Thà chết nhát còn hơn chết thiệt
Những ngày gần đây, câu nói của một số vị
chức sắc cấp cao trên các phương tiện thông
tin đại chúng thường có cụm từ “yếu bóng vía”,
“chết nhát”, “cảm tính”, “tâm lý bầy đàn”, “thiếu khoa học”…, hàm
ý chỉ doanh nhân ngành bất động sản đóng hầu bao nghe ngóng,
các nhà đầu tư nhỏ lẻ vội vã buông chứng khoán,
các doanh nghiệp nhỏ và vừa gói lại chuyện làm ăn, người dân
giảm gởi tiền ngân hàng nhưng lại trút tiền mua vàng, mua đô la,
mua lương thực, thực phẩm, nhiên liệu (xăng, dầu, đèn cầy) tích
trữ, v.v Nghe ít lần người dân làm thinh. Nghe nhiều lần người
dân không thể không nói lại. Câu hỏi đặt ra là, tại sao hơn hai
mươi năm đổi mới người lao động và khu vực kinh tế tư nhân
không “chết nhát”, bỗng nhiên khoảng năm tháng gần đây rủ
nhau “yếu bóng vía”? Ẩn sau “tâm lý bầy đàn” đó là cái gì?
Chỉ mới năm trước, các nhà đầu tư nước ngoài đã ưu ái đặt cho
Việt Nam cái tên mỹ miều: “Ngôi sao đang lên”. Số liệu thống kê
cho thấy, hơn một thập niên qua tốc độ tăng trưởng năm sau cao
hơn năm trước. Đóng góp cho sự tăng trưởng đó không thể
không nói đến người lao động và khu vực kinh tế tư nhân. Thành
phần kinh tế này từ khởi điểm “bằng không” năm 1986, đến 2007
đã đóng góp trên 50% tổng sản lượng quốc gia! Về số lượng,
doanh nghiệp tư nhân phát triển như nấm sau mưa. Trước đổi
mới, khoảng 14 ngàn doanh nghiệp quốc doanh độc diễn, bây
giờ, khu vực tư nhân vượt hơn con số 350 ngàn và khoảng gần 4
triệu hộ kinh doanh công thương nghiệp
Về hiệu quả kinh doanh của khu vực tư đóng góp cho sự phát
triển kinh tế, dù muốn, cũng không ai có thể phủ nhận. Từ mốc
“nghèo bằng nhau” của những năm trước đổi mới, họ đã tự loay
hoay tìm nguồn vốn, tự bươn chải để tìm kiếm đồng lời, trong một
môi trường kinh doanh còn chưa thiệt bình đẳng cho mọi thành
phần kinh tế. Nhiều năm liền, thành phần này đã tạo ra hơn 90%
việc làm hàng năm và cũng là khu vực sử dụng đồng vốn đạt hiệu
quả cao nhất, đóng góp vào ngân sách nhiều nhất. Người lao
động và khu vực tư vui như được cởi trói, suốt quá trình đổi mới,
tinh thần kinh doanh đã thành tâm lý bầy đàn. Họ hồ hởi bay ra
đường để tìm kiếm cơ hội đầu tư kinh doanh, nhất là giới trẻ.
Nhiều người trong số họ có chung nỗi khát khao, làm giàu cho
mình gắn liền với làm giàu cho đất nước. Vậy, “tại sao bây giờ
người lao động lại làm những chuyện tích cốc phòng cơ, còn giới
kinh doanh lại đóng băng đồng vốn, nghe ngóng, chờ thời?”. Một
số vị chức sắc cấp cao phải tự trả lời câu hỏi này!
Đã có không ít các nhà kinh tế trong nước và nước ngoài giải
thích hiện thực của nền kinh tế hiện nay qua số liệu thống kê,
nghiên cứu. Riêng người lao động và giới doanh nhân thì, ngoài
xem xét các số liệu, họ còn “đo” nền kinh tế từ nghe, nhìn, sờ,
ngửi, nếm thông qua va chạm thực tế hằng ngày. Họ - người lao
động và khu vực tư nhân, chiếm tỷ lệ lớn trong dân số, phải
chăng, chính thành phần này là “hàn thử biểu” của nền kinh tế.
