Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (229.46 KB, 5 trang )
Rau má chống nhiễm trùng, chống
độc, giải nhiệt
Rau má tên khoa học là Centella asiatica (L.) Urb., thuộc họ hoa tán
(Apiaceae). Cây thảo sống nhiều năm, mọc sát mặt đất và có lá tròn như gò
má của con người, do đó mà có tên của cây.
Phân bố và sinh thái:
Rau má phân bố ở nhiều nơi trên thế giới. Ở nước ta, nó mọc hoang khắp
nơi, thường gặp ở các bãi cỏ, bờ ruộng, ven suối, quanh các làng bản.
Chế biến làm thực phẩm:
Rau má đã được nghiên cứu nhiều ở nước ta và cả trên thế giới, vì những
đặc tính quý giá của nó. Tại nước ta, rau má được sử dụng rất phổ biến. Nó thường
được coi là rau chống đói và loại rau lành.
Nhân dân ta thường dùng rau má để ăn sống, muối dưa, luộc chín hoặc nấu
canh ăn.
Rau má có thể dùng nấu canh với thịt nạc hoặc tép hay cá lóc. Người ta đã
phân tích thành phần hóa học của rau má, tính theo g%: nước 88,2, protid 3,2,
glucid 1,8, cellulose 4,5; theo mg%: calcium 229, phosphor 2, sắt 3,1, β - caroten
1.300, vitamin B1 0,15 và vitamin C 37.
Sử dụng làm thuốc:
Rau má cũng là một vị thuốc thông dụng. Nó có vị ngọt tính mát, có tác
dụng chống nhiễm trùng, chống độc, giải nhiệt và lợi tiểu. Thường được chỉ định
dùng trị: đau gan mật, bệnh sởi; sổ mũi, viêm hạnh nhân, đau họng, viêm khí
quản; bệnh đường tiết niệu và sởi; ngộ độc lá ngón, nấm độc, thạch tín (arsenic).
Dùng ngoài trị rắn cắn, mụn nhọt, ngứa lở và vết thương.
Rau má xay nhuyễn vắt lấy nước cốt, pha với nước dừa xiêm là một thứ
nước giải khát rất bổ. Ở các thành phố và các thị xã, thị trấn, người ta thường sử
dụng nước rau má dưới dạng nước sinh tố như các thứ quả cây. Nhân dân ta
thường dùng rau má trong các trường hợp: