Tải bản đầy đủ (.pdf) (54 trang)

Sổ tay bệnh động vật - Chương 5 doc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (928.42 KB, 54 trang )

56
CHƯƠNG 5
CáC TRIệU CHứNG LÂM SàNG Để Nhận RA BệNH
Chơng 4 khái quát đánh giá các dấu hiệu của sức khoẻ tốt ở gia súc, nhờ đó có thể nhận ra
những dấu hiệu của bệnh tức là triệu chứng lâm sàng. Các BSTY đợc đào tạo chuyên nghiệp
để nhận ra các triệu chứng lâm sàng, nhng ngời chăn nuôi nhờ kinh nghiệm cũng là những
chuyên gia nhận ra các triệu chứng lâm sàng của bệnh. Ngời chăn nuôi có thể không biết là
bệnh gì nhng họ nhanh chóng nhận ra có điều gì đó không ổn.
Nh ta đã biết trong Chơng 1, dựa vào quan sát diễn biến của bệnh, ta có thể phân loại bệnh.
Tuy nhiên, đối với hầu hết ngời chăn nuôi, triệu chứng lâm sàng của bệnh là điểm rõ rệt
nhất, liệu bệnh có làm gia súc bị ỉa chảy hay ho hay chết không thì dễ thấy hơn là bệnh thuộc
loại bệnh nhiễm trùng hay bệnh do động vật chân đốt truyền.
Dới đây khái quát những mô tả tóm tắt triệu chứng lâm sàng những bệnh chính của gia súc
vùng nhiệt đới. Sau phần mô tả tóm tắt là các bảng chẩn đoán dựa theo triệu chứng lâm sàng
chính của các bệnh mô tả trong quyển sách này. Một số bệnh có nhiều triệu chứng lâm sàng
nổi bật nên đợc trình bày trong nhiều bảng. Ví dụ, bệnh Dịch tả trâu bò là một bệnh thờng
gây chết, làm gia súc ỉa chảy nặng trớc khi chết, nên bệnh Dịch tả trâu bò có cả trong bảng
các bệnh gây chết và bảng các bệnh ỉa chảy. Những bảng này có thể dùng để hớng dẫn và
rất hữu ích khi không cán bộ thú y chuyên nghiệp.
1. Chết
Nh đã nêu trên, chết là không thể tránh khỏi và chỉ khi xảy ra chết trong đàn tới mức bất
bình thờng thì mới coi đó là dấu hiệu bệnh. Có lập luận cho rằng bất cứ một bệnh nào đều là
tiềm ẩn gây chết. Ngời già sức khoẻ suy giảm có thể chết do ốm nhẹ nh cảm lạnh thông
thờng, nhng coi lạnh là bệnh gây chết thì thật là ngu ngốc. Gia súc cũng vậy, trong các
bảng dới đây, bệnh gây chết là những bệnh có tỷ lệ chết cao, đặc biệt là khi không điều trị.
Một đặc tính quan trọng của bệnh gây chết là liệt gia súc chết nhanh sau một cơn bệnh ngắn
hay không, vì đó là kim chỉ nam quan trọng cho chẩn đoán. Các bảng chẩn đoán phân biệt rõ
các bệnh gây chết nhanh. Ngời ta thờng gọi là gây chết đột ngột, nhng trong thực tế, có
rất ít bệnh gây cho gia súc chết gục ngay mà không thấy ốm trớc. Trong thực tế, chết đột
ngột thờng có nghĩa là con vật chết sau khi ốm rất ngắn mà không biết. Các bảng 5.1 đến
5.4 trình bày các bệnh gây chết quan trọng.


2. Thể trạng kém
Một số bệnh quan trọng nhất của gia súc vùng nhiệt đới không có triệu chứng lâm sàng điển
hình, mà làm gia súc gầy sút rất nhiều, cuối cùng có thể chết nếu gia súc không phục hồi đợc
sức khoẻ. Gia súc gầy yếu hay suy sụp không còn lanh lợi và có sinh lực nh gia súc khoẻ,
lông của chúng chắc chắn bị xỉn và khô, không còn mợt và bóng. Dấu hiệu rõ rệt nhất là gia
súc sút cân, những đờng cong, nây mẩy của cơ thể dần dần biến mất, thay vào đó thấy rõ
xơng nhô lên dới lớp da; xơng sờn và xơng chậu đặc biệt nổi lên rõ. Bụng lép, thay cho
đờng cong đều. Những dấu hiệu này khá rõ, kể cả đối với ngời không có chuyên môn, có
thể đánh giá bằng cách cho điểm nh đã trình bày trong chơng 4. Bảng 5.5 và 5.6 trình bày
57
các bệnh gây gày yếu ở loài nhai lại. Do nhiều bệnh trong số các bệnh này gây ỉa chảy, nên
các bảng này cũng trình bày những bệnh có triệu chứng ỉa chảy.
3. Bệnh tích ngoài da
Nh đã khái quát ở chơng trớc, da gia súc khoẻ mạnh mợt và không đợc nổi cục ở trong
da hay dới da. Gia súc ở các miền nhiệt đới phổ biến có nguy cơ có động vật chân đốt trên
da (xem Chơng 3), một số gây ngứa. Da bị ngứa thờng thể hiện khá rõ, con vật cố gắng
làm đỡ ngứa bằng cách cọ xát vào các vật khác hay gặm nhấm da (Hình 5.1). Có thể coi vùng
da đỏ lên và rụng lông là một dấu hiệu đáng ngờ do cọ xát vì ngứa ngáy.
Mô tả bệnh tích ở da trong những bệnh khác nhau có thể viết thành riêng một quyển sách, và
để chẩn đoán, trong bất cứ trờng hợp nào, đòi hỏi rất nhiều kỹ năng và kinh nghiệm. Trong
quyển sách này, nói đến bệnh tích da là nói đến u, bớu (ở trong da hay dới da), da đóng
vảy, phù thũng và da dầy lên.
Bệnh tích da lan rộng toàn cơ thể thờng rõ rệt nhng một số bệnh gây bệnh tích ở da các đầu
mút nh mỏm tai, mũi, môi, đuôi, cẳng chân và bàn chân. Nếu không khám gia súc cẩn thận
có thể bỏ sót những bệnh tích này. Những bệnh có bệnh tích da đặc thù trình bày trong các
bảng từ 5.7 đến 5.10.
Hình 5.1 Cừu bị bệnh ngứa Scrapie đang cố gắng gãi cho đỡ
ngứa bằng cách cọ mình vào chuồng
3.1. U bớu
U bớu có thể nhìn thấy tuỳ theo kích thớc, số lợng u bớu và độ dầy mỏng của lông. Tuy

nhiên, chỉ kiểm tra riêng bằng mắt thì cha đủ, bất cứ ai làm việc với gia súc nên thờng
xuyên rờ tay trên mình con vật, thao tác này sẽ dò tìm đợc bất cứ u bớu nào ẩn dới lớp
lông. Một khi dò thấy u bớu, bớc tiếp theo là phải xác định u bớu là một phần của da hay
dới da bằng cách beo kéo da lên.
58
U bớu dới da có thể biểu hiện những phản ứng trong hệ thống lympho. Hệ thống lympho là
trung tâm của bố phòng phức tạp của cơ chếtự bảo vệ của động vật nhằm chống lại các vi sinh
vật gây nhiễm, bao gồm mạng lới các hạch và mạch lympho lu thông các tế bào lympho là
các tế bào miễn dịch quan trọng nhất, thông qua máu và mô bào. Hệ thông lympho có khắp
cơ thể, những hạch lympho dới da đôi khi gọi là hạch lympho nông (Hình 5.2). Một số
trờng hợp nhiễm trùng có thể gây nên phản ứng mạnh đến nỗi các hạch lympho này to ra rõ
rệt và có thể sờ thấy đợc. Phản ứng trong các mạch lympho nối kết nhau có thể gây ra viêm
và dầy lên (viêm mạch lympho, xem hình 9.3 và 9.9, chơng 9). Các mạch lympho dới da
trở nên dầy và rắn. Tất nhiên có hàng loạt những bệnh tích khác có thể gây nên bớu ở dới
da nh các mụn mủ, các khối u Các bệnh khác gây nên các mụn ở bản thân trong da nh
bệnh đậu lợn (Hình 5.3).
Hình 5.2 Các hạch lympho nông ngay dới da
có thể tăng sinh trong một số bệnh.
Hình 5.3 Các mụn (u nhỏ) ở da nổi rõ của bệnh đậu lợn.
59
3.2. Vảy
Vảy, giống nh bớu và u, có thể không nhìn thấy mà chỉ có thể phát hiện bằng sờ nắn hay
vạch lông ra. Nếu con vật có đóng vảy ở da thì quan trọng là xác định liệu vảy có gây ngứa
hay không, vì điều này có thể giúp cho chẩn đoán. Một ví dụ về bệnh có đặc điểm da đóng
vảy là bệnh Ghẻ Sarcoptes (Hình 2.1).
3.3. Phù
Phù là tích luỹ dịch thể trong tổ chức. Phù sinh ra do nhiều nguyên nhân khác nhau và khi
xẩy ra ở da sẽ gây nên sng mọng. Nếu ấn bằng đầu ngón tay thì chỗ phù lõm xuống, tức
là sau vài giây vết lõm do ấn mới mất. Ví dụ ai cũng biết là hàm hình chai do phù ở dới
hàm do sán lá gan và các bệnh khác (Hình 13.2, chơng 13).

