Tải bản đầy đủ (.doc) (45 trang)

Về quê Bác Nam Đàn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.04 MB, 45 trang )


VỀ QUÊ BÁC NAM ĐÀN
Nguyễn Văn Biểu
Khoa Sử - ĐHSP Hà Nội I
"Quê hương nghĩa nặng tình sâu
Năm mươi năm ấy bao nhiêu là tình"
1
Ch¬ng 1: Kh¸i qu¸t vÒ NghÖ An
1
Chủ Tịch Hồ Chí Minh, Sau 50 năm về thăm quê nhà năm 1957 đã đọc những lời thơ ấy
1.1. Vùng đất và con người
Diện tích : 16371km
Dân số : 2.913.055 người
2
Tỉnh lị : Thành Phố Vinh
Thị xã : Cửa Lò
1.1.1. Về mặt hành chính
Nghệ An bao gồm 1 thành phố trực thuộc, 2 thị xã và 17 huyện:
Thành phố Vinh, Thị xã Cửa Lò, Thái Hòa và các Huyện: Anh Sơn,
Con Cuông, Diễn Châu, Đô Lương, Hưng Nguyên, Quỳ Châu, Kỳ Sơn, Nam
Đàn, Nghi Lộc, Nghĩa Đàn, Quế Phong, Quỳ Hợp, Quỳnh Lưu, Tân Kỳ,
Thanh Chương, Tương Dương, Yên Thành.
Dân Tộc: Kinh, Khơ Mú, Ơ Đu, Thổ, Sán Dìu, H’Mông. Nghệ An là
một tỉnh lớn ở phía Bắc Trung Bộ, Phía Bắc giáp Thanh Hóa, phía đông giáp
Biển Đông, phía tây giáp Lào, phía nam giáp Hà Tĩnh.
1.1.2. Lịch sử
Thời Hùng vương và An Dương Vương, tỉnh Nghệ An bao gồm Bộ
Hoài Hoan và phần bắc Bộ Cửu Đức. Thời nhà Hán, thuộc huyện Hàm Hoan
thuộc quận Cửu Chân. Đời nhà Tấn là quận Cửu Đức. Đời nhà Tùy là quận
Nhật Nam. Năm 628 đổi là Đức Châu, rồi lại đổi thành Châu Hoan, lại Châu
Diễn. Đời nhà Đường là quận Nam Đức. Thời Nhà Ngô, tách ra khỏi quận


Cửu Chân đặt làm quậnCửu Đức. Thời nhà Đinh, nhà Tiền Lê gọi là Hoan
Châu. Năm 1030 bắt đầu gọi là Châu Nghệ An. Từ năm 1940 gọi là Xứ Nghệ
An. Thời Tây Sơn, gọi là Nghĩa An Trấn. Bản triều năm Gia Long nguyên
niên lại đặt làm Nghệ An Trấn. Năm 1381 vua Minh Mệnh chia trấn Nghệ
An thành 2 tỉnh: Nghệ An và Hà Tĩnh. Sau đó hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh
sáp nhập lại, lấy tên là tỉnh An Tĩnh. Từ năm 1976 đến 1991 Nghệ An và Hà
tĩnh là một tỉnh và được gọi là tỉnh "Nghệ Tĩnh". Năm 1991, tỉnh Nghệ Tĩnh
lại tách ra thành Nghệ An và Hà Tĩnh như ngày nay.
3
2
Theo điều tra dân số ngày 01/04/2009 (số liệu tính đến năm 2009).
3
Dẫn theo mục tỉnh Nghệ An
2
Đại Nam nhất thống chí ghi: Nam Đàn có núi cao sông sâu nên xuất
hiện nhiều người văn võ kiêm toàn. Bùi Dương Lịch, nhà "Nghệ học" thế kỷ
18, viết: Huyện Đông Thành và huyện Nam Đường vĩ nhân đã nhiều, mà khí
tiết cũng thiên về mặt Cương Cường Quả Cảm.
Huyện Nam Đàn là quê hương của các danh nhân Việt Nam như Mai
Thúc Loan, Phan Bội Châu, Hồ Chí Minh. Nam Đàn cũng là quê hương của
38 vị đại khoa Việt Nam như: Đình nguyên, Thám hoa Nguyễn Đức Đạt;
Thám hoa Nguyễn Văn Giao đời Nguyễn; Đình nguyên Tiến sĩ Vương Hữu
Phu (khoa Canh Tuất- 1910) Cụ phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc.
Những người nổi tiếng ngày nay có: Danh họa Nguyễn Tư Nghiêm, Nhà
khoa Tạ Quang Bửu, Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn, Bộ trưởng Tạ Quang
Ngọc, Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng, Thứ Trưởng Bành Tiến Long
4

1.2. Truyền thống văn hóa - lịch sử
Trên đất nước ta không ít vùng được coi là địa linh nhân kiệt, song xứ Nghệ

là một trong những địa linh hàng đầu… “Bên cạnh những di tích vô giá về Bác
Hồ, ở Nghệ An còn không ít những di tích lịch sử khác, vì nơi đây thời nào cũng
có danh nhân, vùng nào cũng có anh hung. Với thế mạnh nổi trội ấy, Nghệ An
phải trở thành điểm đến du lịch lịch sử vào loại nhất giang sơn”
5
.
Nghệ An hiện nay là vùng đất sở hữu danh nhân nhiều nhất trong cả nước.
“Quả là khí thiêng song núi, truyền thống dựng nước và giư nước hàng nghìn
năm, kỳ tích của bao nhiêu anh hung, danh nhân đã tô thắm lịch sử vẻ vang
rạng rỡ của vùng đất địa linh nhân kiệt”
6
.
Nam Đàn (Nghệ An) - Mảnh đất anh hùng đã đi vào huyền thoại. Địa
danh sản sinh ra biết bao vĩ nhân, đã từng kiên cường trong kháng chiến –
nay cuộc sống hoà bình xây dựng quê hương, Nam Đàn vẫn tạo nên vẻ hiên
ngang. Bởi nơi đây, hội tụ những yếu tố địa – khí – nhân
4
Mục đd phần Nam Đàn
5
Phó thủ tướng Vũ Khoan. Bài phát biểu năm du lịch Nghệ An năm 2005
6
Nguyễn Trung Hiền. Về thăm quê Bác. Nxb Thuận Hóa.2005.
3
Là người con quê hương Việt Nam không ai không biết đến Nam Đàn
– nơi Bác Hồ kính yêu – Anh hùng vĩ đại của dân tộc đã sinh ra và lớn lên.
Nơi gắn với biết bao kỷ niệm của một tuổi thơ đầy sóng gió bên gia đình và
quê hương mà đến bây giờ Người vẫn còn để lại qua những kỷ vật còn mãi
với thời gian. “”Đường vô xứ Nghệ quanh quanh - Non xanh nước biếc như
tranh họa đồ…”
Nam Đàn từ xa xưa vốn không giàu có, không đẹp diễm lệ đài trang

