Tải bản đầy đủ (.doc) (107 trang)

Các công trình vĩ đại

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.81 MB, 107 trang )

Các công trình vĩ đại
Đền lớn Abu Simbel
Ngôi đền lớn Ramesses II ở Abu Simbel, Ai Cập là một trong những công trình ấn tượng và
được mọi người biết đến nhất trong số tất cả các công trình kiến trúc lớn.
Đền lớn Abu Simbel.
Ngoài các vách tường ở sân trong, bên ngoài và một ngôi nhà thờ mặt trời nhỏ, toàn bộ ngôi đền
đều được tạc từ đá rắn. Nhờ vào sự hẻo lánh và vững chãi, ngôi đền được bảo quản tốt, bất chấp
nước trong đập Aswan dâng cao. Chiếm cả mặt tiền là bốn pho tượng khổng lồ của nhà vua, cao
khoảng 22 m trong khi lối vào giữa các tượng dẫn đến một loạt các phòng trong khoét sâu vào
trong vách đá.
Xây dựng đền
Đền khởi công xây dựng ngay khi triều đại vua Ramesses bắt đầu, hoàn tất trong khoảng thời
gian 24 năm (khoảng 1265 TCN). Đền thờ 3 vị thần quan trọng bảo hộ nhà nước Ai Cập, Amun-
Re, Ptah và Re- Horakhty, cũng như đối với chính bản thân Ramesses I cũng được sùng bái ở
đây và thờ phụng ngày khi nhà vua còn sống. Phần lớn các tác phẩm chạm nổi cho thấy khung
cảnh lịch sử tưởng niệm các trận đánh của Ramesses ở Syria, Libya, và Nubia, trong khi các
khung cảnh chi tiết thể hiện tính cách thần thánh của ông trước các vị thần khác. Một ngôi đền
đẽo từ đá nhỏ hơn, cùng thời và cách đền lớn 120 m về hướng Đông Bắc, để thờ nữ thần Hathor
và chánh phi Nefertari của vua Ramesses.
Ngôi đền nằm ở Nubia - Bên kia biên giới truyền thống ở miền nam Ai Cập nhưng nằm lọt trong
khu vực do Ai Cập kiểm soát và quản lý hành chánh vào lúc ấy. Người ta chọn địa điểm này vì
mặt đá không có vết nứt, thuộc loại sa thạch tốt, thích hợp cho việc xây dựng đền trong hang đá
hướng về mặt trời mọc, hai lần trong năm, vào tháng hai và tháng mười, ánh sáng mặt trời chiếu
thẳng vào điện thờ bên trong, rọi sáng các pho tượng thờ ở vách sau. Các chuyên gia không
thống nhất ý kiến với nhau liệu nguồn chiếu sáng này có cố ý hay không, nếu đúng thế, việc định
hướng mặt đá ban đầu phải cân nhắc kỹ lưỡng trong khâu chọn địa điểm xây dựng.
Hầu như chúng ta không có chứng cứ nào thành văn liên quan đến việc
xây dựng đền, nhưng một vài thông tin thu thập được tại địa điểm là đền
phải được quy hoạch chi tiết, kích thước phòng và vị trí cột được tiến
hành trước vì sẽ khó chỉnh sửa sai lầm. Thợ cắt đá phải tạc các pho
tượng khổng lồ ở dạng thô theo kích thước của những người phác họa,


khéo sâu vào bên trong giống như cách làm ở lăng mộ trong thung lũng
các vì vua. Cần đến một tốp gồm nhiều điêu khắc gia lành nghề để đẽo
gọt phần mặt tiền và tạo dáng hoàn chỉnh cho các pho tượng. Bên trong
đền, tốp khác sẽ đẽo gọt vách, trát vữa để phủ kín các vết nứt trên đá. Kế đến vẽ các họa tiết
tranh trí trên các bề mặt đã chuẩn bị do những bậc thầy về phác họa đảm nhận, trong khi các
điêu khắc gia chạm trổ trước khi bổ sung những nét chấm phá cuối cùng bằng sơn có màu sáng.
Phần lớn việc chạm trổ tác phẩm chạm nổi thực ra chỉ ở mức thô, nhưng sự sống động của
phong cảnh khiến người ta chú ý.