3.4. Nổi mày đay và dị ứng do ruồi Culicoides
Đây là bệnh ở da do phản ứng dị ứng gây nên và vì thế có thể xẩy ra bất cứ đâu trên thế giới.
Nổi mày đay có thể xẩy ra rải rác từng cá thể gia súc nhng phổ biến nhất là ở ngựa. Có
nhiều tác nhân khác nhau (dị ứng nguyên) có thể gây nên dị ứng. Các mảng phù hình tròn
kích thớc rất khác nhau phát triển rất nhanh trong vòng vài phút hay vài giờ kể từ khi con vật
tiếp xúc với dị ứng nguyên và có thể xẩy ra bất cứ nơi nào trên cơ thể. Có thể có những dấu
hiệu báo động trớc, trong những ca nặng gia súc mắc bệnh có thể rất đau đớn, nhng các
triệu chứng lâm sàng thờng mất đi nhanh chóng cũng nh khi xuất hiện mà không cần điều
trị gì.
Dị ứng do ruồi Culicoides là một phản ứng dị ứng da đặc thù ở ngựa do tiếp xúc đối với loại
ruồi Cullcoides. Có viêm và ngứa mạnh ở vùng da bờm, đuôi và bụng. Bệnh thờng xẩy ra
vào các tháng nóng nhất khi ruồi hoạt động mạnh và độ mẫn cảm tăng theo tuổi. Trong bất
cứ một đàn ngựa nào chỉ có một sốít có thể mẫn cảm và mắc bệnh.
3.5. Chảy dịch từ mắt, mũi, miệng
Một số bệnh quan trọng làm chảy dịch từ mắt, lỗ mũi, miệng. Quan trọng là xác định xem
chỉ chảy dịch ở một loại lỗ tự nhiên (ví dụ chỉ từ mắt) hay nhiều loại lỗ tự nhiên. Điều này
cho biết bệnh cục bộ (ví dụ bệnh mắt) hay bệnh toàn thân ảnh hởng tới một số hệ thống (ví
dụ hệ hô hấp, hệ tiêu hoá). Chảy dịch từ một bên mắt hay lỗ mũi hay cả hai bên cũng chỉ ra
mức độ khu trú của bệnh.
Nh đã đề cập trong Chơng 4, niêm mạc tạo ra lớp rào chắn bảo vệ chống lại sự xâm nhập
của các sinh vật lạ, những sinh vật này bị chất nhầy tiết ra từ niêm mạc giừ lại. Chảy dịch từ
lớp niêm mạc nhìn thấy đợc cho thấy niêm mạc đang phản ứng lại một cuộc tấn công,
thờng là của các vi sinh vật. Dịch chảy ra có thể trong (huyết thanh) hay nhầy do tăng tiết ra
dịch nhầy đáng kể. Niêm mạc tổn thơng nặng có thể bị nhiễm khuẩn và sinh ra mủ màu
vàng hoặc màu xanh, làm dịch chảy ra lẫn mủ. Nếu có cả dịch nhầy thì dịch chảy ra gọi là
dịch mủ nhầy.
60
Dịch chảy ra từ mắt và lỗ mũi thờng rõ rệt. Dịch chảy ra từ miệng có thể trộn lẫn với tăng
tiết nớc bọt và vì vậy bất cứ sự tăng tiết nớc bọt nào phải luôn luôn nghi ngờ là chảy dịch từ
niêm mạc miệng. (Hình 1.1)

3.6. Các triệu chứng của bệnh đờng hô hấp
Chảy dịch ở mũi có thể cho biết có bệnh đờng hô hấp đang diễn ra có liên quan tới phổi cũng
nh đờng hô hấp trên. Vì vậy cần thận trọng xem xét những triệu chứng lâm sàng hô hấp
khi có chảy nớc mũi, loại triệu chứng này đợc gộp lại trong một số bảng chẩn đoán sau.
Có lẽ triệu chứng lâm sàng rõ nhất của bệnh hô hấp là ho. Ho là do ngứa ở lớp màng bên
trong khí quản và đờng hô hấp dới (phế quản) phân nhánh từ khí quản vào phổi. Ho là
phản xạ tự phát nhằm loại bỏ vật lạ ra khỏi đờng hô hấp. Ho liên tục là dấu hiệu khí quản và
phế quản bị bệnh. Nếu không chắc con vật có bị ho quá mức không thì có thể kiểm tra rất
đơn giản. Bóp nhẹ đoạn khí quản trên. ở con vật bình thờng, không có phản ứng gì, nhng
nếu con vật bị viêm hay ngứa ở khí quản thì sẽ gây ho.
Bệnh ở đờng hô hấp dới trong phổi và màng ngực gây nên thở khó gọi là chứng khó thở
(Dyspnoea). Nhịp hô hấp gồm 3 pha nhẹ nhàng, nhìn thấy đợc nh đã mô tả ở chơng trớc
bị rối loạn, biến thành kiểu thở hổn hển thấy rõ, dừng ít hoặc không dừng sau khi thở ra. Tuỳ
theo mức độ nghiêm trọng, hô hấp có thể trở nên thô và nghe thấy đợc; đau do thở có thể gây
nên tiếng rên rỉ. Để cố gắng thở? con vật mắc bệnh có thể có những động tác khác nh nở
rộng lỗ mũi, há miệng thở, vơn đầu, vơn cổ hay dạng chân ỡn ngực. (Hình 5.4). Tần số
hô hấp có thể tăng lên nhng chỉ riêng tần số hô hấp tăng không nhất thiết là dấu hiệu bệnh
phổi. Gia súc bị sốt có thể thở nhanh hơn, và nh đã chỉ ra ở Chơng trớc gia súc khoẻ mạnh
khi làm việc hoặc nhiệt độ xung quanh cao cũng tăng tần số hô hấp.
Bệnh phổi bao gồm viêm tổ chức phổi (viêm phổ-pneumonia). Bề mặt của phổi và màng ngực
đợc lót một lớp màng mỏng gọi là màng phổi. Nếu viêm phổi lan tới màng phổi thì gọi là
viêm phổi-màng phổi, nếu lan rộng bệnh sẽ nặng và đau đớn.
Ghi chú: Bệnh về phổi không nhất thiết gây ra những triệu chứng lâm sàng nói trên. Gia súc
thờng có viêm phổi mà không biết, trừ khi đến lò mổ hay điểm giết mổ. Đó là vì, nói chung,
năng lực của phổi quá đủ cho phần lớn chức phận của phổi nên phổi có chịu đựng đợc viêm
phổi ở mức độ trung bình nếu con vật không bị stress hay làm việc quá sức.
Những bệnh có đặc điểm chảy nớc mắt, nớc mũi hay chảy dãi và có triệu chứng hô hấp
đợc trình bày ở các bảng từ 5.11 tới 5.16.
61
Hình 5.4 Bệnh viêm màng phổi - phổi truyền nhiễm ở bò: chú ý