nhưng từ lâu cũng đã đi vào huyền thoại, thơ ca và biết bao trang hùng sử.
Địa hình sông núi trùng trùng uốn lượn đã tạo cho Nam Đàn những nét đặc
thù với một vẻ đẹp kín đáo, ý nhị nhưng đậm đà, giàu tình, giàu nghĩa mãi
ghi tạc lòng người
4
Ch¬ng 2. Quª Néi - Nguån céi cña mét thiªn tµi
Nam Đàn là một trong những huyện có nhiều danh thắng nổi tiếng nơi
trung đúc nhiều tú khí, nợi sinh ra nhiều nhân tài tuấn kiệt làm nên nhiều kì
tích kì vĩ. Những kì tích của các vĩ nhân đã làm lung linh, linh thiêng cho các
thắng cảnh, danh lam đi sâu vào lòng dân bao thế hệ, là niềm tự hào là sức
mạnh vô hình lớn lao và có sức lay động lan tỏa đến vô cùng.
Kim Liên đã sinh ra lãnh tụ kiệt xuất - Chủ tịch Hồ Chí Minh và chính
nơi đây đã cùng cả nuớc và thời đại nuôi lớn con người huyền thoại Hồ Chí
Minh. Kim Liên đã hình thành một quần thể di tích lịch sử văn hoá đặc biệt
quan trọng về quê huơng - gia đình - thời niên thiếu của Chủ tịch Hồ Chí
Minh và một trong những khu di tích đó là Làng Sen quê nội của Bác Hồ.
Nơi đây còn lại những di tích quý giá về gia đình của Bác và là nơi hoạt
động thủa thiếu thời của Ngưòi.
Kim Liên có cảnh sen vàng, còn là nơi hội tụ truyền thống văn hoá,
lịch sử vô giá giữa vùng quê văn hiến ngàn năm. Đất Kim Liên được truyền
tụng là:
Sơn thủy kì quan
Thủy diệu hoa hoàn
Càn khôn dục tú
(Văn luyện cầu ở đền Thánh Cả Kim Liên)
Đàm thủy liên hoa chung tú khí
Phượng thư bảng hổ dậy danh thơm
(câu đối ở đền Thánh Cả)
Tự hào và tự tin mãnh liệt ở đất và người quê hương cụ Nguyễn Sinh
Sắc phóng bút đề:

“Hồng lạc giang sơn kình thiên trụ thạch
Liên Hoàng tả hữu bạt địa văn minh”
5
Đến với Làng Sen – quê nội của Ngưòi điểm đầu tiên đoàn thực tế
Sinh Viên K57 – Khoa lịch Sử - trưòng Đại Học Sư Phạm Hà Nội dừng lại để
nghe các huớng dẫn viên giới thiệu là ngôi nhà của cụ phó Bảng Nguyễn
Sinh Sắc ngưòi thân sinh ra Bác Hồ thuộc Làng Kim Liên,xã Chung Cự,
tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
2.1. Nhà cụ Phó bảng
Cụ Nguyễn Sinh Sắc đậu Phó bảng trong kì thi Tân Sửu 1901.Và theo
tập tục của địa phương cùng với nguyện vọng của nhân dân cụ Phó bảng phải
cùng các con rời làng Hoàng Trù về sống tại làng Sen quê nội nơi chôn rau
cắt rốn của mình. Ở đó nhân dân dựng cho ông một ngôi nhà 5 gian lợp mái
tranh cửa liếp phên tre thường được chống lên vào ban ngày ngôi nhà nằm
gần cuối khu vườn rộng hơn 4 sào do nhân dân bỏ
công sức xây dựng để mừng người đầu tiên của
làng Sen đỗ Đại khoa.
Hiện nay ngôi nhà tranh vẫn được giữ nguyên như
xưa, cách bày đặt đồ đạc đến đồ dùng sinh hoạt
trong nhà đúng như hơn 100 năm về trước.
Hai gian nhà ngoài ông Nguyễn Sinh Sắc trân trọng để làm nơi thờ tự
và tiếp khách. Gian đầu được kê một bộ phản lớn làm chỗ tiếp khách. Trên
cánh phản gỗ này đã từng là nơi tri ngộ giữa ông Phó bảng với các nhà nho
yêu nước trong vùng như Phan Bội Châu, Vương Thúc Quý, Đặng Nguyên
Cẩn… Những lúc này Nguyễn Sinh Cung được hầu nước các vị túc nho.
Cũng chính tại đây những lúc như vậy cậu Nguyễn Sinh Cung được nghe
những câu chuyện về thời cuộc của xã hội Việt Nam hồi đó và những việc
làm cứu nước của các cụ. Điều đó đã hun đúc nên ý tưởng sau này của
Nguyễn Sinh Cung trên hành trình tìm đường cứu nước .
Gian thứ hai là nơi thờ bà Hoàng Thị Loan. Với lối sống giản dị và

thanh bạch, ông Sắc lập một bàn thờ đơn giản để tưởng niệm người vợ đã qua
đời. Đồ thờ làm bằng gỗ mộc, không sơn son thiếp vàng. Khi về thăm quê lúc
6
bước vào nhà Bác đã xúc động nói với bà con: “Xưa nhà Bác nghèo bàn thờ
chỉ làm bằng tre, không có chân mà chỉ dùng hai miếng đỡ bằng gỗ đóng vào
hai bên cột đỡ bàn thờ lên, liếp bằng nứa, trên trải chiếu mộc”.
Ngày nay gian nhà mộc mạc đơn sơ này là nơi thờ cả bố mẹ, anh, chị,
em và thờ cả Bác nữa – đã làm dung động biết bao trài tim con người Việt
Nam và du khách quốc tế khi đến viếng thăm.
Hai gian nhà trong cùng dùng làm nơi nghỉ ngơi sinh hoạt của gia
đình: phía ngoài kề cửa sổ là bộ Phản gỗ nơi nằm nghỉ, ngồi chơi đọc sách
của cụ Phó bảng. Còn bộ phản trong cùng dùng cho anh cả Khiêm (Nguyễn
Tất Đạt) và Nguyễn Sinh Cung ngoài ra còn có một số đồ dùng khác: một án
thư để đọc sách và uống trà, một rương gỗ đựng thóc gạo, một tủ hai ngăn để
chén bát, chiếc mâm gỗ tròn đã bong nước sơn, chiếc võng bện bằng đay đơn
sơ giản dị để nằm (bà Loan thường ru bác mỗi khi dệt Cửi), chiếc đèn đĩa
thắp bằng dầu thực vật. Ngôi nhà rộng mà thoáng, bởi vì cụ Phó bảng chẳng
có mấy của cải. Những kỉ vất ấy vẫn còn mãi với thời gian.
Gian giữa được ngăn làm buồng, là nơi dành riêng cho cô con gái lớn
của ông Phó bảng, tức bà Nguyễn Thị Thanh.
Còn ngôi nhà ngang ba gian dùng làm bếp, người anh đã giúp đỡ.
Nhưng cũng trống trải vì chẳng có gì bày đặt trong bếp, thậm chí cả những
ngày giỗ chạp lễ tết, nhà cụ Phó bảng cũng tổ chức đơn sơ, đạm bạc.
Xung quanh phía sau nhà là là những cây cau, chính giữa phía trước
sân nhà là một cây bưởi và đầu hồi nhà ngang là một cây cam, một cây ổi đào
theo lối ra cổng. Còn khoảng đất rộng ở trước sân cụ Phó bảng trồng rau màu
theo mùa vụ, phần nhiều là trồng rau khoai.
Cụ Phó bảng và Bác Hồ sống trong ngôi nhà này năm 1901 đến tháng
5-1906 khi triều đình Huế vời cụ ra làm quan lần thứ hai với chức Thừa biện
bộ Lễ ở Kinh thành. Riêng với cụ Phó bảng đó là lần ra đi để rồi không bao