Trùng tu và bảo tồn
Hầu hết hư hỏng nhìn thấy ở đền có vẻ diễn ra không lâu sau khi đền hoàn tất. Phần trên của pho
tượng khổng lồ thứ hai bị đổ sụp trong một trận động đất xảy ra sau khi đền hoàn tất khoảng 10
năm và chưa hề được trùng tu. Nhiều hư hoảng khác không đáng kể xảy ra cũng trong trận động
đất ấy đã được các quan chức của nhà vua sửa chữa, có thể nhìn thấy phần phục hồi này bên
dưới cách tay của pho tượng khổng lồ thứ ba và bên trong đền.
Trong thập niên 1960, Abu Simbel trở thánh vật trưng bày trong chiến dịch UNESCO nhằm giải
cứu ngôi đền ở Nunia khỏi mối đe dọa do công trình xây dựng đập Aswan gây ra. Từ năm 1964
đến 1968 cả hai ngôi đền Abu Simbel được tháo dỡ và lắp ráp lại trên độ cao 65m so với địa điểm
ban đầu. Khi người ta chạm trổ đền từ đá rắn, họ phải cắt đá thành từng phiến dễ cầm: Đền lớn
được cắt thành 807 tảng đá khổng lồ, mỗi tảng nặng trung bình 20 tấn. Những tảng này được lắp
ráp trên một khung sườn bằng bê - tông cốt thép bên trong một ngọn núi nhân tạo với chi phí
khoảng 40 triệu USD.
(Theo 70 kỳ quan thế giới cổ đại)
Hải đăng Alexandria
Các họa tiết trên đá thu hút nhờ
sự sống động.
Đây là một trong số Bảy kỳ quan thế giới cổ đại, nhằm hướng dẫn tàu bè vào cảng
Alexandria an toàn. Người ta cho rằng phải mất 15 năm mới xây dựng xong hải đăng và
tiêu tốn một số tiền khổng lồ 800 talents (đơn vị tiền cổ xưa).
Hải đăng Alexandria.
Hải đăng xây dựng dưới thời vua Ptolemy I, khánh thành khoảng năm 283 TCN dưới thời vua

Ptolemy II. Ngoại trừ Kim tự tháp ở Giza, hải đăng là công trình cao nhất trong thế giới cổ đại.
Hải đăng đặt ngay lối vào cảng Alexandria, ngay vị trí hiện nay là một pháo đài Arập xây dựng vào
thời Trung cổ, pháo đài Qait Bey. Tháp trung tâm của pháo đài có lẽ được xây dựng trên nền
móng của Hải đăng, vì thế có thể phỏng theo sơ đồ mặt bằng và kích thước của Hải đăng. Phần
lớn nguyên vật liệu để xây pháo đài đều lấy từ Hải đăng. Tuy nhiên, việc tái tạo chính xác nguyên
bản thật vô cùng khó khăn, mặc dù có nhiều hình ảnh Hải đăng dưới dạng biểu đồ trên các đồng
tiền, đồ khảm và các mô tả thành văn thời cổ đại. Người ta cũng cho rằng ngọn tháp đổ nát ở
Abusir cũng mô phỏng theo hình dáng của Hải đăng. Đây là tất cả những gì người ta biết được về
Hải đăng cho đến năm 1960, khi ấy một thợ lặn Ai Cập phát hiện những tảng đá và pho tượng
khổng lồ nằm dưới đáy biển quanh pháo đài Qait Bey. Người ta cho rằng những khối đá và pho
tượng này thuộc về Hải đăng đổ nát, hiện được một toán bao gồm các thợ lặn và nhà khảo cổ
nghiên cứu.
Xây dựng thành 3 bậc, người ta nghĩ Hải đăng phải có chiều cao khoảng 135 m. Bậc dưới cùng
theo sơ đồ hình vuông, gồm nhiều phòng cho bộ phận canh gác hải đăng thường trực, gia súc và
lương thực. Lối vào được tôn cao, đi vào bằng con đường dốc bắt đầu từ phần nền bao quanh
tháp. Bên trong bậc hình vuông thấp hơn là một vách tường bên trong để đỡ các phần trên của
Hải đăng, đến được phần trên này bằng con đường dốc xoáy trôn ốc bên trong. Bậc ở giữa có
hình bát giác, phía trên bậc này là phần hình tròn có tượng thần Zeus nổi bật.
Xây dựng Hải đăng
Chúng ta có thể nghiên cứu đôi chút về cấu trúc Hải đăng. Hải đăng xây dựng bằng đá trắng, hầu
hết đều là đá vôi trắng ở địa phương chứ không phải đá cẩm thạch như mọi người thường nghĩ.