đặc điểm t thế dạng chân và vơn đầu ra để dễ thở
3.7. Những thay đổi ở niêm mạc nhìn thấy
Nh đã đề cập ở chơng trớc, niêm mạc có thể.nhìn thấy đợc ở những điểm khác nhau nh
lợi, lỗ mũi, mắt (kết mạc mắt), trực tràng và âm đạo. Niêm mạc nhìn thấy là một chỉ tiêu có
giá trị vể trạng thái sức khoẻ của động vật, các bác sĩ thú y luôn luôn kiểm tra niêm mạc nhìn
thấy khi khám gia súc ốm. ở động vật khoẻ mạnh, niêm mạc có mầu hồng và láng bóng do
dịch nhầy tiết ra trên bề mặt. Trong những điều kiện nhất định, mầu sắc niêm mạc thay đổi
nh sau:
Mầu hồng nhạt tới trắng bệch
Niêm mạc đợc cung cấp nhiều máu, mầu hồng của niêm mạc là do hồng cầu lu thông qua
niêm mạc. ít hồng cầu (thiếu máu) sẽ làm cho niêm mạc trở nên nhợt nhạt hay thậm chí trắng
bệch nếu thiếu máu nặng (Hình 5.5 và 5.6). Có nhiều nguyên nhân gây nên thiếu máu. Một
số bệnh quan trọng do ve truyền tấn công và phá huỷ hồng cầu, những bệnh khác làm giảm
khả năng của gia súc sinh ra hồng cầu ở tuỷ xơng.
Mầu vàng
Nh vừa đề cập tới, thiếu máu có thể do hồng cầu bị phá huỷ. Việc phá huỷ đó giải phóng ra
(hemoglobin), huyết sắc tố lại chuyển thành một sắc tốkhác (bilirubin). Khi vợt quá
ngỡng, bilirnhin sẽ nhuộm màu vàng nhạt các mô bào, kể cả niêm mạc nhìn thấy đợc
(hoàng đản). Nh vậy những bệnh nh bệnh do ve truyền, ví dụ Biên trùng, Babesia, Theleria,
có thể làm cho niêm mạc vừa nhợt nhạt vừa có mầu vàng do thiếu máu và hoàng đản. Bệnh
Babesia có thể giải phóng hemoglobin vào máu nhiều đến nỗi một phần hemoglobin đo trực
tiếp vào nớc tiểu, kết quả là nớc tiểu có màu đỏ Hiện tợng này gọi là đái ra hemoglobin
(hemoglobin niệu) hay thông dụng hơn, gọi là nớc tiểu đỏ (Hình 5.7).
Bilirubin còn là một sản phẩm phụ của trao đổi chất phức tạp của gan và ở gia súc khoẻ mạnh
Bilirubin đợc chuyển vào mật từ gan xuống túi mật rồi thải ra ngoài qua phân. Bất cứ bệnh
gì làm giảm sút dòng chảy của mật, ví dụ các bệnh gan, đều làm cho bilirubin tích luỹ lại ở
mô bào. Một ví dụ điển hình là bệnh sán lá gan, sán xâm nhập vào gan gây viêm gan và xơ
62
gan (Hình 5.8). Một kết quả cuối cùng cũng sinh ra hoàng đản nhng thờng mạnh hơn
hoàng đản do vỡ hồng cầu, màu vàng đậm hơn, rõ hơn, dễ thấy hơn.

Đỏ
Ngợc lại với nhợt nhạt do thiếu máu, niêm mạc và các mô bào khác có thể bị sung huyết.
Tuy nhiên, đây là hậu quả phổ biến của rất nhiều bệnh, việc xếp loại chúng theo cột có lẽ ít
giá trị nên không đa vào trong quyển sách này. Ví dụ, bất cứ một bệnh nào mà gây nên sốt
thì cũng có thể gây nên sung huyết ở mô bào.
Tuy nhiên, có một bệnh làm đỏ niêm mạc đợc nêu ra trong các bảng chẩn đoán, đó là ngộ
độc Xya-nua là do ăn phải một số thực vật (xem phần sau). Máu vận chuyển oxy từ phổi tới
mô bào nhng ngộ độc Xya-nua đã ngăn cản quá trình này nên oxy vẫn giữ lại trong máu.
Màu đỏ tơi của niêm mạc do ngộ độc Xya-nua rất rõ, rất đặc thù.
Xanh
Ngợc với ngộ độc Xya-nua, một số bệnh làm giảm lợng oxy trong máu, gây cho mô bào trở
thành có mầu xanh, goi là xanh tím. Một lần nữa, điều này có thể nhìn thấy ở niêm mạc. ở
gia súc bị ngộ độc nitrate/ nitrite (xem chơng 14), hemoglobin trong máu biến thành
methemoglobin không có khả năng vận chuyển đợc oxy vào mô bào, kết quả là mô bào bị
xanh tím.
Hình 5.5 Niêm mạc miệng thiếu máu ở bò mắc bệnh Babesia ở bò
63
H×nh 5.6 KÕt m¹c m¾t thiÕu m¸u ë cõu m¾c bÖnh giun xo¨n d¹ mói khÕ
H×nh 5.7 Haemoglobulin niÖu hay n−íc tiÓu ®á trong bÖnh Babesia ë bß
64
Hình 5.8 Viêm gan và xơ gan nặng ở bò do nhiễm lá gan
6.1. Xuất huyết
Xuất huyết từ các mao quản trong niêm mạc thấy nh đốm đỏ nhỏ gọi là lấm tấm xuất huyết,
xuất huyết nh chấm nhỏ gọi là xuất huyết điểm, còn xuất huyết từng mảng lớn gọi là bầm
huyết. Xuất huyết điểm hay bầm huyết thờng là do nhiễm trùng máu, khi đó vi sinh vật gây
nhiễm và độc tố của chúng tuần hoàn trong máu. Gia súc nhiễm trùng máu thờng sốt và ốm
nặng. Cũng nh đối với mô bào bị sung huyết, vì nhiễm trùng máu và xuất huyết ở niêm mạc
có thể là hậu quả của rất nhiều bệnh nên không thể lập bảng về các bệnh này đợc.
7. Sốt
Tăng thân nhiệt xẩy ra trong rất nhiều bệnh đến nỗi riêng bản thân triệu chứng này ít có giá trị

chẩn đoán. Tuy nhiên, sốt hay không sốt có thể giúp ích cho việc phân biệt những bệnh có
các triệu chứng khác tơng tự nhau. Do đó sốt đợc đa ra trong các bảng 5.17 và 5.18 trình
bày những bệnh có thay đổi ở niêm mạc nhìn thấy.
8.

a chảy
Nh đã chỉ ra ở chơng trớc, ỉa chảy có thể chỉ phản ánh đơn thuần sự thay đổi tạm thời của
phân gia súc bình thờng khi gia súc đang thích ứng với những thay đổi trong khẩu phần ăn.
Vì vậy nếu khám gia súc bị ỉa chảy thì bắt buộc phải tính đến khả năng này. Một số bệnh
mạn tính có đặc điểm là ỉa chảy, nên điều quan trọng là phải xác định xem gia súc ỉa chảy có
ốm lâu không. ỉa chảy trong bệnh tật thờng do những biến đổi bệnh lý ở đờng ruột và
những thay đổi đó bao gồm cả xuất huyết làm xuất hiện máu ở trong phân (bệnh lỵ). Nếu xảy
ra xuất huyết ở đoạn ruột trên thì phân có màu đen nâu, nếu