giờ có dịp về sống trong ngôi nhà này nữa. Đối với Bác Hồ lần đó đi theo cụ
Phó bảng vào Huế rồi cứ mãi đi xa, năm 1911 Người từ bến cảng Nhà Rồng
7
đi buôn ba khắp năm châu bốn bể để rồi hơn 50 năm sau Người có trở về
thăm lại ngôi nhà hai lần (đó là vào năm 1957 và 1961).
Chăm sóc ngôi nhà từ ngày cụ Phó bảng và Bác Hồ đi xa là bà Nguyễn
Thi Thanh và ông Nguyễn Sinh Khiêm.
Khi từ làng Hoàng Trù về đây sống cụ Nguyễn Sinh Sắc cùng các con
sống một cuộc sống vật chất thanh đạm nhưng tinh thần thanh cao, giàu văn
hóa, chan chứa tình người. Cả gia đình đều hòa mình với nhân dân được mọi
người thương mến và hết lòng giúp đỡ. Ông thường lấy câu: “Vật dĩ quan
gia, vi ngô phong dạng (đừng lấy phong cách nhà quan để làm phong cách
nhà mình để dạy con cái).
Ngôi nhà đã gắn bó với một giai đoạn hết
sức quan trọng trong cuộc đời niên thiếu của Hồ
Chủ Tịch, từ mười một tuổi đến mười sáu tuổi.
Ngôi nhà này là một kỉ vật chứng kiến quá trình
lao động, học tập và trưởng thành trong thời niên
thiếu là nơi ghi dấu cảm xúc đầu tiên về lòng yêu
nước, về nhận thức xã hội của Bác Hồ.
2.1.1 Hai lần Bác về thăm nhà xưa:
Từ năm 1906 Nguyễn Sinh Cung theo cha lên Huế và đến năm 1911
Người ra đi tìm đường cứu nước kể từ đó hơn 50 năm sau Người mới có dịp
về thăm nhà. Ngày 16/6/1957, cả xã Kim Liên rạo rực, hân hoan đón Chủ
tịch Hồ Chi Minh về thăm quê lần đầu tiên sau hơn năm mươi năm xa cách.
Khi bà con đòn mời Người vào nhà khách, Người vui vẻ nói “nhà khách là để
đón khách còn tôi là chủ thì để tôi về thăm nhà”. Nói rồi Người đi về phía
nhà mình. Đến đây công tre đã mở sẵn mọi người mời Chủ tịch vào trong nhà
nhưng Người cười và giơ tay chỉ “ cổng này xưa ở đầu kia”. Khi vào giữa sân
nhà có một tấm biển ghi là nhà Bác Hồ nhưng Bác đã nói: “ Đây là nhà ông

Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc không phải nhà Bác”.
8
Sáng ngày 9/12/1961 Kim Liên lại vinh dự đón Bác về thăm quê lần
thứ hai.
Ngôi nhà ông Phó bảng không chỉ là di tích thủa thiếu thời của Bác mà
sau này còn là nơi chứng kiền hai lần Bác về thăm
“Quê hương ngĩa trọng tình cao”
“Năm mươi năm ấy biết bao nhiêu tình”
2.2. Những kỉ niệm thời niên thiếu
2.2.1. Lò rèn Cố Điền
Tại xóm Phủ Đầm thuộc làng Sen, ở cách nhà cụ Phó bảng khoảng
100m có một cái lò rèn mọi người quen gọi là lò rèn Cố Điền. Lò rèn rất đơn
sơ được đặt trong một diện tích hẹp với gian lều tranh, chung quanh che phên
nứa. Cố là người thật thà hiền lành, chất phác. Cố rèn nông cụ như lưỡi cày,
cuốc,liềm, dao… Trong thời kì sống ở làng Sen những lúc rỗi rãi cậu Nguyễn
Sinh Cung thường ra lò rèn chơi. Cậu rất quí trọng Cố Điền và Cố cũng rất
mực yêu mến cậu, cậu giúp Cố đập đe, thụt bễ và đặc biệt cậu hay hỏi han
trao đổi bàn luận với Cố những việc mà nhân dân thường bàn luận phê phán.
Cũng có lúc cậu mượn dụng cụ và lấy sắt vụn làm đồ chơi. Lò rèn này là nơi
bắt đầu cậu Nguyễn Sinh Cung làm quen với thủ công nghiệp thô sơ. Cũng
nơi đây những câu chuyện hàng ngày mà nhân dân bàn luận trao đổi cũng
giúp Người hiểu thêm về quê hương xứ sở, về nỗi khổ của người nông dân sự
áp bức, đè nén của hào lý, quan lại triều đình và thực dân Pháp thực tế sinh
động đó đã góp phần rèn đúc Nguyễn Sinh Cung sớm có lòng yêu nước nồng
nàn và chí căm thù giặc sâu sắc.
Sau năm mươi năm xa cách quê nhà Hồ Chí Minh vẫn không quên
những kỉ niệm xưa, trong lần về thăm quê đầu tiên Người đã hỏi bà con
“Trong này có lò rèn Cố Điền, mấy lâu nay còn tiếp tục rèn nữa không?”
2.2.2. Giếng Cốc
Trên lối vào nhà cụ Phó bảng, ở bên tay phải có một giếng nước miệng

giếng không thật tròn,đường kính khoảng hơn 10 mét lối xuống giếng ở cạnh
9
đường đi xung quanh bờ giếng cỏ và
các loại cây khác che kìn. Dân làng
quen gọi là giếng Cốc.
Giếng cách nhà ông Phó bảng
gần 100 mét do ông Nguyễn Danh Cốc
người làng Sen đào ra. Nước giếng
trong và ngọt. Thủa thiếu thời những
trưa hè oi ả Bác Hồ thường ra bờ giếng hóng mát cùng bạn bè. Cố Điền đã có
lần nói vơi cậu bé Nguyễn Sinh Cung là dười giếng có dấu vũ khí của nghĩa
quân Chung Cự thì cậu bé đã hỏi căn kẽ rằng:
Vũ khí gồm những gì?
Đã có súng chưa?
Vì sao nghĩa quân không đuổi được giặc?
Lò rèn có làm được súng không???
Năm 1957 về thăm quê lần đầu Chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi bà con:
“giếng Cốc này còn nữa không?” và Người nói tiếp: “ Nước giếng Cốc trong
và ngọt nấu chè xanh và làm tương ngon nổi tiếng cả vùng”
Giếng Cốc trở thành di tích lịch sử gắn liền với quãng đời niên thiếu của Bác
Hồ trên đất làng Sen.
2.3. Nhà thầy Cử Vương
Nhà thầy cử Vương Thúc Quý cách nhà cụ Phó bảng 200 mét về phía
Tây. Nơi đây đã sinh ra và đào luyện lên những thế hệ thuộc dòng dõi Vương
Thúc Mậu, Vương Thúc Quý và con cháu họ Vương sau này. Đây là nơi các
thầy Tú thầy Cử họ Vương dạy dỗ rèn luyện nên những nhân tài cho quê
hương đất nước, trong đó có Bác Hồ. Người đã từng đến học thầy Vương
Thúc Quý 5 năm (đầu thế kỉ XX).
Những lần về thăm quê, Bác Hồ đều hỏi han và nhắc tới thầy Cử
Vương và gia đình của thầy. Bác nói: “Thầy Cử Vương là thầy học của Bác

