o ra, cho phép bộ nhớ ngưng làm việc (treo: không dùng đến) cũng do tín hiệu
trên tuyến điều khiển này quyết định.
o Tuyến dữ liệu: đây là bus 1 chiều với ROM và là 2 chiều với các bộ nhớ
khác, được sử dụng để mang dữ liệu từ vùng nhớ được chọn bởi tuyến địa
chỉ trong bộ nhớ đến các thiết bị khác như CPU, ROM, RAM và các cổng
nhập/xuất (I/O) trong hệ thống.
Thời gian truy xuất (Access Time) là thời gian cần thiết để thực hiện hoạt động
đọc, nghĩa là thời gian từ lúc bộ nhớ nhận được địa chỉ mới ở đầu vào cho đến khi
dữ liệu đã sẵn sàng cho đầu ra. Ký hiệu at hay t
ACC
.
Dung lượng (Capacity): Nói lên số bit tối đa có khả năng lưu trữ trong bộ nhớ. Ví
dụ có một bộ nhớ lưu trữ được 2048 từ 8 bit. Như vậy bộ nhớ có dung lượng của
bộ nhớ là 2048 x 8, trong đó đại lượng thứ nhất (2048) là tổng số từ, và đại lượng
thứ hai (8) là số bit trong mỗi từ (kích cỡ từ). Số từ trong bộ nhớ thường là bội số
của 1024.
Đơn vị chuyển đổi như sau:
1 byte = 8 bit
1Kbyte = 2
10
= 1024 bit
1Mbyte = 20
20
= 1,048,576 bit
1Gbyte = 2
30
= 1,073,741,824 bit
Ô nhớ (Memory Cell): là phần tử, linh kiện điện tử có khả năng lưu trữ một bit đơn
(1 hay 0). Ví dụ như flip – flop (FF), tụ tích điện, một vết trên băng từ.
Từ nhớ (Memory Word): là một nhóm bit trong bộ nhớ biểu diễn các chỉ thị hay dữ
liệu thuộc loại nào đó. Ví dụ như thanh ghi gồm 8 Flip-Flop có thể xem như là bộ
nhớ có khả năng nhớ 1 từ mã 8 bit. Kích cỡ từ trong một hệ thống điện tử số
thường biến thiên trong khoảng 4 đến 64 bit.
1.2 TỔ CHỨC BỘ NHỚ BÁN DẪN
1.2.1 Hoạt động của bộ nhớ
Để minh hoạ việc truy xuất dữ liệu trong bộ nhớ bán dẫn, có thể mượn hình
ảnh tủ đựng hồ sơ trong các công sở (hình 4.3 a). Mỗi một hộc tủ trong tủ hồ sơ
được đánh số theo nguyên tắc như sau: chữ số đầu tiên (đánh theo hệ 16) của hộc
là con số chỉ thứ tự hàng của hộc này; chữ số đầu thứ hai (cũng đánh theo hệ 16)
của hộc là con số chỉ thứ tự cột của hộc này. Do đó mỗi một hộc tủ đều có một mã
địa chỉ được ghi dưới dạng mã 16 riêng, chỉ ra vị trí của hộc trên tủ hồ sơ. Giả sử
khi muốn đưa một hồ sơ mới (dữ liệu) vào hộc tủ có mã số là 03, ta chỉ việc trùng
phùng từ hàng 0 với cột 3 là gặp hộc tủ này. Việc ghi hay nạp dữ liệu là tuỳ vào
tuyến điều khiển.
Khi số hộc tủ không đủ để giữ số hồ sơ cần lưu trữ, người ta mua thêm một
tủ cùng loại với tủ cũ và việc đánh số địa chỉ tương tự như cũ. Lúc này việc đánh
số phân biệt giữa 2 tủ giống như lập mã vùng trong thuê bao điện thoại: có thể xem
tủ thứ nhất là vùng 1 và tủ mới mua là vùng 2 (hình 4.3 b). Khi cần liên hệ dữ liệu
trong cùng một vùng thì không cần sử dụng mã vùng (giống như gọi điện thoại nội
hạt), chỉ khi liên hệ giữa hai vùng khác nhau lúc này mới sử dụng đến mã vùng
(giống như gọi điện thoại liên tỉnh). Nghĩa là hồ sơ khi trao đổi trong cùng một tủ,
ta không cần sử dụng thêm một số nào trong mã địa chỉ nhưng muốn chuyển hồ sơ
từ tủ này sang tủ kia bắt buộc phải sử dụng thêm một con số nữa trong mã địa chỉ
(tương tự như mã vùng khi gọi điện thoại). Cụ thể, tủ cũ thêm số 0 vào bên trái của
mã địa chỉ còn tủ mới thêm số 1 vào bên trái của mã địa chỉ. Như vậy 001; 011;
034; 075… là các địa chỉ của các hộc trong tủ cũ và 101; 111; 134; 175 là các địa
chỉ của các hộc trong tủ mới (cùng vị trí vật lý nhưng khác tủ).
