Tải bản đầy đủ (.pdf) (7 trang)

Chứng khoán phái sinh: Những đòi hỏi cấp thiết ppsx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (104.61 KB, 7 trang )

Chứng khoán phái sinh: Những
đòi hỏi cấp thiết


Thời gian gần đây, hầu hết NĐT nhỏ lẻ trên TTCK Việt Nam chịu
thua lỗ nặng một phần do họ chưa thể xây dựng được chiến lư
ợc
giao dịch cho riêng mình, phần nữa là do tại thị trường Việt Nam
chưa phát triển sản phẩm chứng khoán phái sinh để NĐT có thể
lựa chọn làm công cụ phòng ngừa rủi ro.
Thiết nghĩ, đây chính là lúc các cơ quan chức năng cũng nh
ư các
tổ chức tài chính nên nghiên cứu phương án ra đời sản phẩm
chứng khoán phái sinh nhằm hỗ trợ đa số NĐT tham gia thị
trường. Chứng khoán phái sinh là công cụ tài chính, xuất hiện
dưới hình thức hợp đồng mà giá trị của nó dựa vào giá tr
ị của các
sản phẩm tài chính khác như cổ phiếu, trái phiếu… được sử d
ụng
với mục đích phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo lợi
nhuận. Sản phẩm phái sinh được áp dụng cho nhiều loại hàng
hóa khác nhau, nhưng ở đây chỉ đề cập đến việc áp dụng
phương thức phái sinh cho các sản phẩm tài chính.
Sản phẩm chứng khoán phái sinh bao gồm nhiều sản phẩm khác
nhau nhưng tập trung 4 nhóm sản phẩm chính: hợp đồng kỳ hạn
(Forwards); hợp đồng tương lai (Futures); quyền chọn (Options)
và hợp đồng hoán đổi (Swaps).
Hợp đồng kỳ hạn là loại sản phẩm đơn giản và nhận được nhiều
sự quan tâm từ phía NĐT. Đây là loại hợp đồng thỏa thuận mua
bán một loại chứng khoán nào đó theo một mức giá đã định tại
một thời điểm nhất định trong tương lai. Giá cả của loại chứng


khoán đề cập trong hợp đồng kỳ hạn không phụ thuộc vào giá cả
của chứng khoán đó tại thời điểm kết thúc hợp đồng, đối tượng
tham gia thường là giữa những tổ chức tài chính với nhau hoặc
giữa tổ chức tài chính với khách hàng của họ. Các bên tham gia
hợp đồng kỳ hạn có thể gặp gỡ trực tiếp để thương thảo về các
điều khoản của hợp đồng như giá cả, thời hạn hợp đồng.
Hợp đồng tương lai, về mặt bản chất cũng giống như hợp đồng
kỳ hạn, là sự thỏa thuận giữa người mua và người bán một loại
chứng khoán nào đó với số lượng nhất định, trong một mức giá
nhất định tại một thời điểm trong tương lai. Sự khác biệt ở đây có
thể thấy là hợp đồng tương lai thường được giao dịch trên sở
GDCK tập trung, trong khi đó hợp đồng kỳ hạn được giao dịch
trên TTCK phi tập trung. Người mua và người bán tham gia giao
dịch không trực tiếp gặp nhau mà họ có thể thực hiện giao dịch
qua hệ thống được cung cấp bởi sở GDCK. Các bên tham gia
hợp đồng tương lai không gặp rủi ro về tín dụng, trong khi các
bên tham gia hợp đồng kỳ hạn gặp rủi ro tín dụng cao.
Hợp đồng quyền chọn bao gồm hợp đồng quyền chọn mua và
quyền chọn bán. Hợp đồng loại này không mang tính nghĩa vụ,
NĐT tham gia có thể không thực hiện hợp đồng nếu như việc
thực hiện hợp đồng không mang lại nhiều lợi ích cho họ. Với hợp
đồng quyền chọn mua, NĐT có quyền được mua một số lượng
chứng khoán ở một mức giá đã thỏa thuận tại một thời điểm xác
định trong tương lai. Người có quyền chọn mua có thể mua số
lượng chứng khoán đó, nếu như giá thị trường lớn hơn giá thực
hiện bởi họ có sẽ có lợi nếu như mang số chứng khoán (mua tại
mức giá quy định trong hợp đồng) và mang ra bán l
ại với mức giá
thị trường. Tuy nhiên, để có được quyền mua này, NĐT phải trả
cho người bán hợp đồng quyền chọn mua một khoản tiền gọi là

phí quyền chọn mua. Như vậy, lợi nhuận từ hợp đồng quyền
chọn mua là không giới hạn, trong khi đó khoản lỗ mà người mua
hợp đồng quyền chọn mua là giới hạn ở khoản phí mà họ phải
trả.
Với hợp đồng quyền chọn bán, người mua hợp đồng quyền chọn
bán có quyền bán số lượng chứng khoán mình đang nắm giữ
được quy định trong hợp đồng, với mức giá thỏa thuận tại một
thời điểm quy định trong tương lai. Cũng giống như với hợp đồng
quyền chọn mua, người có quyền chọn bán có thể bán số lượng
chứng khoán với giá đã quy định trong hợp đồng nếu như giá thị
trường của chứng khoán họ đang nắm giữ xuống dưới giá thực
hiện được quy định trong hợp đồng. Với hợp đồng quyền chọn
bán, NĐT có thể bảo toàn được khoản đầu tư của mình ngay cả
khi thị trường giá xuống. Khoản lỗ của NĐT được giới hạn ở
khoản phí mà NĐT phải trả cho người bán hợp đồng là phí quy
ền
chọn bán. Khoản phí này được quy đ
ịnh khác nhau trong mỗi hợp
đồng và tùy thuộc vào kỳ vọng của người bán các loại hợp đồng
này.
Hợp đồng hoán đổi thường được sử dụng trong lĩnh vực lãi suất
nhằm giảm rủi ro lãi suất và giảm chi phí cho vay.
Tại các TTCK phát triển, chứng khoán phái sinh được chú trọng,
NĐT sẽ có nhiều lựa chọn để giảm thiểu rủi ro và tối đa hóa lợi
nhuận khi tham gia đầu tư, góp phần làm sôi động TTCK.

×