hồi niên thiếu”.
10
2.4. Nhà thờ họ Nguyễn Sinh
Dòng họ Nguyễn Sinh ở Kim Liên – Nam Đàn là một trong dòng họ
lớn trong xã và đã tồn tại được hơn 400 năm. Dòng họ Nguyễn Sinh do thủy
tổ Nguyễn Bá Phụ (Phổ) khai cơ lập nghiệp ở Kim Liên. Bác Hồ thuộc vào
thế hệ thứ mười hai của dòng họ. Từ lâu con cháu trong họ đã chọn miếng
đất rộng rãi cao ráo tại nhà thờ tại đây quanh năm được hương khói trang
nghiêm vào các ngày rằm, mồng một. Ngày 15/11 âm lịch hàng năm là ngày
giỗ tổ.
Năm Giáp Ngọ sau khi đậu cử nhân ông Sinh Sắc đã bỏ tiền tu sửa lại
nhà thờ và làm đôi câu đối tạc vào hai cột cái của nhà thờ.
Sau khi đậu Phó bảng năm Tân Sửu ông Nguyễn Sinh Sắc vinh quy bái
tổ về lang Sen. Ông đã vào nhà thờ đốt hương báo hiếu với tổ tiên và đưa
biển “Ân Tứ ninh gia” và cờ “Phó bảng phát khoa” đặt hai bên bàn thờ tổ
tiên. Đây là những hiện vật quý gia đến nay vẫn còn lưu giữ tại đây.
Nguyễn Sinh Cung cũng thường theo cha đến phúng viếng tổ tiên tại
nhà thờ này sau này khi về thăm lần đầu Bác đã thành kính đốt nèn hương
báo cáo với tổ tiên. Sau khi Bác mất người ta đã đặt bài vị của Người trên
bàn thờ để thường xuyên thờ cúng cùng tổ tiên dòng họ. Nhà thờ họ Nguyên
Sinh đã được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng là “Di tích lịch sử” cấp quốc
gia. Đây là nơi thờ cúng tổ tiên của Bác Hồ và gắn với những sự kiên liên
quan đến cuộc đời và sự nghiệp của gia đình Bác.
Sau khi Bác qua đời một khu trưng bày về những tài liệu, hiện vật của
Bác đã được xây dựng vào năm 1970 với 3 phần:
-Về quê hương, gia đình và thời niên thiếu của Bác Hồ.
-Tiểu Sử và sự nghiệp của Bác.
- Bác Hồ với quê hương và quê hương thưc hiện lời Bác Hồ dạy.
Đây có thể xem là bảo tàng đầu tiên trong cả nước trưng bày về tiểu sử
và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nó góp phần cho chúng ta thấy đầy

11
đủ hơn về quê hương của Bác và tình cảm của đồng bào đồng chí trong nước
và bạn bè khắp thế giới đối với Bác.
Tới thăm làng Sen – quê nội của Chủ tịch Hồ Chi Minh đoàn thực tế
khoa Lịch Sử-trường Đai học Sư phạm Hà Nội còn được thăm quan nhà
tưởng niệm do Tỉnh ủy, Ủy ban Nhân dân tỉnh và nhân dân Nghệ An xây
dựng để tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhà tưởng niệm được xem là
sáng tạo mới của mô hình bảo tàng .
Về thăm quê Bác, Đại tướng Võ Nguyên Giáp sau khi thành kính
nghiêng mình trước anh linh của Bác đã xúc động ghi vào sổ vàng lưu niệm:
“Về thăm quê Bác, nhớ Bác vô cùng, năm nay tư tưởng của Bác càng thấm
sâu vào mỗi người dân, mỗi Đảng viên, mỗi cháu thanh thiếu niên nhi đồng.
Hình ảnh của Bác in đậm trong mỗi người dân và cổ vũ mạnh mẽ dân ta tiến
lên góp phần xứng đáng làm cho dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng theo
lòng mong ước của Bác”.
12
Ch¬ng 3. Quª Ngo¹i B¸c Hå
3.1. Khái quát về khu di tích lịch sử Kim Liên
Khu di tích lịch sử Kim Liên là khu di tích tưởng niệm chủ tịch Hồ Chí
Minh tại xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An thuộc vùng duyên hải
miền Trung Việt Nam, cách thành phố Vinh khoảng 15km theo tỉnh lộ 49.
Một phần Khu di tích lịch sử Kim Liên
Là địa danh gắn liền với nơi sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở quê ngoại
là làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An; nơi Hồ Chí Minh đã
sống những năm 1901 - 1906 ở quê nội làng Kim Liên; khu mộ bà Hoàng Thị
Loan (thân mẫu Chủ tịch Hồ Chí Minh); núi Chung và nhiều di tích khác đã
gắn liền với tuổi thơ của Hồ Chí Minh. Khu di tích lịch sử văn hóa Kim Liên
được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch Việt Nam công nhận là một trong
những khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt và là một trong bốn khu di tích
quan trọng bậc nhất về cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Di tích lịch sử văn hóa Kim Liên (gọi tắt là Khu di tích Kim Liên)
được Đảng cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam cho xây dựng từ thập
niên sáu mươi của thế kỷ trước
[1]
. Tới năm 1979, Khu di tích Kim Liên được
Bộ Văn hóa - Thông tin Việt Nam (nay là Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch)
công nhận là di tích lịch sử văn hoá quốc gia đặc biệt theo Quyết định số
54VH/QĐ ngày 29 tháng 4 năm 1979.
13
Khu di tích Kim Liên là một trong bốn di tích quan trọng bậc nhất tại
Việt Nam về Chủ tịch Hồ Chí Minh,lưu giữ những hiện vật, tài liệu, không
gian văn hóa - lịch sử về thời niên thiếu của Chủ tịch Hồ Chí Minh và những
người thân trong gia đình ông. Toàn bộ khu di tích bao gồm nhà tranh nhỏ
của cụ Nguyễn Sinh Sắc và bà Hoàng Thị Loan; ngôi nhà của ông bà ngoại
của Chủ tịch Hồ Chí Minh; nhà thờ chi họ Hoàng Xuân (thuộc cụm di tích
Hoàng Trù); nhà ông Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc; giếng Cốc; lò rèn Cố Điền;
nhà cụ cử Vương Thúc Quý - thầy học khai tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh;
nhà thờ họ Nguyễn Sinh; nhà cụ Nguyễn Sinh Nhâm - ông nội của Chủ tịch
Hồ Chí Minh; di tích cây đa, sân vận động Làng Sen; khu trưng bày các hiện
vật, tài liệu và nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh (thuộc cụm di tích
Làng Sen); phần mộ bà Hoàng Thị Loan ở Động Tranh trên dãy Đại Huệ và
cụm di tích Núi Chung. Toàn khu di tích rộng trên 205 ha, các điểm và cụm
di tích cách nhau 2 - 10km.
Được đánh giá là một trong những di tích đặc biệt quan trọng của quốc
gia, khu di tích Kim Liên được Nhà nước Việt Nam đặc biệt chú trọng đầu tư
trong nhiều năm qua. Hằng năm, khu di tích đón tiếp hàng triệu khách tham
quan trong và ngoài nước tới viếng thăm.
Cụm di tích Hoàng Trù nằm trọn trong làng Hoàng Trù (thường goi là
làng Chùa), quê ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh và cũng là nơi Chủ tịch Hồ
Chí Minh ra đời. Diện tích của cụm di tích này khoảng 3.500m².

Làng Hoàng Trù ngày xưa có tên là cồn Trùa sau thành làng Chùa.
Hoàng Trù là quê ngoại của Bác Hồ chính nơi đây Bác Hồ kính yêu của
chúng ta đã cất tiếng khóc chào đời và những ngày thơ ấu Cậu bé Cung sống
ở đây trong tình yêu thương của gia đình bên ngoại. Hoàng Trù còn là cai9s
nôi văn hóa Đồng quê xứ nghệ.
Để góp phần tìm hiểu vì sao chủ tịch Hồ chí Minh chỉ có thể sinh ra
trên mảnh đất này và chính mảnh đất này đã cùng cả nước và cả thời đại nuôi
14
lớn con người huyền thoại Hồ Chí Minh, chúng ta hãy về thăn Hoàng Trù với
quần thể tích phong phú.
Làng Trù đã đi vào lịch sử thi ca vào trái tim hang triệu con người
cùng với tên tuổi Hồ Chí Minh anh hung giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt
xuất của Thế giới.
Đến cụm di tích Hoàng Trù, sau cánh cổng tre rộng mở, lối đi giữa hai
bờ mận hảo dẫn ta đến một ngôi nhà thờ và hai ngôi nhà tranh than thuộc
giống những ngôi nhà của cư dân vùng này thuơ trước.
3.2. Nhà thờ chi họ Hoàng Xuân
Cụ Hoàng Đường (ông ngoại của Chủ tịch
Hồ Chí Minh) là hậu duệ đời thứ 18 của dòng họ
Hoàng Xuân đã dựng ngôi nhà thờ chi nhanh họ
Hoàng Xuân để thờ cố nội, ông nội và thân phụ là
Hoàng Cương. Cụ Hoàng Đường qua đời (1893),
hiệu bụt của cụ do ông Nguyễn Sinh Sắc viết cũng được bài trí thờ ở đây.
Ngôi nhà được hoàn thành vào năm 1881 theo kiểu tứ trụ bằng gỗ lim gồm 3
gian, có cửa bàn khoa song tiện. Lúc đầu lợp tranh, mãi đến năm 1930 mới
được tu sửa và lợp ngói như hiện nay. Những năm tháng tuổi thơ, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã sống ở đây. Người thường theo cha dâng hương hoa, lễ vật
lên thờ cúng anh linh tiên tổ.
Theo tộc phả để lại, dòng họ Hoàng Xuân là một dòng họ có truyền
thống hiếu học, con cháu nhiều người có nghĩa khí và có công lao với đất

nước.
Năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi
nhà Lê, dựng nên nhà Mạc. Con cháu dòng họ
này đã phù Lê, diệt Mạc. Thế hệ thứ 6 của dòng
họ có người tên là Hoàng Nghĩa Kiều (1540-
1587) được vua Lê phong Thái Bảo Hồng quốc
công. Đây là ông tổ xa xưa nhất của họ Hoàng ở làng Hoàng Trù.
15
Theo tộc phả để lại, ta biết tộc phả dòng họ Hoàng Xuân ở làng Hoàng
Vân, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên (nay là Hoàng Vân, huyện Kim Thi,
Tỉnh Hưng Yên. Ngôi nhà thờ được cụ Hoàng Đường lập ra từ năm 1881để
thwof cúng cố nội là Hoàng Xuân Lý.
3.3. Ngôi nhà cụ Hoàng Đường
Cụ Hoàng Đường là ông ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Ngôi nhà của cụ gồm có 5 gian và hai chái, trong đó ba gian ngoài
thông với nhà thờ rất thoáng mát. Bộ phản kê ở gian thứ nhất là nơi cụ
Đường dạy học. Gian thứ hai có bộ tràng kỷ bằng tre, chiếc án thư với những
dụng cụ dạy học như bút lông, nghiên mực Gian thứ ba có bộ phản dùng
làm nơi nghỉ ngơi của thày và trò. Hai gian còn lại là nơi nghỉ ngơi của cụ bà
và là nơi sinh hoạt của gia đình.
Cuối năm 1883 ông bà Hoàng Đường tổ
chức lễ thành hôn cho hai con là Hoàng Thị Loan
(thân mẫu của Hồ Chủ tịch) và Nguyễn Sinh Sắc
(thân phụ của Chủ tịch Hồ Chí Minh) tại ngôi
nhà gỗ 5 gian này. Ông bà đã dựng ngôi nhà
tranh ba gian đầu góc vườn phía tây để cho đôi vợ chồng trẻ ở riêng.
Ngôi nhà tại làng Hoàng Trù là nơi bà Hoàng Thị Loan sinh ra và lớn
lên, là lớp học đầu tiên ươm trồng tài năng của ông Nguyễn Sinh Sắc. Đây
cũng là nơi ghi dấu những kỷ niệm êm đẹp trong tuổi ấu thơ của Chủ tịch Hồ
Chí Minh

3.4. Ngôi nhà cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc
Là ngôi nhà lá 5 gian được dân làng Sen quê nội Chủ tịch Hồ Chí
Minh dựng lên từ quỹ công của dân làng để mừng ông Nguyễn Sinh Sắc,
thân phụ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi ông đỗ phó bảng khoa thi Hội năm
1901. Trong ngôi nhà này cụ Sắc dành hai gian để đặt bàn thờ bà Hoàng Thị
Loan và để tiếp khách. Bàn thờ được làm bằng liếp tre nứa trên trải chiếu nhỏ
để bát hương, cây nến và bài vị bằng gỗ giản dị. Gian thứ tư là nơi nghỉ của
16
cụ Sắc với bộ phản gỗ kê bên cửa sổ chính, bên cạnh có chiếc án thư nơi cụ
dạy các con học chữ và đây cũng là nơi vào các buổi tối cụ thường mời bà
con ngồi quây quần uống nước trà xanh.
Các kỷ vật trong ngôi nhà hiện còn được giữ lại hầu như nguyên vẹn:
hai bộ phản gỗ là nơi nghỉ của cụ Phó bảng và hai con trai, chiếc giường là
của bà Thanh (tên hiệu Bạch Liên) con gái cụ, chiếc rương đựng lương thực,
chiếc tủ đứng hai ngăn đựng đồ dùng, chiếc mâm bằng gỗ sơn đen.
3.5. Ngôi nhà chủ tịch Hồ Chí Minh ra đời
Ngôi nhà tranh 3 gian nằm ở góc vườn phía tây nhà ông bà Hoàng
Đường là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh cất tiếng khóc chào đời và sống ở đây
cho tới năm lên 3 tuổi. Gian ngoài cạnh cửa sổ có chiếc án thư với nghiên
mực, hộp đựng bút lông, hai chiếc ghế vuông, chếch về phía trong là hai giá
sách đựng sách thánh hiền. Tại gian nhà này cụ Hoàng Đường thường qua
đây trao đổi với ông Sắc về văn chương, chữ nghĩa.
Gian giữa sát phên có chiếc giường nhỏ bằng gỗ xoan, liếp nứa, trải
chiếu mộc, chiếc màn bằng vải nhuộm nâu là nơi nghỉ của ông Sắc và bà
Loan. Sát bên chiếc giường là chiếc rương gỗ nhỏ dùng đựng lương thực và
các vật quí của gia đình.
Chiếc khung cửi đặt ở gian thứ ba là công cụ lao động của bà Loan
dùng để dệt vải, dệt lụa nuôi sống cả gia đình. Bà Hoàng Thị Loan vừa dệt
vải vừa hát ru con để chồng yên tâm việc bút nghiên. Tại đây còn có chiếc
võng gai đơn sơ, nơi xưa kia Bác Hồ đã từng nằm ngủ.

Tuổi thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được mẹ chăm sóc, vun đắp
bằng những làn điệu dân ca bay bổng chứa đựng những ước mơ cao đẹp, hy
vọng sâu xa.
17
Ch¬ng 4. Khu di tÝch mé bµ Hoµng ThÞ Loan
vµ c¸c di tÝch kh¸c
4.1. Khu di tích mộ bà Hoàng Thị Loan
Bà hoàng thị loan sinh năm 1868, tại làng Hoàng Trù, xã Kim Liên,
huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, mất năm 1901 tại kinh đô Huế Thân phụ bà
là cụ Hoàng Xuân Đường, thân mẫu bà là cụ Nguyễn Thị Kép. Sinh trưởng
trong một gia đình gia phong bà đã được học chữ và là người có năng khiếu
đặc biệt. Năm 1883 bà lấy ông Nguyễn Sinh Sắc và sinh được 4 người con.
Năm 1895 bà theo chồng và hai con vào Huế lao động nuôi chồng và hai con
ăn học. Sau khi sinh người con út, sức khỏe sút kém, lại bị bệnh hiểm nghèo
nên bà đã qua đời ở Huế.
Trên lưng núi Động Tranh thuộc dãy Đại Huệ là nơi an táng bà Hoàng
Thị Loan - thân mẫu của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mộ bà được đặt trên lưng
chừng dãy núi Đại Huệ khu vực thuộc xã Nam Giang, huyện Nam Đàn, tỉnh
Nghệ An. Tại vị trí có độ cao chừng 100m so với mực nước biển.
Khu mộ với trung tâm là ngôi mộ của bà Hoàng Thị Loan được xây
dựng từ ngày 19 tháng 5 năm 1984 đến ngày 16 tháng 5 năm 1985. Nhìn tổng
quát, ngôi mộ có hình một khung cửi khổng lồ. Xung quanh ngôi mộ được ốp
bằng những phiến đá hoa cương và đá cẩm thạch. Nóc mộ được phủ lên bằng
những hòn đá tự nhiên của núi Đại Huệ, phía trên có dàn bê tông che chắn có
hình khung cửi được phủ đầy hoa giấy (được mang về trồng từ khu lăng mộ
cụ Nguyễn Sinh Sắc tại Cao Lãnh - Đồng Tháp). Tại nền sân thượng hình
bán nguyệt trước ngôi mộ, có dựng một tấm bia lớn tạc tiểu sử và công lao
của bà Hoàng Thị Loan bằng đá đen. Hai bên tả hữu là đường đi lên và
đường đi xuống được làm thành nhiều bậc đá khác nhau giống như hai giải
lụa đào xõa xuống từ khung cửi.

Núi Duệ, Động Tranh là một thắng cảnh đặc sắc. Trên dãy núi Đạo
Duệ có chùa cổ Đại Duệ nổi tiếng, động Thăng Thiên linh thiêng, dấu tích
thành nhà Hồ và còn in dấu con đường hành quân thần tốc của Quang Trung
18
đánh bại giặc Thanh. Thực là “Non xanh, đá tạc gươm hào khí” (Hồ Khỉa
Đại).
Xưa ở vùng núi này có các tao nhân và cả các vị đế vương thường tới
lui vãn cảnh. Con trai trưởng Hồ Quý Ly là Hồ Nguyên Trừng được vua cha
sai vào đây định xây lũy đắp thành chống giặc Minh. Khi Quý Ly ngự giá đi
qua cũng đã chọn nơi này làm nơi hai cha con ngồi bàn việc nước. Sau này
vua Quang Trung đã vào thăm và đi dạo trên nùi.
Ngày nay trên núi Động Thanh thuộc dãy núi Đại Duệ có một di tích
mới đó là khu mộ bà Hoàng Thị Loan thân mẫu Bác Hồ.
Theo đường quốc lộ số 46, ở cây số 10 từ Vinh đi lên, về phía tay phải
có đường otoo chạy xuyên qua các làng nay thuộc xã Nam Giang, huyện
Nam Đàn qua chân núi Đại Duệ. Đến một khu đất phảng phất dưới chân núi
là chạm dừng chân cho du khách thăm viếng trước khi vượt qua mấy trăm
bậc đá đến đỉnh Động Tranh nơi có lăng mộ bà Hoàng Thị Loan thân mẫu
của Bác.
Bà Hoàng Thị Loan mất ở Huế thi hài bà được bà con dân phố cùng
người con yêu quý Nguyễn Sinh Cung đưa qua cống Thanh Long bằng
thuyền ngược dòng song Hương lên an táng tại chân núi Tam Tầng, dãy Ngự
Bình . thành phố Huế.
Trong lúc bị quản thúc ở Huế, nhân chuyến đi phép về thăm quê, bà
Nguyễn Thị Thanh chị gái Bác đã bí mật đưa hài cốt của mẹ về chôn cất ngay
trong vườn nhà mình ở làng Sen.
Hai mươi năm sau (năm 1942) ông Cả Khiêm anh trai Bác khi ra tù
lần 2 đã tìm kiếm và chọn được một vị trí trên Động Tranh đẹp đẽ thuộc dãy
núi Đại Duệ hung vĩ nằm ở địa bàn làng Hữu Biệt xã Nam Giang. Ông Cả
Khiêm đã bí mật mang hài cốt thân mẫu lên an táng ở Động Tranh. Ông đã

cẩn thận đắp vài mộ giả để đề phòng kẻ xấu xâm phạm.
Mười lăm năm sau ngày Bác Hồ qua đời, vào đúng ngày 19-5-1984
Đảng bộ và quân dân tỉnh Nghệ An cùng cán bộ chiến sĩ Quân Khu 4 đã long
19
trọng làm lễ khởi công xây dựng lại ngôi mộ thân mẫu của Bác để thỏa long
mong ước của nhân dân muốn đến viếng thăm người đã sinh ra chủ tịch Hồ
Chí Minh vĩ đại.
Khu mộ được xây dựng trên nền cũ nằm ở phía Nam núi Đại Duệ. Địa
hình toàn bộ khu mộ có hình cánh cung trông linh thiêng và kỳ vĩ nghiêng về
phía Tây Nam nhìn về Kim Liên.
Hài cốt của thân mẫu Bác được giữ nguyên vị trí cũ . Ngôi mộ mới xây
hình chữ nhật, dài 2,5m, rộng 1,4m, cao 1,5m, Thân mộ ốp bằng đá hoa
cương do bộ tư lệnh lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi tặng. Chân mộ được
ghép bằng đá cẩm thạch lấy từ Quỳ Hợp. Phía trên ngôi mộ được che bằng
dàn hoa mang dáng dấp khung cửi lớn gắn bó với cuộc đời lao động miệt mài
của bà nuôi chồng con ăn học.
Dàn hoa có cây che là hoa giấy do tỉnh Đồng Tháp Mười và Bình Trị
Thiên trồng vaog ngày khánh thành.
Đường lên và xuống được ghép bằng đá. Có 304 bậc lên và 271 bậc
xuống, uốn lượn hai bên sườn núi như dải lụa, có cây xanh che mát, có điểm
dừng chân nghỉ ngơi cho du khách.
Đường đi lên được tôn tạo phù hợp với truyền thống tâm linh phương
Đông. Du khách lên viếng mộ đi theo hướng thuận chiều kim đồng hồ. bậc
lên sẽ là 416 và bậc xuống sẽ là 341 bậc.
Trên đường đi chúng ta còn được viếng mộ cụ Hà Thị Hy bà nội Bác
Hồ. Còn được ngắm 33 đóa sen bằng đá tượng trương cho 33 năm cuộc đời
của bà Hoàng Thị Loan.
Phía trước ngôi mộ là sân hình bán nguyệt được dựng tấm bia dẫn tích
làm bằng đá núi Nhồi ghi tạc tiểu sử và công lao của bà Hoàng Thị Loan.
Đứng ở nhà bia nhìn xuống chúng ta thấy có cả một vùng non sông

gấm vóc: trước mặt là Uyển Hồ, rừng cây, những cánh đồng bao la bát ngát.
Phía trước khu mộ có đồng Lùm Cựu bao quanh, Nôn Giang chin khúc
uốn lượn, xa xa là Lam Giang xanh trong làm minh đường, có Rú Dầu, Rú
20
Chung làm án sơn, Bên phải có động Khe Cùng, Rú Đá, Rú Dơi làm thanh
long. Bên trái có động Ao Hồ, Rú Cồn, Rú tiết làm bạch hổ. Thật là một vùng
núi song kỳ tú, lại là nơi mang trong long nhiều địa danh mang đậm dấu tích
lịch sửvawn hóa nhiều đời đang vẫy gọi các nhà nghiêm cứu làm sáng tỏ.
:
4.2. Khu di tích núi Chung
Núi Chung xuất hiện vào kỷ Tân Sinh cùng một thời kỳ với các dãy
núi Thiên Nhẫn,Đại Huệ.Các đỉnh núi thời kỳ này đều có đặc điểm là bị
phong hóa có hình dạng bát úp.Núi Chung được bà con trong vùng ví như cái
chuông khổng lồ úp nghiêng.Núi có nhiều động,
Kim Liêncó 7 làng đều ở xoay quanh núi Chung.Có 4 làng ở cận kề(2
làng ở ngay chân núi,2 làng có ruộng tiếp giáp).phía Bắc giáp với làng Hoàng
Trù,phía Đông giáp với làng Vân Hội,phía Nam giáp làng Tình Lý,phía Tây
giáp làng Ngọc Đình.Nhờ có vị trí khá đặc biệt nên núi Chung được xem là
không của riêng ai.Núi Chung là nơi gắn bó mật thiết của nhân dân Kim Liên
bao thế hệ.
Bác Hồ kính yêu của chúng ta thuở nhỏ đã gắn bó với ngọn núi Chung
bẵng những buổi chiều thả diều,đánh trận giả.,kéo co với bạn bè ở quanh
Dăm Sim hoặc trèo lên các động cao hoặc thăm các công trình văn hóa,tâm
linh đẹp đẽ và hoành tráng.
21
Vào những năm 1930-1931,núi Chung còn là nơi hội họp của Chi bộ
Đảng Cộng Sản tổng Lâm Thịnh.Cờ đỏ búa liềm đã bay cao trên núi làm nức
long quần chúng và khiếp vía kẻ thù
Ngày nay núi Chung được trồng nhiều cây xanh quý hiếm,có cây đã
mọc cao quá 20m.hệ thực vật ở đay đã phong phú có đén 187 loài với 149

chi,65 họ.Nhiều dự án xây dựng các công trình văn hóa ở núi Chung đang
được thực hiện.Chung Sơn chắc chắn sẽ trở thành địa chỉ hấp dẫn cho du
khách lúc đén thăm Kim Liên.
Cảm Xúc Khi Về Thăm Quê Bác
Sau một hành trình dài cuối cùng tôi cũng đặt trên đến mảnh đất Kim
Liên-Nam Đàn-Nghệ An.Vậy là sau bao nhiêu mong chờ tôi đã được tận mắt
nhìn thấy quê hương của Bác.Trứoc đay tôi chỉ biết và hình dung nó qua
những trang sách những lời kể của thầy cô,khi ấy cảm giác trong tôi chỉ là
những xúc cảm nhẹ nhàng bởi tôi chỉ hình dung ra ngôi nhà Bác sinh ra và
lớn lên.Nhung hôm nay tôi đã đứng trên mảnh đát dấu yêu đầy tự hào
này.Đây là lần đàu tiên tôi đặt chân đến mảnh đát Nghệ An,quả đúng như
những gì mà tôi đã được nghe nói con người ở đây thật đôn hậu,họ đón chào
chúng tôi những người khách phương xa bằng những tình cảm than thiết
22
nhất,điếu đó làm cho tôi không mấy xa lạ khi đặt chân đến vùng đát mà trước
đay tôi chưa từng đặt chân đén.
Thế hệ con cháu chúng tôi hôm nay, được về thăm quê Bác, thấy được
những cái đơn sơ mộc mạc mới hiểu được nếp sống giản dị mà thanh cao của
Bác, hiểu được triết lý sống của một con người vĩ đại.
Làng Sen, quê ngoại Bác.
Đường vô xứ Nghệ quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ
Con đường dẫn về làng Hoàng Trù (quê ngoại Bác) và làng Sen (quê
nội Bác) uốn lựon giưa cái màu xanh của cỏ cây và mùi hương của đất. Lạ
thay, miền quê quanh năm chịu hứng bao khắc nghiệt của thời tiết nhưng lại
mang một vẻ trù phú mỡ màu. Đây đó, lấp ló những mái ngói giữa các lùm
cây, con đường quê mát rượi bóng râm, đàn bò thong dong gặm cỏ
Điều đầu tiên mà tôi cảm nhận là quê Bác thật thanh bình, cảnh quê
trù phú nhưng không hề bị ảnh hưởng và đổi thay bởi nếp sống đô thị. Người
dân đến thăm quê Bác rất đông, đủ các tầng lớp nhân dân về thăm quê Bác