đoạn ruột dới thì máu xuất
65
huyết qua phân cha thay đổi nên có mầu đỏ, có thể rõ cả cục máu. Những điểm này đợc
trình bày trong các Bảng từ 5.19 đến 5.22.
9. Triệu chứng thần kinh
Hệ thống thần kinh trung ơng, hay não và tuỷ sống là cực kì phức tạp nhng đại để có thể
chia ra hai phần, hệ thống thần kinh thực vật và hệ thống thần kinh vận động. Hệ thống thần
kinh thực vật kiểm soát hoạt động các hệ thống mà động vật không biết, nh các cơ nhỏ mở
và đóng đồng tử của mắt để cho lợng ánh sáng lọt vào theo yêu cầu, những cơ vòng ở hệ tiết
niệu, tiêu hoá để nớc tiểu và phân không luôn luôn lọt ra ngoài. Hệ thống thực vật còn điều
khiển nhiều tuyến khác nhau của cơ thể. Hệ thống thần kinh vận động liên quan tới cơ do
động vật điều khiển nh các cơ vận động, đi lại. Hệ thống này cũng liên quan tới các cảm
giác (nếm, nhìn, ngửi và sờ) cũng nh trạng thái tinh thần chung của động vật. Nh vậy có
thể thấy rằng bệnh của hệ thống thần kinh trung ơng có thể gây nên hàng loạt triệu chứng
lâm sàng tuỳ theo mức độ nghiêm trọng và vị trí của các tổn thơng.
Giải thích các triệu chứng gây ra do bệnh ở hệ thống thần kinh vận động đợc não điều khiển

là rất phức tạp, nhng nói chung các triệu chứng này đều có một đặc điểm là xuất phát từ
hành vi bình thờng; vì vậy điểm then chất là biết đợc hành vi bình thờng của động vật
khoẻ mạnh. Khi đó bất cứ hành vi bất bình thờng nào, đặc biệt nếu chỉ tồn tại trong một
khoảng thời gian, là đáng nghi ngờ. Điều này bao gồm từ những thay đổi nhỏ trong biểu hiện
và hành vi bình thờng của một động vật cho đến những thay đổi nghiêm trọng nh hung
hăng rõ rệt, thay đổi tiếng kêu, buồn ngủ và thèm ăn và uống những thứ lạ.
Tất nhiên các bệnh của não có thể gây ra những triệu chứng lâm sàng khác. Những triệu
chứng lâm sàng này bao gồm từ run rẩy, cử động nhấm nháp cho tới các triệu chứng rõ rệt
nh mù, đi vòng tròn, dáng đi bất bình thờng (bớc thấp bớc cao), đầu tỳ xuống đất, đầu cử
động khác thờng, loạng choạng và co giật. Các bệnh ở hệ thần kinh trung ơng có thể gây
cho động vật bị co thắt hay thần kinh bị kích thích đột ngột, ví dụ một tiếng động mạnh rất có
thể làm động vật bị co giật hoặc thần kinh bị kích thích đột ngột nh trong bệnh Uốn ván
(Hình 14.1, chơng 14). Bệnh ở thần kinh trung ơng nặng có thể gây ra mất điều khiển cơ
vận động, con vật không có khả năng đi đứng, tức là bị bại liệt. Bệnh Dại là một bệnh điển
hình và gây chết, gây viêm não nặng. Các triệu chứng lâm sàng nh tấn công điên cuồng hay
bại liệt đã đợc biết rõ, nhng những triệu chứng ban đầu có thể rất nhỏ và chỉ là thay đổi
hành vi, biểu hiện trên nét mặt. Bệnh có viêm cả não và tuỷ sống gọi là viêm não tuỷ.
Bệnh hệ thần kinh thực vật có thể gây ra những triệu chứng tơng tự. Ví dụ những dấu hiệu
nh chảy dãi, tiểu tiện không chủ động là đáng nghi ngờ. Chẩn đoán các loại triệu chứng thần
kinh khác nhau đòi hỏi nhiều kỹ năng, các bảng chẩn đoán cũng không cố gắng phân biệt các
loại triệu chứng thần kinh khác nhau trừ trờng hợp bại liệt rõ ràng, kể cả dới con mắt không
có chuyên môn.
10. Dáng dấp không bình thờng
Động vật bị thơng hay bị bệnh ở bàn chân hay chân có thể có dáng dấp không bình thờng,
có thể bị nhầm là triệu chứng thần kinh. Thật ra rất khó giải thích sự khác nhau giữa vận
động không phối hợp và què. Phân biệt dễ nhất là dáng dấp không bình thờng do bệnh ở hệ
thần kinh trung ơng thì tự phát, khác thờng, trong khi dáng dấp không bình thờng do tổn
thơng ở chân thì chủ động khi con vật thay đổi t thế hay vận động để làm giảm bớt chân
đau.
66

Do những nhầm lẫn tuy nhỏ nhng tiềm ẩn này có thể xuất hiện giữa việc xác định liệu dáng
dấp hay t thế không bình thờng là do bệnh ở hệ thần kinh trung ơng hay do tổn thơng cục
bộ ở chân, các bảng từ 5.23 đến 5.26 sẽ trình bày các bệnh gây dáng dấp không bình thờng.
Cũng giống nh đối với triệu chứng thần kinh, nhận ra những dạng què khác nhau đòi hỏi kỹ
năng và kinh nghiệm, các bảng chẩn đoán này chỉ phân biệt giữa què và cứng đờ.
11. Rối loạn sinh sản
Muốn biết có bệnh sinh sản không thì điều cơ bản là phải biết kiểu nhân giống và đẻ bình
thờng của đàn gia súc nội, đặc biệt là khi một số bệnh sinh sản không có triệu chứng lâm
sàng thấy đợc ở gia súc giống trởng thành. Có thể phân loại bệnh sinh sản theo tác động
của bệnh tới khả năng sinh sản, mang thai, bào thai và đờng sinh dục.
11.1. Khả năng sinh sản
Ngời chăn nuôi luôn lo lắng nếu gia súc của họ vô sinh và không chửa trong mùa phối giống.
Con cái vô sinh có thể không động dục hoặc không động dục trở lại sau khi phối. Nếu nghi
vô sinh thì sổ sách ghi chép chính xác về phối giống của ngời chăn nuôi cho các bác sỹ thú y
là rất quan trọng. Những ghi chép này sẽ chỉ ra liệu con cái có động dục hay không, nếu có
thì con cái động dục trở lại sau khi phối giống đều đặn hay thất thờng. Tuy nhiên, sổ sách
phối giống ở các đàn chăn nuôi quảng canh hiếm khi có nên vô sinh thờng không biết. Thực
tế, tơng đối hiếm vô sinh thực sự trong đó gia súc không thụ thai, và nhiều trờng hợp gọi là
vô sinh thật ra là thai chết sớm bị phân giải và đợc con mẹ hấp thu. Kết quả con mẹ động
dục trở lại, bề ngoài nh là vô sinh.
11.2. Chửa
Khi con cái làm giống đã chửa, những bệnh ở tử cung có thể gây chết thai và sẩy thai. Nh đã
nêu trên, thai chết sớm có thể dẫn tới vô sinh hình thức, thai chết về sau dẫn tới sẩy thai. Xác
định giai đoạn chửa khi sẩy thai là quan trọng, vì điều này cung cấp những thông tin chẩn
đoán hữu ích. Trong thời gian chửa, thai phát triển trong một túi bọc gọi là nhau thai, nhau
thai bảo vệ và nuôi dỡng thai. Một số bệnh gây viêm nhau thai dẫn tới sẩy thai nên nếu có
nhau thai ra thì đó là một triệu chứng để chẩn đoán. (Hình 5.9).
Sẩy thai có thể xẩy ra do những nguyên nhân phi đặc hiệu, ví dụ sốt cao. Đây là một cơ chế
phòng vệ tự nhiên để bảo vệ con mẹ và vì vậy xem xét khả năng này khi có sẩy thai cũng rất
quan trọng.