Có lẽ đá granite được sử dụng ở những nơi thích hợp cần phải có loại đá chắc chắn hơn đá vôi
trắng, có thể chịu đựng tải trọng lớn hơn ở phần chân tháp và phía trên ô cửa. Nhiều tảng đá hiện
nay còn nằm dưới đáy biển đều là đá granite, một số tảng nặng đến 75 tấn.
Alexandria là một bộ phận trong thế giới Hy Lạp, xét theo kiểu dáng, Hải đăng có vẻ là một công
trình Hy Lạp hơn là Ai Cập, mặc dù đội công tác dưới nước của Pháp xác định vị trí của rất nhiều
pho tượng Ai Cập ở vùng lân cận. Các tượng Ptolemy và hoàng hậu khổng lồ đều nằm bên ngoài
hải đăng.
Việc dựng những tảng đá vào đúng vị trí trong một công trình cao như thế đòi hỏi phải thật khéo
léo, bằng kỹ thuật xây dựng Hy Lạp, bao gồm các cần cẩu tinh vi và thiết bị nâng, có lẽ đã được

những người thợ xây áp dụng. Thế nhưng, cũng có thể phần lớn các tảng đá dùng để zây dựng
tầng phía trên được đẩy lên bằng các đường dốc trôn ốc bên trong công trình.
Ngay cả vị trí ngọn lửa thắp sáng hải đăng cũng chưa xác định: có thể nằm ở trên đỉnh, bên dưới
hay dọc theo tượng thần Zeus. Nhiên liệu có lẽ chất lên lưng động vật thồ, vận chuyển lên phía
trên bằng đường dốc trôn ốc, sau đó kéo lên đỉnh bằng thiết bị nâng. Có thể sử dụng một số loại
gương phản xạ để phóng đại và hướng ánh sáng phát ra từ ngọn lửa nhưng chưa có bằng chứng
cụ thể về ý kiến này.
Mặc dù phải qua nhiều lần hư hỏng và sửa chữa. Hải đăng phần lớn vẫn
còn nguyên vẹn cho đến thế kỷ 14 sau CN. Một số thời điểm trước thế
kỷ 12, Hải đăng bị động đất tàn phá nặng nề, tiếp đến phần móng hình
vuông được gia cố, người ta xây một nhà thờ Hồi giáo trên đỉnh. Toàn bộ
công trình bị sụp đổ hoàn toàn năm 1303 trong trận động đất nghiêm
trọng khác, và hầu như được thay bằng pháo đài Qait Bey năm 1479.
(Theo 70 kỳ quan thế giới cổ đại)
Lăng Halicarnassus
Pháo đài Qait Bey.
Ngôi mộ cổ khổng lồ với diện tích hơn 1.000 m2 do Hoàng hậu Artimise xây dựng cho phu
quân Mausolos - Vua xứ Caria. Nó nằm bên bờ biển tây nam Thổ Nhĩ Kỳ và nhằm cất giữ
những gì còn lại của Mausolus.
Ngôi mộ đồ sộ của ông hoàn tất sau khi ông mất năm 353 TCN. Đây đúng nghĩa là một công trình
tưởng niệm, vượt xa tất cả các ngôi mộ khác cùng thời về kích thước và tầm vóc: chiều cao gần
45 m, chiếm một diện tích hơn 1.216 m2. Mặc dù hiện nay những gì còn lại của ngôi mộ không
nhiều, nhưng người ta biết được ít nhiều về công trình này qua các ghi chép lịch sử và khai quật
khảo cổ.
Lăng Halicarnassus.
Lăng hầu như vuông góc theo sơ đồ, các cạnh hướng Đông và Tây dài hơn các cạnh hướng Bắc
và Nam một ít. Lăng nằm trên một bậc đài vòng có kích thước 38x32 m, phía trên bậc đài vòng là
dãy cột Ionic bao quanh tất cả bốn mặt, một kim tự tháp gồm 24 bậc thang nằm trên đỉnh của
toàn bộ công trình. Đá vôi trắng và đá cẩm thạch trắng dùng để ốp mặt tiền, trong khi phần lõi làm
bằng đá núi lửa màu xanh lục. Một hệ thống gồm các ống thoát nước và hành lang ngầm giúp

cho công trình luôn khô ráo và vững chãi. Quanh lăng là tường thành bao bọc chiếm một diện tích
2,5 hécta, có cổng vào ở hướng Đông.
Năm trong số những điêu khắc gia cừ khôi nhất của Hy Lạp được trưng dụng để trang trí Lăng:
Scopas, Bryaxis, Leochares, Timotheos và Praxiteles. Bốn người, mỗi người chịu trách nhiệm
trang trí một mặt của lăng, trong khi người thứ năm đảm trách việc thực hiện hiện tượng chiếc xe
ngựa tứ mã kéo khổng lồ đặt trên đỉnh kim tự tháp bậc thang. Hai trụ ngạch chạy liên tục quanh
các mặt của lăng mộ, một mô tả trận đấu giữa người Lapith và Centaur, trụ còn lại mô tả trận
chiến giữa người Hy Lạp và Amazon, trong khi các hình người và sư tử không có giá đỡ, có kích
thước bằng người thật hay to hơn, đặt trên các bệ bằng đá vôi màu xanh da trời.
Chúng ta không hề biết gì về lăng cho đến khi nó bị sụp đổ (có lẽ do động đất), thậm chí một số
quả quyết lăng chưa hề xây dựng hoàn tất. Tất cả thông tin về địa điểm lăng đã bị thất lạc vào thế
kỷ 15 khi các kỵ sĩ của Thánh John tràn vào, đốt đá cẩm thạch để làm vữa vôi và dùng đá công
trình để gia cố thành trì của họ ở Bodrum. Chính họ là những người đặt chân đến phòng để thi
hài Mausolus nằm dưới đáy của công trình vào năm 1522, thật không may, tài sản trong lăng bị
cướp mất, một ít chi tiết được ghi lại.
Xây dựng lăng
Ngôi mộ đạt đến chiều cao 45 m, trong đó các dãy cột chiếm gần bằng 1/3 tổng chiều cao lăng.
Chiều cao của phần kim tự tháp có thể là 6,8 m, trong khi nhóm tượng xe ngựa được giả định có
chiều cao ấn tượng 6 m - gấp khoảng hai lần kích thước thật. Như vậy phần chiều cao còn lại cho
bục đài vòng sẽ là 20,2 m.
Chỉ riêng bục đài vòng cũng cần đến khoảng 24.563 m3 đá phải khai thác, đẽo gọt, vận chuyển
và đặt đúng vị trí, riêng phần nham thạch màu xanh lục sử dụng trong nội thất được khai thác tại
chỗ trong khi phân tích cho thấy các loại đá khác đến từ những nguồn khác nhau ở rất xa. Đá
cẩm thạch làm trụ ngạch Amazon lấy từ đảo Kos, trong khi trụ ngạch của xe ngựa có lẽ loại đá
cẩm thạch Phrygy nằm sâu trong nội địa vùng Afyon. Việc thu nhập nguyên liệu từ nhiều địa điểm
khác nhau cho thấy Mausolus giữ vai trò quan trọng về uy thế chính trị trong vùng.
Các cuộc khai quật được tiến hành vào thế kỷ 19, trong thập niên 1960 và 1970 đã khôi phục sơ
đồ mặt bằng của Lăng và cho thấy Lăng được xây dựng bằng cách nào. Người ta chọn một nghĩa
địa làm địa điểm, san lấp mặt bằng, khoét và lấp đầy các hành lang, phòng ốc để tạo ra một gối
tựa rắn. Các tảng đá nham thạch ở địa phương dài đến cả mét để làm phần móng và lõi của bục

đài vòng. Dùng các que kim loại để kẹp chặt các tảng đá kề nhau để kết khối và đỡ tường, đồng
thời được gia cố thêm bằng các chốt kim loại liên kết các khối đá ở các lớp đá khác nhau. Dãy cột
và kim tự tháp cũng được lên kế hoạch cùng lúc, mỗi cột trong dáy cột cách nhau 3 m sao cho có
tổng cộng 36 cột Ionic. Phía trên cột, các kẹp kim loại lại dùng để liên kết các khối đá trang trí đầu
cột.
Chứng cứ khảo cổ không nhiều và sự mơ hồ, khó hiểu trong các ghi chép thời cổ đại về Lăng thật
khó xác định bằng cách nào người ta đã đưa đá lên cao trong thi công. Phải dùng cầu để định vị
các khúc đá ngắn lấp cột phía trên bục đài vòng để tính kích thước và độ cao dựng thẳng đá. Một
khi đã đúng vị trí, dùng các chốt gỗ cố định các khúc đá ngắn lắp cột để liên kết và giữ chặt đá.