Họ “yếu bóng vía” ư? Kinh tế suy thoái! Họ hồ hởi rủ nhau làm ăn
ư? Kinh tế phát triển! Trong điều hành vĩ mô, có 2 yếu tố “ẩn” rất
khó dự đoán, đó là lòng tin và tâm lý đám đông. Dân mà tin thì
giấy biến thành tiền, dân không tin thì tiền trở thành giấy lộn. Nếu
Nhà cầm quyền nào khơi dậy được tinh thần kinh doanh thì kinh
tế mạnh, ngược lại, nếu tâm lý của dân bất an thì kinh tế rạn vỡ.
Và, đó cũng là lúc họ tìm cách tự bảo vệ mình và đồng vốn của
mình. Vì vậy, ai đó đã gọi cách ứng xử của “hàn thử biểu” là yếu
bóng vía, là chết nhát, là cảm tính, là tâm lý bày đàn, là thiếu
khoa học…, thì coi chừng, chính ai đó sẽ “chết thiệt” mà không
hay biết!
Không tự nhiên mà người lao động và giới doanh nhân hành xử
với nền kinh tế như hiện nay. Nếu từ 2003 đến 2007, chỉ số lạm
phát bình quân Việt Nam ở mức 7,5% thì bất ngờ tháng 5 năm
2008 đã vọt lên 25,2 % so với cùng kỳ năm ngoái và cao nhất kể
từ năm 1992. Giải thích về thực trạng này, một số vị chức sắc
cấp cao đã nhấn mạnh yếu tố “suy thoái kinh tế toàn cầu”! Nghe
vậy, người lao động và giới doanh nhân đặt nghi vấn, nếu là yếu
tố toàn cầu thì tại sao cùng một hoàn cảnh, cùng một thời điểm,
chỉ số lạm phát của các nước láng giềng: Singapore 8,2%,
Malaysia 3,1%, Indonesia 10,2%, Philippines 9,95%, Thái Lan
7,5%, riêng Việt Nam lại ở mức 25,2%?
Ngó qua thị trường chứng khoán, người dân thấy cũng có vấn đề.
VN-Index từ 1.300 rớt xuống dưới 400 (mất hơn 60% giá trị từ
tháng 3/2007 đến tháng 6/2008). Đáng ngại nhất là tâm lý hoang
mang của nhiều nhà đầu tư nhỏ lẻ, họ chưa tin con số 383,78
(ngày 25-6-2008) điểm là đáy!
Đô la thì như làm xiếc, tháng 3-2008 giá 15.800VNĐ/USD không
có người mua, tháng 6-2008 vượt ngưỡng 19.000VNĐ/USD
không có người bán. Để trấn an dư luận, Chính phủ công bố
nguồn đô la dự trữ là 20,7 tỉ USD! Giá đô la giảm xuống đúng hai
ngày, nghe ngóng, rồi lại vọt lên, trong khi đồng đô la đang mất
giá trên thế giới. Thì ra, so với các nước trong khu vực nguồn đô
la dự trữ của Việt Nam không đáng kể: Singapore 267,5tỉ;
Malaysia 145,7tỉ; Thái Lan 129tỉ; Indonesia 57,5tỉ; Philippines
45,7t tỉ (nguồn: IMF, EIU, Haver).
Người dân còn biết thêm, khi Thái Lan lâm vào khủng hoảng tài
chính năm 1997, dự trữ ngoại tệ trên 200 tỉ đô la, song chỉ trong
vài ngày bung ra để cứu đồng Bath mà mất đứt! Đành rằng, nợ
nước ngoài của Việt Nam 30% GDP là còn ở mức an toàn và với
nguồn đô la dự trữ hiện có đủ để bù vào mức thâm thủng mậu
dịch. Nhưng người dân không thể không đặt ra câu hỏi, nếu tình
trạng lạm phát xấu hơn thì sao?
Riêng thị trường vàng đã thật sự làm người lao động và giới
doanh nhân bất an. Hệ thống nhập khẩu vàng Nhà nước nắm độc
quyền. Sáu tháng đầu năm đã nhập 60 tấn, hết chỉ tiêu của năm
2008, và số lượng này cao nhất trong những năm qua. Thế
nhưng ngày 20-6 vừa qua, người mua trong nước phải trả cao
hơn giá thế giới khoảng 1 triệu VNĐ/lượng! Con số chênh lệch
này chỉ thể hiện cung - cầu hay còn ẩn chứa những nguyên nhân
tiềm ẩn nào khác?
Giá lương thực, thực phẩm, nguyên, nhiên, vật liệu cũng tăng. Có
những mặt hàng thiết yếu đến đời sống hằng ngày, người dân
không thể không mua, ngủ một đêm tới sáng tăng đến hai con số.