trong mấy ngày nghỉ lễ, họ đều mang hoa đến dâng Bác trong nhà lưu niệm
với một tấm lòng thành kính như đứa con xa có dịp về thăm quê cha mẹ.
Bước chân về làng Hoàng Trù, làng Sen mà như đang bước chân về quê
vậy. Ngay từ con đường vào nhà chúng tôi đã thấy rất thân quen, bờ tre, hàng
23
dâm bụt, hoa cau, hoa bưởi thơm nồng, con đường đất nhỏ đơn sơ mộc mạc, đặc
biệt là mái nhà tranh in dấu ấn thời gian nhưng không hề bị xiêu vẹo.
Mọi kỷ vật vẫn còn nguyên vẹn, án thư nơi cụ thân sinh Bác vẫn
thường dạy cho các con học, khung cửi nơi mẹ Hoàng Thị Loan vẫn ngồi dệt
vải, phản gỗ nơi các nhà nho yêu nước thường đến bàn chuyện thời cuộc
nước nhà với cụ Nguyễn Sinh Sắc
Người dân ở đây thật khéo giữ gìn, họ vẫn lặng lẽ hàng ngày chăm sóc cho
mấy gian nhà, mảnh vườn, người dân chăm chút giữ gìn nhà của Bác như nhà của
mình. Những kỷ vật và công chăm sóc gìn giữ của nhân dân đã khiến cho chúng
tôi cảm thấy Bác và những người thân trong gia đình Bác vẫn hiện hữu ở đây,
vẫn tiếp đón chúng tôi với tấm lòng hiếu khách truyền thống của người dân xứ
Nghệ. Và tôi hiểu,Bác Hồ đối với chúng tôi vừa gần gũi thân thương, lại vừa lắng
đọng thành văn hoá trường tồn mãi trong lòng người dân Việt.
Thế hệ con cháu chúng tôi hôm nay, được về thăm Quê Bác, thấy được
và hiểu được những cái đơn sơ mộc mạc thì mới hiểu được nếp sống giản dị
mà thanh cao của Bác, hiểu được triết lý sống của một con người vĩ đại.
Có lẽ điều để lại trong tôi nhiều ấn tượng và xúc động mạnh mẽ nhất là
những ngừơi hướng dẫn viên du khách tham quan. Với chất giọng Nghệ
trong trẻo mà ngọt ngào ấm áp, sâu lắng như nước dòng sông Lam họ kể về
gia cảnh nhà Bác, về thuở thiếu thời, về cả cuộc đời thanh cao vĩ đại của Bác
bằng chất giọng sâu lắng ấm áp ấy một cách rất tự nhiên, như đang kể cho
chúng tôi về một người thân trong gia đình mình vậy: “ Đây là cái án thư, nơi
cha Bác thường dạy mấy anh em học chữ, đây là cái sập gỗ nơi cha Bác
thường bàn chuyện nước nhà với các bậc cha chú. Và các anh chị biết không,
đây chính là nơi hình thành lòng yêu nước thương dân của Bác chúng ta. Đây

là bàn ăn mà người Nghệ thường gọi là cái mươn, nơi cả nhà Bác quây quần
ngày hai bữa, bữa trưa và bữa tối Các anh chị biết không, 11 tuổi Bác
chúng ta đã đi bộ từ Huế ra Nghệ An, trên tay bế đứa em khát sữa ”
24
Tất cả chúng tôi đều bị cuốn hút thật sự bởi chất giọng ngọt ngào đặc
biệt ấy, và cuốn hút hơn hết là câu chuyện mà ngừoi hứong dẫn viên đang kể,
câu chuyện thân thương gần gũi như giữa đời thường về cuộc đời Bác, lại
như được nghe một câu chuyện cổ tích về một ông tiên. Người hướng dẫn
viên chu đáo nhiệt tình dẫn chúng tôi đi mọi nơi, từ gian nhà trong ra gian
nhà ngoài, ra bếp, rồi ra nhà thờ của dòng họ, cô còn kể cả về cây mít hơn
một trăm tuổi trong vườn nhà Bác. Mấy mảnh vườn xinh xắn trồng toàn cây
lạc, ngô và khoai lang, thỉnh thoảng có mấy gốc cau xen vào. Anh hướng dẫn
kể: “ Một lần Bác về thăm quê, bà con xóm giềng ngỏ ý trồng hoa trong vườn
nhà, Bác nói: “Bác đồng ý cho các cô các chú trồng hoa, nhưng mà phải là
hoa khoai. Bác thấy hoa khoai rất đẹp ”. Bà con hiểu ý, từ đó chỉ trồng
khoai trồng lạc trong vườn thôi”.
Chúng tôi vây quanh anh hướng dẫn, người đứng người ngồi trong một
không gian rất thoải mái, mát mẻ, ai cũng cảm thấy như ở nhà mình vậy. Một
số người trong đó có tôi đã không ngăn được những giọt nước mắt xúc động
khi nghe kể vể cuộc đời bôn ba gian khổ và tấm lòng hy sinh vì dân vì nước
cao cả của Bác. Không một ai phải nhắc nhở chúng tôi, mà cũng chẳng ai
trong số khách tham quan nói ra, nhưng mọi người đều cảm nhận mình đang
ở một nơi rất thiêng liêng nhưng lại rất đỗi mộc mạc thanh bình - chúng tôi
đang được ở quê Bác.
Chúng tôi lần lượt đi thăm những di tích,những kỷ vật nơi đây và mỗi
kỷ vật lại gợi lên trong tôi niềm xúc động lớn lao.
Còn rất nhiều điều nữa mà tôi muốn nói, muốn kể với các bạn, những
mong tỏ tấm lòng tự hào về quê hương tôi, về mảnh đất đã sinh ra Bác Hồ,
người cha của cả dân tộc Việt Nam. Nhưng có lẽ “hữu xạ tự nhiên hương”, tự
cảnh vật và con người nơi đây đã thay lời tôi nói lên tất cả.

25

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×