Các khối đá ở bục đài vòng có thể được dựng thẳng theo cách tương tự, có thể bằng dây thừng
buộc quanh các đầu có mấu lồi rồi sau đó đẽo gọt mấu lồi này khi đá đã đặt đúng vị trí. Việc đưa
đá lên để xây dựng kim tự tháp có lẽ còn khó khăn hơn, vì khi dùng bất cứ dụng cụ nào tính độ
bền theo tỷ lệ không những kích thước tảng đá, mà còn tính đến độ cao để dựng đá đứng thẳng,
khoảng 32-39 m.
Việc nâng và lắp trang trí điêu khắc cũng là một vấn đề, nếu không nói là khó khăn hơn. Nhấc
bổng một tảng đá thường sợ đá bị gãy, rạn và khi đưa các tác phẩm điêu khắc tinh xảo, các chi
rất dễ gãy. Đối với các tác phẩm to bằng hay to hơn kích thước người thật, công việc đòi hỏi phải
hoạch định vô cùng cẩn trọng.
Lăng chính là kho tàng đầy ắp các tác phẩm trang hoàng, nhất là tác phẩm
điêu khắc không có giá đỡ, khiến Lăng được liệt vào hạng Bảy kỳ quan thế
giới cổ đại. Vô số mảnh vụn còn sót lại, một số mảnh vụn có dấu vết của
màu sơn: đỏ-nâu sơn trên tóc, râu: đỏ, xanh da trời và tía trên trang phục và
áo choàng. Tượng sư tử bao quanh gờ mái cũng được sơn màu nâu vàng
nhạt. Thế nhưng tất cả tác phẩm điêu khắc không giá đỡ được lắp đặt như
thế nào vẫn còn là vấn đề gây nhiều tranh cãi. Một số cho rằng muốn lắp dễ
phải tạo bậc thang ở bục đài vòng, tạo ra các gỡ để tựa các bức tượng. Số
khác căn cứ vào tư liệu ghi chép thời cổ cho rằng không cần sử dụng bục đài
vòng hình bậc thang, nhưng cuối cùng người cổ đại vẫn thành công trong việc lắp đặt các tượng.
Ngay cả số người tán thành giải pháp dùng bục đài vòng hình bậc thang cũng không nhất trí về
số lượng các bậc.

Chúng ta căn cứ vào chính các phòng trong lăng mộ: một căn phòng hình chữ nhật xây dựng
trong phần đáy của công trình, có nhiều bậc thang dẫn xuống, gần đó là các cửa ra vào bằng đá
cẩm thạch đồ sộ. Chỉ có một khối đá hình vuông to lớn nằm bên trong lối vào, có nhiều lỗ và khe
để đóng chốt, lúc đầu dùng để định vị tảng đá. Trong phòng này, vào năm 1522, các kỵ sĩ của
Thánh John bắt gặp một bình đựng hài cốt hay quan tài. Thế nhưng, khi họ trở lại vào ngày hôm
sau, quan tài đã bị vỡ ra, vương vãi các vật nhỏ hình tròn và mảnh vụn từ trang phục bằng vàng.
Trong các cuộc khai quật gần đây, người ta chỉ tìm thấy một ít vật nhỏ hình tròn như thế. Đây là
tất cả những gì chúng ta biết được về cách mai táng ban đầu.
Tại sao một công trình tưởng niệm công phu như thế lại xây dựng dành cho một nhà cai trị xứ
Caria? Môn khoa học chính trị có thể đưa ra lời đáp. Mausolus ham muốn thành lập một đế quốc
Caria, thống nhất người Hy Lạp và các dân tộc khác, ngôi mộ của ông biểu tượng hóa tham vọng
thống nhất bằng việc kết hợp các đặc điểm kiến trúc Hy Lạp, Lycia và Ai Cập. Một trong số những
Tác phẩm điêu khắc trong
lăng.
nét mới của Lăng là gom kiến trúc và tác phẩm điêu khắc lại thành một mối quan hệ mới, tạo thế
quân bình giữa hai thế lực có tiếng vang trong nhiều giai đoạn tiếp theo sau. Mausolus cũng xây
dựng một loại tính bất tử qua lăng mộ, mô phỏng nhiều (trên phạm vi nhỏ) các công trình tưởng
niệm Hy-La, và cung cấp từ “mausoleum” cho chúng ta và hiện nay chúng ta vẫn còn dùng để gọi
các công trình lăng mộ đồ sộ.