(a)
(b)
Hình 4.3: Hình ảnh minh hoạ việc truy xuất dữ liệu trong bộ nhớ bán dẫn
Minh hoạ việc đánh số trên qua hình 4.4. Bên trái là một số điện thoại thật,
tương ứng với bên phải là cách đánh số địa chỉ trong bộ nhớ bán dẫn theo mã hexa.
Hình 4.4: Minh hoạ việc đánh số trên vùng địa chỉ của bộ nhớ bán dẫn.
Hình 4.5 minh hoạ một bộ nhớ RAM trong chương trình mô phỏng SMS
32v23 (trình bày ở chương 4) trình bày nội dung và cách đánh địa chỉ cho từng ô
nhớ chứa nội dung như cách thức ở tủ hồ sơ vừa nêu ở trên.
Hình 4.5: Bộ nhớ RAM trong chương trình mô phỏng SMS 32v23
Cho ví dụ đơn giản minh hoạ về nguyên tắc hoạt động của bộ nhớ bán dẫn:
khi bạn muốn gởi một lá thư cho bạn mình đang sống ở Pháp, bạn phải ghi địa chỉ
của bạn mình vào bì thư: đó chính là thông tin trên tuyến địa chỉ, xác định nơi mà
lá thư của bạn sẽ đến; viết vào thư những thông tin mà mình muốn gởi rồi cho vào
bì thư dán lại: đó là thông tin trên tuyến dữ liệu; đến bưu điện để xác nhận việc
mình sẽ gởi lá thư đó sang Pháp theo địa chỉ ghi trên bì thư: đó là thông tin yêu cầu
đặt trên tuyến điều khiển. Như vậy việc trao đổi thông tin trên bộ nhớ bán dẫn cũng
tương tự như việc trao đổi thư từ theo dạng truyền thống mà thôi! Sự phối hợp nhịp
nhàng giữa 3 tuyến sẽ giúp bộ nhớ hoàn thành tốt công việc của mình: lưu trữ và
trao đổi thông tin.
Hình 4.6 minh hoạ sơ đồ khối tiêu biểu cho một ROM, gồm có đầu vào địa
chỉ, đầu vào điều khiển và đầu ra dữ liệu.
Giả sử ROM đã được lập trình với dữ liệu minh hoạ như ở hình 4.7. Có thể
có 16 từ dữ liệu (nhóm 8 bit) riêng biệt được ghi vào 16 địa chỉ khác nhau dưới
dạng nhị phân.
HOẠT ĐỘNG ĐỌC
Để đọc một từ dữ liệu từ ROM, ta phải làm như sau: áp đầu vào địa chỉ
thích hợp, sau đó kích hoạt đầu vào điều khiển.
Hình 4.6: Sơ đồ minh hoạ 3 tuyến: dữ liệu, địa chỉ, điều khiển
Hình 4.7: Bảng dữ liệu tương ứng với các địa chỉ trong ROM
Ví dụ muốn đọc dữ liệu tại địa chỉ 0111 của ROM (hình 4.5) ta phải đưa
A
3
A
2
A
1
A
0
= 0111 vào các chân địa chỉ, sau đó áp dụng trạng thái thấp cho
.
Đầu vào địa chỉ được giải mã bên trong ROM để chọn được dữ liệu đúng là
11101101. Giá trị này sẽ xuất hiện tại đầu ra D
7
đến D
0
.
Kỹ Thuật Số
Blogthongtin.info Biên tập: Nguyễn
Trọng Hòa
BÀI 2: CẤU TRÚC BỘ NHỚ BÁN DẪN
BỘ NHỚ ROM
Bộ nhớ chỉ đọc được (ROM) là một dạng của bộ nhớ bán dẫn mà nó được thiết kế
giữ cho dữ liệu không thay đổi. Khi hoạt động dữ liệu mới không thể viết vào
ROM được mà chỉ có thể đọc được.