Xi măng, sắt, thép, phân bón, lúa giống, (sắp tới có thể là xăng,
dầu, điện, nước) đang trong tình trạng không phải có tiền là mua
được. Qua tháng 7, nếu Nhà nước ngưng kềm giá một số mặt
hàng chủ lực của nền kinh tế, nếu giá dầu thế giới tiếp tục tăng
thì chỉ số giá tiêu dùng khó đứng yên. Điều đó đồng nghĩa là tiền
của người lao động và giới doanh nhân sẽ tiếp tục “bốc hơi”.
Trước diễn biến ngày càng phức tạp của nền kinh tế, người lao
động và giới doanh nhân theo dõi động thái của Chính phủ, họ
thấy Nội các họp liên tục, nhưng lạm phát thì chưa thấy giảm (lạm
phát tháng 6 là 26,8% - nguồn Tổng cục thống kê). Đã thế, trong
một thời gian ngắn Chính phủ ban hành quá nhiều văn bản can
thiệp vào thị trường, lúc thì siết chặt tín dụng, lúc thì khống chế
giá trần lãi suất ngân hàng, lúc thì nới lỏng tỷ giá hối đoái, lúc lại
thu hẹp biên độ giao dịch thị trường chứng khoán, v.v Giới
doanh nhân đã nhận ra sự lúng túng trong điều hành kinh tế vĩ
mô! Vì vậy, khi một số vị chức sắc cấp cao tuyên bố: “8 giải pháp
kiềm chế lạm phát đã bắt đầu có hiệu lực” thì, thành phần được
coi là “hàn thử biểu” của nền kinh tế, im lặng, nhưng lại có cách
hành xử của riêng mình.
Để “cứu mình trước khi trời cứu”, người lao động và giới doanh
nhân hướng đồng tiền vào nơi mà theo họ, là ít rủi ro nhất. Để
đồng vốn của mình bớt “teo”, họ chọn giải pháp mua vàng và đô
la để tích trữ. Họ nghĩ, nếu tiếp tục bung vốn làm ăn, hoặc gởi
tiền vào ngân hàng, hoặc mua chứng khoán, biết đâu, mất tăm
luôn những gì đã tích lũy được trước đó? Để cái bụng không bị
“rỗng”, họ chọn giải pháp tích trữ lương thực, thực phẩm, nguyên,
nhiên, vật, liệu. Tại sao? Cũng là bởi những năm 80 của thế kỷ
trước, họ đã từng rơi vào hoàn cảnh “có tiền nhưng không mua
được hàng” hoặc “muốn có hàng hóa này thì phải có hàng hóa
khác để đổi”. Cách hành xử này có phải do “yếu bóng vía”, “chết
nhát”, “cảm tính”, “tâm lý bày đàn”, “thiếu khoa học”…, hay là
giống như “con chim đã nhiều lần bị tên, giờ sợ luôn nhánh cây
cong”?
Với thực trạng hiện nay của nền kinh tế, người dân lao động và
giới doanh nhân đang chờ những câu nói khiêm tốn hơn của một
số vị chức sắc cấp cao, như “Bầu ơi thương lấy Bí cùng”, chẳng
hạn. Và kèm theo câu nói là những hành động thành khẩn, minh
bạch, chơn thật, hợp tác vì mục tiêu “dân giàu – nước mạnh”,
tránh dùng các biện pháp để người dân hiểu là các vị đang nhằm
bảo vệ những nhóm lợi ích. Được như vậy, những đồng tiền ém
dưới gối, những chỉ vàng chôn dưới đất, những tờ đô la trong két
sắt của người dân lao động và giới doanh nhân sẽ quay trở lại
thương trường. Quan trọng hơn nữa là những chất xám, kiến
thức và kỹ năng của các nhà kỷ trị cùng với tinh thần quật khởi
của toàn dân sẽ đồng tâm hiệp lực với Nhà nước vực dậy nền
kinh tế.
Còn nếu như cụm từ “yếu bóng vía”, “chết nhát”, “cảm tính”, “tâm
lý bày đàn”, “thiếu khoa học”… tiếp tục được một số vị chức sắc
cấp cao dùng một cách trịch thượng, kẻ cả, hơn người với người
dân lao động và giới doanh nhân thì, dẫu cùng một giàn, nhưng
“Bí” nói thì cứ nói, “Bầu” làm thì cứ làm.