(Theo 70 kỳ quan thế giới cổ đại)
Vườn treo Babylon
Kỳ quan thế giới này được NebuchADnezzar xây dựng vào khoảng năm 605-562 TCN. Ông
coi đó như một món quà dành cho người vợ, một người đã trưởng thành trong vùng đất
quanh Media, khao khát cảnh núi rừng hùng vĩ.
Vườn treo Babylon.
Những đường rãnh hùng vĩ cùng các vòi phun nước theo phong cách boroque treo lơ lửng trên
các mái vòm đan xen nhau, điều tuyệt diệu trong phong cách núi rừng của đất nước Iran được
chuyển về vùng đồng bằng Mesopotamia ảm đạm - Vườn treo Babylon kết hợp trình độ bậc thầy
về kỹ thuật với giấc mộng trữ tình. Không như Bảy kỳ quan nguyên thuỷ khác, Vườn treo là một
công trình không chỉ dành cho vinh quang mà cho tình yêu - một tình nhân tuyệt vời do một quân

vương xây dựng để thỏa lòng nhớ nhung người vợ ở quê nhà. Đây là một câu chuyện thật quyến
rũ, nhưng có phải là ảo tưởng không? Có phải NebuchADnezzar và Amyitis đã sánh bước bên
nhau tản bộ dọc theo những lối đi đầy bóng mát này? Đây có phải là nơi Alexander Đại đế đã chết
trong khi cố gắng một cách tuyệt vọng để làm giảm cơn sốt rét đang hành hạ?
Mô tả thời cổ đại
Sử gia có uy tín, người đầu tiên đề cập đến vườn treo là Berossus, một người dân thành Babylon
đã viết về vườn treo vào khoảng năm 270 TCN. Ông kể rằng, NebuchADnezzar (605-562 TCN)
xây một cung điện mới trong 15 ngày, nền móng bằng đá hay các bãi đất có hình bậc thang tựa
như phong cảnh núi rừng. Theo lời Berossus, cây cối được trồng tại đây, cái được gọi là vườn
treo, nhằm làm vui lòng một vị hoàng hậu.
Câu chuyện này không có gì phải ngờ vực. Các đồng minh thời cổ đại thường được chính thức
công nhận bằng một đám cưới hoàng tộc và chính điều này chắc hẳn NebuchADnezzar đã kết
hôn cùng một công chúa xứ Ba Tư (Iran). Một trong số những thành tích của NebuchADnezzar,
theo Berossus biết, mô tả cung điện mới của nhà vua như sau: cung điện cao như núi, một phần
xây dựng bằng đá, nghe nói chỉ trong 15 ngày là hoàn tất. Không nêu cụ thể một khu vườn nào
cả, nhưng các cung điện chỉ chăm sóc có một khu vườn.
Người Hy Lạp về sau bổ sung thêm nhiều chi tiết. Một giả thuyết kể rằng
khu vườn rộng 120 m2, chiều cao của bức tường thành cao khoảng 25
m. Khu vườn có bãi đất tạo hình bậc thang như một nhà hát, với các
công trình nhỏ hòa quyện bên trong. Phần nền xây nhiều vách tường,
mỗi vách rộng khoảng 7 m và cách nhau 3 m, để đỡ các dầm bằng đá.
Phía trên dầm là ba lớp riêng biệt - sậy đặt trong lớp nhựa đường, hai
lớp đá xây bằng gạch, và lớp vỏ ngoài cùng làm bằng chì. Đất trong khu
vườn đặt ở trên cùng, nước tưới cây lấy từ các cỗ máy ngụy trang hút nước từ con sông chảy
bên dưới.
Một giả thuyết thứ hai cho rằng, có đến 20 vách tường chống. Một giả thuyết thứ ba lại kể khu
vườn nằm trên các mái cong dạng vòm xây bằng gạch và nhựa đường: các đinh vít kiểu
Archimede nằm dọc theo cầu thang cung cấp nước. Một mô tả khác cho rằng có một công trình
phụ gồm các cột bằng đá đỡ các dầm bằng gỗ: dầm làm bằng thân cây cọ. Thay vì bị mục rữa, đã
mang chất bổ đến nuôi dưỡng rễ cây trồng trong khu vực treo ở phía trên, toàn bộ khuôn viên

được tưới tiêu bằng một hệ thống gồm các vòi phun nước và máng dẫn thiết kế thật tài tình.