Các bệnh tác động tới bào thai vào cuối kỳ chửa có thể gây ra thai đẻ ra chết hay còn sống
nhng rất yếu. Cùng một bệnh trong một đàn giống có thể gây ra hàng loạt triệu chứng lâm
sàng khác nhau (vô sinh, sẩy thai, đẻ thai chết, đẻ con yếu). Các bảng từ 5.27 tới 5.30 trình
bày các triệu chứng này.
ảnh hởng cuối cùng của bệnh hay nhiễm trùng trong khi có chửa của gia súc cái trởng
thành là đẻ con sống nhng dị dạng hay khuyết tật bẩm sinh nh trờng hợp phù não ở hình
1.6.
Ví dụ: Bệnh Akabane và bệnh do vi-rút herpes của ngựa.
67
Hình 5.9 Viêm nhau thai trong bệnh Sẩy thai truyền nhiễm của bò với nhau thai
dày lên, trông nh miếng da thuộc
Hình 5.10 Bệnh Akabane: bê không đứng lên đợc và có triệu chứng thần kinh
nh mắt run, chân trớc bơi chèo
Bệnh Akabane là bệnh vi-rút theo mùa vụ của loài nhai lại do muỗi và ruồi truyền. Tác động
bệnh lý của bệnh chỉ giới hạn đối với con cái có chửa gây sẩy thai, đẻ thai chết, đẻ thai bị dị
dạng bẩm sinh nghiêm trọng ở não, cột sống và khớp (Hình 5.10). Đã biết các ổ dịch này ở
úc, Nhật, Triều Tiên, Israel và Kenya.
Nhiễm vi-rút herpes của ngựa xẩy ra ở khắp nơi trên thế giới và một vi-rút (EHV-1) là một
nguyên nhân quan trọng gây sẩy thai trong các chơng trình nhân giống ngựa. Ngựa cái bị
nhiễm vào cuối kỳ chửa là mẫn cảm nhất và thai thờng đẻ ra đã chết hay chết ngay sau khi
đẻ.
68
11.3. Đờng sinh dục
Nh đã nêu, các bệnh ở đờng sinh dục có thể gây nên vô sinh và sẩy thai không có triệu
chứng lâm sàng ở con giống trởng thành. Tuy nhiên, không phải mọi trờng hợp đều nh
vậy, một số bệnh cũng gây biến đổi bệnh lý ở cơ quan sinh dục ngoài mà về lâm sàng phát
hiện đợc. Đực giống có thể viêm tinh hoàn. Trong viêm tinh hoàn, tinh hoàn nóng, đau và
có thể sng. Nếu viêm nặng thì nhìn bên ngoài rất rõ, nhng do lớp da bảo vệ của âm nang
nên viêm tinh hoàn có thể chỉ thấy qua sờ nắn. Tổn thơng ở dơng vật có thể gây chảy dịch
từ lỗ quy đầu. Tơng tự, các bệnh ở âm hộ và âm đạo cũng gây tiết dịch.

Viêm vú (viêm tuyến vú) có thể do một số bệnh ảnh hởng tới đờng sinh dục nh bệnh Xảy
thai nhiễm trùng ở dê cừu (Bảng5.27). Vú viêm nóng, đau và có thể sng. Tuy nhiên, viêm
vú có thể là bệnh hoàn toàn ở vú, thật ra có thể đây là bệnh quan trọng nhất của bò sữa cao
sản.
Tất cả các bệnh sinh sản đợc trình bày trong các bảng từ 5.27 tới 5.30.
Bảng 5.1 Bệnh gây chết ở trâu bò
Bệnh Chết
nhanh
Đặc điểm dịch tễ
Nhiệt thán * Bệnh ở loài nhai lại gặm cỏ, sốt cao và chết,
thờng là đột ngột, chảy máu ở các lỗ tự nhiên
sau khi chết.
Bệnh bò điên (BSE) Chết trong vòng vài tuần hay vài tháng kể từ khi
xuất hiện triệu chứng thần kinh. Thời gian ủ bệnh
dài tới vài năm
Babesia
(B.bovis)
Bệnh do ve truyền, bò từ các vùng không có dịch
rất mẫn cảm, sốt, thiếu máu, nớc tiểu đỏ và có
triệu chứng thần kinh, tỷ lệ chết có khi cao.
Hemoglobulin niệu do
Cl.
novyi
týp D
Nhiễm độc tố máu từ ruột ở bò do sán lá gan
(fascilosis)
sốt, đau bụng, nớc tiểu đỏ và chết.
Viêm gan hoại tử nhiễm
trùng
Cũng là nhiễm độc tố máu từ ruột ở bò cùng với

sán lá gan, con vật ủ rũ và chết sau thay 2 ngày
Ung khí thán * Bệnh ở bò tơ gặm cỏ, nóng đau và sng ở đùi sau
và đùi trớc, què, sốt và chết trong 1-2 ngày
Ngộ độc thịt Ngộ độc thịt, con vật bại liệt, thè lỡi, nằm quỵ và
chết sau 1-2 tuần, đôi khi truỵ tim mạch và chết
rất nhanh.
Ngộ độc Xya-nua * Ngộ độc do một số thực vật non, hoặc mọc nhanh
nh sắn, niêm mạc con vật đỏ, khó thở, truy tim
mạch và chết.
69
Hội chứng béo ở bò cái Không phổ biến, bò sữa cho ăn quá nhiều khi cạn
sữa, sau khi đẻ, con vật bỏ ăn, hôn mê và chết.
Lở mồm long móng * Bệnh truyền nhiễm mạnh, làm bê nghé chết đột
ngột.
Cảm nóng Khi nhiệt độ xung quanh quá cao hay nơi nhốt
quá đông và thông gió kém; con vật lờ đờ, thân
nhiệt cao, truỵ tim mạch và chết.
Tụ huyết trùng trâu bò Là bệnh chính của trâu bò, đặc biệt là trâu; con
vật sốt, chảy nớc dãi, nớc mũi và chết trong 1-2
ngày, thờng sau khi bị stress ví dụ khi bắt đầu
cày kéo.
Bệnh Xoắn khuẩn Bệnh cấp tính do
L. pomona
gây bại huyết, thiếu
máu dung huyết ở bê nghé, có tỷ lệ chết cao;
thờng gắn liền với điều kiện ẩm ớt, ổ tàng trữ
bệnh là chuột.
Loét da quăn tai Bệnh xẩy ra rải rác, trâu, bò tiếp xúc với cừu đẻ;
con vật chảy nớc mắt, nớc mũi, sng đầu, sng
hạch lâm ba ở cồ, sốt, có tổn thơng ở da.

ỉa chảy do vi-rút ở bò
(BVD/MD)
Bệnh xảy ra rải rác ở bò, triệu chứng giống bệnh
Dịch tả trâu bò, thờng gây chết.
Dại Thờng do bị động vật dại cắn nh chó, chó rừng;
con vật có triệu chứng thần kinh khoảng một tuần
trớc khi chết.
Dịch tả trâu bò Bệnh lây mạnh, gây chết chủ yếu; con vật ỉa chảy
nặng, chảy nớc mắt/ mũi, chảy dãi, phân mùi
thối khắm, thờng chết khoảng 10 ngày sau đó.
Ngộ độc cấp

cỏ Senecio Ăn nhanh một lợng lớn cỏ dại thuộc họ Senecio,
ví dụ sau khi đốt rẫy, con vật bị xuyết huyết bên
trong, chết đột ngột.
Theileria Bệnh do ve truyền, gia súc nhập nội rất mẫn cảm,
tỷ lệ chết cao, con vật sốt, thiếu máu, hoàng đản
và hạch lympho sng, bò giống nội thờng đề
kháng đợc.
70
Bảng 5.2 Bệnh gây chết ở dê cừu
Bệnh
Chết
nhanh
Đặc điểm dịch tễ
Bệnh sán lá gan cấp tính Bị nhiễm sán nặng trong một thời gian ngắn do chăn
thả nơi có ốc nớc ngọt sinh sống; con vật gầy yếu
thiếu máu và chết sau 1-2 ngày thờng là cừu non.
Nhiệt thán * Bệnh của loài nhai lại chăn thả; con vật sốt cao và chết
thờng đột ngột, chảy máu từ các lỗ tự nhiên sau khi

