng tỉnh Hà Tĩnh là 2.732 ha và huyện
Hương Khê 336 ha (Chi cục phát triển Lâm nghiệp Hà Tĩnh).
- Thế giới: Lào và Campuchia.
Đặc điểm sinh học:
Trầm hương phân bố rải rác trong các loại hình rừng thường xanh,
ẩm nhiệt đới, nguyên sinh hoặc thứ sinh, trên đỉnh núi, ở sườn núi hoặc trên
đất bằng, có độ cao 50-1.000(-1.200)m (so với mặt biển). Chúng thường
mọc ở các sườn núi có độ dốc nhỏ và thoát nước tốt. Trầm hương thường
mọc cùng với các loài cây gỗ lớn như sao (Hopea spp.), huỳnh
(Tarrietiajavanica), gụ mật (Sindora siamensis ). . . Đôi khi còn gặp trầm
hương sinh trưởng trong rừng thứ sinh cùng với các loài như thanh thất
(Ailanthus triphysa), mò lưng bạc (Cryptocarya metcalfiana), bưởi bung
(Acronychia pedunculata), mít nài (Artocarpus spp.), ràng ràng (Ormosia

spp.). . . Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm 20-28
0
C với tổng lượng
mưa từ 1.500 đến 2.500mm/năm là rất phù hợp với sinh trưởng, phát triển
của trầm hương. Cây ưa đất feralitic điển hình, đất feralitic trên núi phong
hoá từ đá kết, đá phiến hay granitl với lớp đất mặt mỏng hoặc trung bình, hơi
ẩm, chua hoặc gần trung tính (pH 4-6). Mùa hoa tháng 4-5, quả chín vào
tháng 7-8. Trầm hương sinh trưởng, phát triển tương đối nhanh, các cá thể
nhân giống từ hạt ở giai đoạn 5-8 tuổi đã đạt chiều cao 4-6m, với đường
kính thân 20-30cm. Ở độ tuổi 4-6 năm cây bắt đầu ra hoa, kết quả.

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×