Khu vườn ở đâu?
Vì có những mô tả trái ngược nhau, một số tỏ ra ngờ vực liệu vườn treo có thật hay không. Tuy
không có một đề cập đến bất cứ đặc điểm kiến trúc nào, ngoại trừ các thân cây không bị mục rữa,
quả đáng ngạc nhiên. Du khách Hy Lạp chắc hẳn đã chứng kiến việc đưa cây cối lên cao, và
chúng ta có thể tìm kiếm những gì còn lại trong đống đổ nát hiện tại theo cách hợp pháp. Nhưng
Cổng vườn treo Babylon.
thật không may, các cung điện ở Babylon đã bị những người háo hức tận dụng những viên gạch
nung tráng lệ tàn phá hàng ngàn năm trước. Ngày nay chỉ còn lại phần nền móng mà thôi.
Những người thám hiểm ban đầu tìm kiếm các khu vườn trong Cung điện mùa hè trên cao, diện
tích khoảng 180 m2, cùng với việc kết hợp các giếng nước công phu, nhưng vẫn không đủ không
gian dành cho các bãi đất hình bậc thang và cây cối. Một nhà khảo cổ đã xác định vị trí của khu
vườn nằm phía trên một số mái cong dạng vòm mà ông phát hiện nằm ở Cung điện phía Nam, lại
một lần nữa cũng có các giếng nước, cái mái dạng vòm còn là nền móng của một khu vực hành
chánh, cũng có thể là một nhà lao.
Bất kỳ ai tìm kiếm mặt bằng tầng trệt thuộc khu vực cung điện sẽ nhận thấy các cung điện phía
Bắc và phía Nam nằm bên sườn hướng Bắc và Tây, gắn với Euphrates, bằng các công trình nào
trong số này cũng đều có các khu vườn tạo hình bậc thang, có lẽ gây ấn tượng nhất là công trình
phụ phía Tây. Phần bao quanh này, có diện tích khoảng 190 x 80 m, với các tường ngoài rộng
khoảng 20 m, làm bằng gạch đặt trong lớp nhựa đường. Có nhiều căn phòng ở đầu phía Bắc,
trong khi ở đầu phía Nam có một góc hình vuông, có lẽ cầu thang đặt trong một góc. Trong công
trình độc đáo này, có thể người ta đã tạo hình một khu vườn hình vuông, gần bằng với kích thước
yêu cầu, với các ngôi nhà nghỉ trong mùa hè cùng một khu núi non bộ tạo hình bậc thang.
Nhưng vấn đề này chỉ được giải quyết qua những cuộc khai quật gần đây hoặc bằng một số tư
liệu chưa tìm thấy từ thời vương triều Nebuchadnezzar. Cho đến lúc này, chúng ta có thể hình
dung Vườn treo có các mái dạng vòm và vòi nước hoặc bằng bất cứ hình ảnh nào trong trí tưởng
tượng.
(Theo 70 kỳ quan thế giới cổ đại)
Tượng người khổng lồ thành Rhodes
Trong số Bảy kỳ quan thế giới cổ đại, có lẽ chúng ta biết về tượng

người khổng lồ thành Rhodes ít nhất. Không hề có nhân chứng nào
kể lại bức tượng có hình thù ra sao khi nó còn hiện hữu, và khác với
nhiều bức tượng cổ điển khác, không hề có bản sao thứ hai.
Ngay cả địa điểm chính xác của bức tượng vẫn còn tranh cãi. Có phải
tượng đặt ngay lối ra vào hải cảng? Theo thông lệ người ta thường dựng
tượng trên bục đài vòng ngay hải cảng nhằm tạo ấn tượng đối với giới thuỷ
thủ vào cảng, nhưng số khác lại lập luận bức tượng khổng lồ đặt ở cách
mép nước rất xa, ngay trên đỉnh Street of Knights, nơi một ngôi trường Thổ Nhĩ Kỳ tọa lạc hiện
nay. Tuy nhiên, chúng ta biết chính xác Bức tượng khổng lồ được tạc bằng chất liệu gì, nhờ vào
nhà văn cổ đại Philo thành Byzantium. Quả thật, đây chính là một thành tựu kỹ thuật trong việc
đúc khuôn một tượng đồng khổng lồ có chiều cao hơn 33 m - các ngón tay của tượng thậm chí
còn lớn cả hầu hết các pho tượng khác cùng thời - vì thế tượng được liệt vào hạng Bảy kỳ quan.