chết.
Hemoglobin niệu do Cl.
Novyi týp D
* Nhiễm độc máu từ ruột ở cừu cùng sán lá gan; con vật
sốt, đau bụng, nớc tiểu đỏ và chết.
Viêm gan hoại tử nhiễm
trùng
* Nhiễm độc máu từ ruột của cừu cùng với sán lá gan;
con vật ủ rũ và chết sau 1 - 2 ngày.
Ung khí thán Bệnh xảy ra rải rác ở cừu non chăn thả, con vật sng
nóng, đau ở đùi trớc, đùi sau; què, sốt và chết trong 1
- 2 ngày.
Ngộ độc thịt Ngộ độc do ăn phải thịt có độc tố, con vật liệt, thè
lỡi, chết sau 1-2 tuần, đôi khi truỵ tim mạch và chết
nhanh.
Viêm phổi và màng phổi
truyền nhiễm của dê
Bệnh phổi truyền nhiễm chủ yếu của dê: con vật sốt,
thở khó, ho và chảy nớc mũi; 60-90% có thể chết
trong một ổ dịch
Ngộ độc Xya-nua * Ngộ độc một số thực vật non hoặc mọc nhanh nh
sắn; con vật niêm mạc đỏ, khó thở, truỵ tim mạch và
chết.
Nhiễm độc máu từ ruột * Thờng mở đầu do thay đổi khẩu phần; con vật sốt, ủ
rũ, truỵ tim mạch và chết.
Giun xoăn dạ múi khế Bệnh rất quan trọng ở cừu chăn thả, cừu non đặc biệt
mẫn cảm; con vật thiếu máu, gầy yếu và nặng có thể
chết.
Dịch tả dê cừu Bệnh truyền nhiễm mạnh ở dê và đôi khi ở cả cừu; con
vật ỉa chảy nặng, chảy nớc mắt/mũi, chảy dãi và

chết.
Xê-ton huyết ở dê cừu Xảy ra ở cừu cái cuối kỳ chửa; các triệu chứng đầu
tiên không rõ, con vật lờ đờ, thay đổi hành vi, có triệu
chứng thần kinh, có mùi ngọt lợm giọng và chết trong
một vài ngày
Bệnh dại Hiếm thấy ở dê, cừu; con vật có triệu chứng thần kinh
71
khoảng một tuần trớc khi chết
Dịch tả trâu bò Bệnh truyền nhiễm chủ yếu gây chết ở bò; các chủng
vi-rút ở ấn Độ có tính gây bệnh đối với dê cừu; bệnh
rất giống bệnh Dịch tả dê cừu
Đậu dê cừu Bệnh phân bố rộng, các lứa tuổi đều mẫn cảm; con vật
sốt và có bệnh tích mụn đậu ở vùng da mỏng, đôi khi
chết.
Đột tử * Chủ yếu ở cừu dới 1 năm tuổi, thờng xảy ra sau khi
tăng lợng dinh dỡng; bệnh phát đột ngột, con vật đi
không vững, co giật và chết trong vài giờ.
Theileria Bệnh do ve truyền, các giống nhập nội rất mẫn cảm;
con vật sốt sng các hạch lymphol và chết. Các giống
nội thờng đề kháng đợc.
72
Bảng 5.3 Bệnh gây chết ở lợn
Bệnh Chết
nhanh
Đặc điểm dịch tễ
Ngộ độc Aflatoxine Ngộ độc do thức ăn bị nấm mốc khi bảo quản, lợn con
đặc biệt mẫn cảm; chậm lớn và chết sau một thời gian
ốm ngắn.
Bệnh Aujezsky * Lợn con dới 2 tuần tuổi nhiễm có thể chết trong vòng
vài giờ; ở lợn trớc khi cai sữa tỷ lệ chết từ 20-100%

trong vòng 1 tuần kê từ khi xuất hiện các triệu chứng
lâm sàng sốt, bỏ ăn, nôn, ủ rũ và các triệu chứng thần
kinh.
Nhiệt thán Con vật sốt cao, sng phù vùng họng, chết sau 2- 3
ngày, chảy máu từ các lỗ tự nhiên sau khi chết.
Ngộ độc khô dầu bông Ngộ độc khi khẩu phần ăn có trên 10% khô dầu bông,
cho ăn kéo dài gây tổn thơng tim và thậm trí suy tim.
Nhiễm độc máu từ ruột *
Không phổ biến ở vùng nhiệt đới, thờng xảy ra ở lợn
con theo mẹ dới 1 tuần tuổi, con vật ủ rũ, ỉa chảy có
máu, chết trong vòng 24 giờ.
Lợn đóng dấu (cấp tính) Bệnh phổ biến, các lứa tuổi đều mẫn cảm; con vật sốt,
chảy nớc mắt, da sng đỏ hình dấu và nhiều con chết
sau 3 ngày
Lợn đóng dấu (mãn tính) * Chết đột ngột do tổn thơng ở tim, có thể bình thờng
hoặc có dấu hiệu suy tuần hoàn nh thở khó, da xanh
Lở mồm long móng * Truyền nhiễm mạnh, gây chết đột ngột ở lợn con.
Cảm nóng Xảy ra khi lợn không có bóng râm và nớc uống; con
vật lờ đờ, truỵ tim mạch và chết.
Dịch tả lợn Bệnh truyền nhiễm mạnh và phổ biến, con vật sốt đi
loạng choạng, chết khoảng 1 tuần sau đó, thờng táo
bón, trớc khi chết có thể có ỉa chảy.
Thiếu Selen và Vitamin E * Xảy ra ở lợn choai lớn nhanh, khẩu phần ăn giầu năng
lợng nhng thiếu selenium hay vitamin E; có tổn
thơng ở tim gây suy tim và chết đột ngột.
Tụ huyết trùng lợn Bệnh cấp tính gây chết sau một thời gian ốm ngắn
Dịch tả trâu bò Bệnh truyền nhiễm mạnh, con vật chảy dãi, chảy nớc
mắt, nớc mũi, ỉa chảy và thờng chết sau khoảng 10
ngày.
Viêm dạ dày-ruột truyền

nhiễm (TGE)
Lợn con chết trong vòng vài ngày kể từ khi xuất hiện
triệu chứng lâm sàng (nôn, ỉa chảy phân thối khắm,
mất nớc nhanh). Tỷ lệ chết giảm theo tuổi.
73
Bảng 5.4 Bệnh gây chết ở lừa, ngựa
Bệnh Chết
nhanh
Đặc điểm dịch tễ
Nhiệt thán Bệnh gây chết chính, sốt cao, sng phù vùng họng và
chết sau 2-3 ngày; chảy máu các lỗ tự nhiên sau khi
chết.
Babesia Bệnh do ve truyền; con vật sốt, thiếu máu, hoàng đản
và nớc tiểu có hemoglobine; bệnh có thể không có
triệu chứng lâm sàng, cho tới nặng đến mức chết 1-2
ngày sau khi xuất hiện triệu chứng đầu tiên.
Ngộ độc thịt *
Ngộ độc do ăn phải thịt có độc tố vi khuẩn, con vật
liệt tăng dần, thè ìỡi và chết trong 1-2 tuần; đôi khi

thể quá cấp và chết nhanh.
Tiêm la ngựa Bệnh xảy ra rải rác; lây do giao cấu, có bệnh tích ở
đờng sinh dục, phù da, gầy yếu, tỷ lệ chết cao ở các
ca có triệu chứng lâm sàng.
Viêm não tuỷ lừa, ngựa
Nhật Bản
Bệnh nhiễm trùng do muỗi truyền, bệnh có từ thể nhẹ
không có triệu chứng lâm sàng tới thể nặng (sốt, có
triệu chứng thần kinh, truy tim mạch và chết).
Bệnh thiếu máu nhiễm

trùng lừa, ngựa
Do ruồi hút máu truyền; con vật sốt, chảy nớc mắt,
nớc mũi, phù, một số con chết trong vài tuần nhng
nhiều con chỉ khỏi tạm thời rồi lại trở nên xấu đi và
chết sau đó.
Cảm nóng Xảy ra khi nhiệt độ không khí xung quanh cao hoặc
nhốt gia súc quá đông, thông gió kém, con vật lờ đờ,
thân nhiệt tăng, truỵ tim mạchvà chết.
Bệnh dại Không phổ biến, thờng bị nhiễm do bị động vật dại
khác cắn nh chó, chó rừng; con vật có triệu chứng
thần kinh và chết trong khoảng 1 tuần.
Ngộ độc cỏ Senecio Bệnh hiếm, xảy ra khi ăn nhanh và nhiều cỏ dại họ
Senecio, ví dụ sau khi đốt rẫy, con vật xuất huyết nội
và chết đột ngột.
Giun lơn (S Vulgaris) Bệnh hiếm, ấu trùng làm tắc động mạch, kết quả là
mô bào tổn thơng gây sốt, đau bụng và đôi khi chết.
Uốn ván Ngựa rất mẫn cảm, do nhiễm trùng vết thơng, vết
mổ; con vật co cứng, co thắt toàn thân, co giật và chết
do suy hô hấp.
Tiên mao trùng Do ruồi truyền, gây thiếu máu mạn tính, gầy yếu và
cuối cùng thờng chết, đôi khi sau triệu chứng xuất
hiện ban đầu nhiều tháng con vật mới chết.
74
Bảng 5.5 Bệnh làm trâu bò gầy yếu
Bệnh
ỉa
chảy
Đặc điểm dịch tễ
Xeton huyết Xảy ra ở bò sữa cao sản, vài tuần sau khi đẻ; hơi thở
và sữa có mùi acetone, sản lợng sữa giảm, hầu hết

khỏi bệnh.
Ngộ độc Anatoxin
Xảy ra ở bê, nghé ăn cỏ khô hay thức ăn hạt bị nấm
mốc, gây tổn thơng gan, có thể chết sau một vài tuần.
Giun đũa bê nghé * Xảy ra ở bê nghé, đặc biệt là nghé: dới 6 tháng tuổi:
thờng bị nhiễm từ mẹ qua sữa khi bú, đôi khi gây
chết.
Thiếu Canxi Photpho
Thiếu canxi thì hiếm nhng thiếu photpho thì phổ biến
ở bò gặm cỏ; gia súc non chân dị dạng, đi lại cứng
nhắc, xơng dòn, gia súc trởng thành kém ăn.
Sán lá gan Fasciola * Xảy ra ở trâu bò mọi lứa tuổi, do chăn thả gần nơi ốc
nớc ngọt sinh sống - triệu chứng gồm thiếu máu và
sng phù ở dới hàm thành hàm hình chai, có thể
gây chết.
Thiếu cô-ban Xảy ra ở loài nhai lại chăn thả, ở nhiều nơi trên thế
giới, có thể làm gia súc gầy sút từ mức trung bình tới
mức nặng và chết.
Thiếu đồng *
Xảy ra ở loài nhai lại chăn thả, ở nhiều vùng, triệu
chứng lâm sàng gồm thiếu máu, chậm lớn, lông mất
màu, ỉa chảy.
Sán lá gan Dicrocoelium * Bệnh không phổ biến, giống nh nhiễm sán lá gan
Fasciola
Bệnh phó lao *
Bệnh xảy ra rải rác, không phổ biến ở vùng nhiệt đới;
xảy ra ở bò trởng thành, gây gầy sút mạn tính với
triệu chứng ỉa chảy, phân thối khắm, thờng gây chết.
Suy dinh dỡng Thờng do đồng cỏ quá tải sau mùa hạn có thể do
các điều kiện khác làm phức tạp thêm nh


nội ký sinh
trùng.
Viêm dạ dầy-ruột do ký
sinh trùng
*
Bệnh chủ yếu của loài nhai lại, đặc biệt ở các đồng cỏ
chăn thả nhiều, các lứa tuổi đều mẫn cảm nhng gia
súc non mắc bệnh nặng nhất.
Dịch tả trâu bò * Bệnh truyền nhiễm gây chết mạnh; con vật sốt, ỉa
chảy, chảy nớc mắt, nớc mũi, chảy dãi, gầy yếu
đáng kể trớc khi chết.
Bệnh sán lá máu * Xảy ra ở bò chăn thả gần nơi sinh sống của ốc nớc
75
(Schistosomosis) ngọt. Con vật ỉa chảy, kém

ăn, thiếu máu.
Ngộ độc cỏ Senecio *
Ngộ độc khi gặm cỏ họ Senecio, thờng gây bệnh
mạn tính do tổn thơng gan; ngộ độc cấp và đôi khi
chết.
Thiếu Natri Các đồng cỏ thiếu Natri phân bố rộng, đặc biệt phổ
biến ở châu Phi, con vật thèm muối sinh ra uống nớc
tiểu, liếm đất và lông
Tiên mao trùng Bệnh gây gầy sút mạn tính chủ yếu, do ruồi đốt
truyền, xảy ra ở châu á trong đó có Việt Nam.
Bệnh ve Quá nhiều ve là một nguyên nhân phổ biến làm gia
súc gầy yếu.
Bệnh lao
Bệnh nhiễm trùng làm suy nhợc bò chủ yếu, thờng

liên quan đến phổi gây thở khó và ho kéo dài.
76
Bảng 5.6 Các bệnh giảm thể trạng ở dê cừu
Bệnh
ỉa
chảy
Đặc điểm dịch tễ
Bệnh lỡi xanh * Do muỗi Culicoides truyền, phân bố rộng, dê cừu
giống nội ít mắc; dê cừu ngoại có thể mắc bệnh nặng;
con vật sốt, chảy nớc mắt, nớc mũi, chảy dãi và
què, đôi khi lỡi sng xanh
Thiếu Côban
Xảy ra ở dê cừu chăn thả, bệnh có ở nhiều nơi trên thế
giới, mức độ gầy yếu có thể khác nhau.
Cầu trùng * Xảy ra ở dê cừu non khi nuôi chật chội; con vật ỉa
chảy có máu và dịch nhầy, hiếm khi chết, thời gian
hồi phục kéo dài ở những trờng hợp nặng có thể ảnh
hởng xấu tới sinh trởng.
Thiếu đồng * Xảy ra ở dê cừu chăn thả, bệnh có ở nhiều nơi trên thế
giới; triệu chứng lâm sàng gồm thiếu máu, chậm lớn
và ỉa chảy mạn tính.
Sán lá gan Dicrocoelium *
Bệnh không phổ biến, xảy ra ở dê cừu chăn thả gần
nơi sinh sống của ơc nớc ngọt.
Sán lá gan Fasciola * Các lứa tuổi đều mẫn cảm, nhiễm sán do chăn thả ở
nơi có ốc nớc ngọt sinh sống, con vật thiếu máu,
sng dới hàm, có thể chết, dê cừu chăn thả có nguy
cơ mắc bệnh nhiều hơn.
Bệnh Phó lao *
Bệnh xẩy ra rải rác, không phổ biến ở miền nhiệt đới;

xảy ra ở dê cừu trởng thành, bệnh gây gầy yếu mạn
tính với triệu chứng ỉa chảy phân có mùi thối khắm,
thờng chết.
Suy dinh dỡng Thờng do đồng cỏ quá tải sau mùa khô hạn thờng
các điều kiện khác làm phức tạp thêm nh nội ký sinh
trùng, cừu có nguy cơ mắc bệnh nhiều hơn dê.
Bệnh ghẻ Cái ghẻ khu trú ở da có thể gây ngứa ngáy mạnh và
làm gia súc suy nhợc, cừu đặc biệt mẫn cảm với ghẻ
Psoroptes gây bệnh ghẻ cừu.
Bệnh chấy rận
Rận khu trú ở da, số lợng nhiều gây ngứa ngáy và
stress, bệnh thờng xảy ra ở gia súc ốm yếu trong điều
kiện nuôi chật chội.
Viêm dạ dầy-ruột do ký
sinh trùng
* Bệnh chủ yếu ở dê cừu chăn thả, đặc biệt ở bãi chăn
thả nhiều, các lứa tuổi đều mẫn cảm, đặc biệt là gia
súc non, cừu có nguy cơ mắc bệnh lớn hơn.
Bệnh sán lá máu
(Schistosomosis)
*
Bệnh không phổ biến, xẩy ra ở dê cừu chăn thả gần
nơi sống của ốc nớc ngọt; con vật ỉa chảy có máu và
dịch nhầy.
77
Bệnh ngứa Scrapie Bệnh gây chết dần ở cừu trởng thành và thỉnh thoảng
ở dê, con vật có triệu chứng thần kinh nhẹ tăng dần
trong vài tháng cộng với da bị ngứa mạnh.
Đậu cừu Phân bố rộng, tất cả các lứa tuổi đều mẫn cảm nhng
dê cừu non bị nặng nhất; con vật sốt, chảy nớc mắt,

nớc mũi, chảy dãi và nốt đậu ở các vùng lông tha,
có thể chết.
Lao Bệnh làm suy nhợc, cừu có sức kháng khá cao nhng
dê đôi khi mắc bệnh; bệnh thờng ảnh hởng đến phổi
gây thở khó và ho kéo dài.
78
Bảng 5.7 Bệnh ở da và phần phụ của da của trâu bò.
Bệnh tích ở da
Bệnh
Ngứa U Đóng
vảy
Nhiễm
trùng
Đặc điểm dịch tễ
Viêm da do
Besnoitia bennetti
* * Bệnh xảy ra rải rác; ở thể nhẹ (có một ít
mụn, u); ở thể nặng (nhiều mụn lan tràn và
đôi khi chết), bệnh tích thờng ở âm nang
và mắt.
Bệnh giòi da * Bệnh không phổ biến, ấu trùng của ruồi
xâm nhập vào vết thơng.v.v làm gia
súc đau đớn, khó chịu.
Viêm hệ lâm ba
bò (Farcy)
* Bệnh phổ biến, có u hạt nhỏ dới da vùng
cổ, vai và chân; không đau và ít gây nên
ốm, đôi khi vỡ ra.
Ngộ độc cựa lõa
mạch (Ergotism)

* Ngộ độc độc nấm tố thờng ở ngũ cốc,
con vật bị hoại tử ở các đầu mút (chân,
môi, mỏm tai và đuôi), què.
Ec-zê-ma mặt * Bệnh ít gặp do ngộ độc độc tố nấm từ
đồng cỏ, chất thải; con vật tăng mẫn cảm
với ánh sáng.
Ung th sừng * Bệnh thờng gặp ở bò cày kéo, giống
Hariana ấn độ, ít thấy ở các giống bò khác
và trâu, sừng bị rụng do ung th ở gốc
sừng.
Phù ác tính * Bệnh không phổ biến, do vết cắn, vết
thơng nhiễm trùng vết thơng nóng, đau,
sng, có mùi thối (hơi hoại th), thờng
chết.
Ghẻ * * Nơi ghẻ ngứa mạnh; thờng ở đầu, cổ và
chân, thờng liên quan chăn nuôi kém,
chật chội.
Ghẻ Demodex * * * Một loại ghẻ chuyên biệt; làm da dầy lên,
có hạt, ở vùng đầu, cổ, chân trớc, và
không giống các loại ghẻ khác, ghẻ
Demodex không gây ngứa.
Bệnh chấy rận * Chấy rận c trú trên da, số lợng nhiểu
gây ngứa và stress; thờng xảy ra ở trâu
bò gầy yếu trong điều kiện nuôi quá đông.
79
Nấm da
Trichophiton
* Bện do nấm, mọc vảy hình tròn màu xám,
thờng ở đầu và cổ, thờng liên quan tới
chăn nuôi quá đông.

Phạm yên Vỡ
vai
* * Có tổn thơng trên thân ngựa do yên
cơng không hợp, vùng da mới bị tổn
thơng có thể bị nhiểm trùng và đau.
Bệnh dòi dinh vít * Bệnh do ấu trùng của ruồi đinh vít
(Chrýomyia bezziana) xâm nhập vào vết
thơng ngoài da, nhiễm nặng sẽ gây tổn
thơng lan rộng, gây mùi khó chịu.
Bệnh giun chỉ * * Giun chỉ c trú trên da do ruồi truyền; gây
nên các bớu nhỏ chảy dịch xuất huyết,
sau vài tháng làm da dầy lên.
Nổi mần đay * Phản ứng dị ứng cấp tính, đột nhiên phát
ban, sng ở bất cứ nơi nào trên cơ thể,
thờng biến mất trong một vài giờ.
Dòi da (Warble
fly)
* Giòi di hành qua các mô bào cuối cùng
xuất hiện qua các lỗ thủng trên da, gây tổn
thơng da.
Bệnh giun hạt
dới
da(Microfilaria)
* Bệnh do một loài giun nhỏ do ruồi truyền,
ấu trùng giun gây nên những mụn nhỏ
lành tính dới da.
80
Bảng 5.8 Bệnh của da và phần phụ của da ở cừu và dê
Bệnh Đặc điểm dịch tễ
Sng đầu Xảy ra ở cừu đực non, nhiễm trùng các tổ chức vùng đầu bị tổn

thơng do húc nhau, đầu sng lên đặc biệt ở quanh mũi, tai, mũi
và hàm dới.
Bệnh dòi da Dòi xâm nhập các vết thơng, túm lông dính phân; gây những tổn
thơng mùi thối khẳn, chủ yếu xẩy ra ở cừu.
Bệnh lỡi xanh Lây lan rộng, bệnh nặng ở cừu nhập; con vật sốt, chảy nớc mắt,
nớc mũi, chảy dãi, què và lông gây, xấu.
Viêm bã đậu hạch
lympho
Bệnh phổ biến, có ổ áp xe mạn tính ở hạch lympho, các mụn nổi ở
dới da có thể vỡ ra và chảy mủ đặc, màu xanh.
Viêm da đóng vảy
(Dermatophilus)
Lây lan rộng; ở cừu, vẩy ẩn dới các túm lông nhng lộ rõ ở mặt,
tai; ở dê có vảy ở môi, mõm, chân và âm nang.
Ngộ độc nấm cựa loã
mạch (Ergotism)
Ngộ độc độc tố nấm; thờng ở các ngũ cốc; hoại tử ở các đầu mút
(chân, môi, mỏm tai và đuôi), gây què.
Ec-ze-ma mặt
Tăng mẫn cảm với ánh sáng do ngộ độc độc tố nấm do rác thải
đồng cỏ trong chăn nuôi cừu thâm canh; viêm và nứt da đặc biệt ở
quanh đầu.
Phù ác tính Bệnh không phổ biến, nhiễm trùng vết cắn hay vết thơng ; nóng
đau sng, có mùi thối khẳn (hơi hoại th), thờng gây chết.
Ghẻ
Ghẻ c trú trên da gây ngứa mạnh và suy nhợc, đặc biệt là cừu
mẫn cảm với ghẻ Psoroptes gây bệnh vảy da cừu.
Ghẻ Demodex Một bệnh ghẻ đặc thù, ở dê mụn ghẻ làm da dầy lên vùng đầu, cổ
và chân trớc, khác các loại ghẻ khác không gây ngứa.
Viêm da có mụn mủ đặc

hiệu ở cừu (Orf)
Bệnh phổ biến, đóng vảy, chảy máu, đau, đặc biệt ở vùng đầu và
miệng (cừu con và dê con), ở chân (dê cừu lớn) và ở đầu vú cừu
cái, dê cái đang cho bú.
Bệnh chấy rận Rận c trú trên da, số lợng nhiều gây ngứa và stress, thờng liên
quan tới gia súc ốm yếu trong điều kiện chật chội.
Tăng mẫn cảm ánh sáng Bệnh gan do độc tố một số thực vật; viêm và nứt ở vùng da ít sắc
tố, bệnh có thể nặng với triệu chứng hoàng đản.
Nấm da Trichophyton
Bệnh không phổ biến, do nhiễm nấm, vảy hình tròn và nổi lên
mầu xám, thờng ở đầu và cổ, thờng liên quan tới chăn nuôi chật
chội.
Bệnh đậu dê cừu Lây lan rộng, các lứa tuổi đều mẫn cảm nhng dê cừu non mắc
bệnh nặng nhất; sốt và mọc nốt đậu ở các vùng lông tha; có thể
gây chết.

×