Về bản chất, Bức tượng khổng lồ là công trình ngỏ lời tạ ơn thần mặt trời Helios - vị thần bảo hộ
thành Rhodes - đã có công giúp thành phố thoát khỏi cuộc bao vây của Demetrius “Poliorcetes”,
vua Syria, năm 305 trước Công Nguyên. Tên ông ta có nghĩa là “Người bao vây”, nhưng ở thành
Rhodes ông ta gặp phải địch thủ. Khi rút quân khỏi hòn đảo, ông từ bỏ các phương tiện bao vây
của mình, sau đó người dân thành Rhodes đem bán ngay, lấy tiền xây dựng công trình.
Công trình giao phó cho Chares, có lẽ là người thiết kế pho tượng, phần đầu tượng đội vầng hào
quang, cùng các tia lửa nhọn tỏa ra, mái tóc dợn sóng như thể đang bay trong gió. Đây chính là
những điểm đặc trưng của thần mặt trời. Tượng người khổng lồ có lẽ có khuôn mặt tròn trĩnh, gần
như dịu dàng, đôi môi hé mở, trong các mô tả về thần mặt trời Helios, tìm thấy trên các đồng tiền
trong thời kỳ này. Lấp lánh dưới ánh mặt trời, vươn cao hơn các dinh thự trong thành phố, bức
tượng không thể không tạo được ấn tượng đối với cư dân thành Rhodes lẫn du khách nước
ngoài.
Tượng người khổng lồ
thành Rhodes.
Xây dựng tượng Người khổng lồ
Toàn cảnh thành Rhodes.
Chỉ riêng kích thước của tượng Người khổng lồ, cũng không thể cho rằng thân tượng và tứ chi
được đúc riêng biệt rồi lắp vào nhau sau đó. Philo thuật rằng, thay vì Chares đổ khuôn tượng tại

chỗ, ông lại đúc từng phần. Công trình khởi công năm 294 trước Công Nguyên, bắt đầu là bàn
chân, được đổ khuôn trước tiên, kế đến đặt vào vị trí trên nền làm bằng đá cẩm thạch trắng. Giai
đoạn tiếp theo - hai cẳng chân - được đổ khuôn cho liên lạc với bàn chân, cũng sử dụng các
khuôn được chuẩn bị và điêu khắc cẩn thận. Thế là tượng Người khổng lồ đứng được, đúc khuôn
từ bộ phận này đến bộ phận khác. Bức tượng rỗng ruột, bên trong được gia cố bằng khung sắt
với các xà ngang theo phương nằm ngang cùng nhiều tảng đá có trọng lượng lớn.
Khi công trình tiếp tục về phía trên, người ta đắp cao thêm ụ đất, tạo ra một giàn giáo cho những
người thợ thủ công có chỗ đứng để làm khuôn, đúc bộ phận kế tiếp. Thực ra Chares chưa hề
thấy công trình nào như thế cho đến phần cuối cùng của bức tượng được đặt ngay vào vị trí, và
chỉ khi ụ đất đắp được thu dọn thì người ta mới chiêm ngưỡng được toàn bộ tượng Người khổng
lồ cùng với tất cả ánh hào quang.
Khối lượng đồng cần để đúc tượng có lẽ đã ngốn hết kho dự trữ đồng và thiếc trên đảo, nhưng
Rhodes là một trung tâm thương mại quan trọng, các nguồn tiếp tế có lẽ nhập khẩu bằng đường
biển. Thật khó có đủ lượng đồng theo yêu cầu, và điều này cũng là lý do giải thích tại sao tượng
Người khổng lồ chỉ đúc được từ 2 đến 2,5 m mỗi năm. Một lý do khác là thời gian cần thiết để làm
tan chảy và đúc đồng, xây dựng và tôn cao ụ đất đắp, cũng như xây dựng bức tượng.
Muốn một pho tượng cao như thế chịu đựng các lực tác động của gió và thời tiết, nhất thiết phải
có hình trụ. Hai tay phải buông thõng kẹp sát vào thân hay giơ thẳng về phía trên, do trọng lượng
và kích thước như thế sẽ không vững chãi khi được tạo hình ở các tư thế khác. Chúng ta cũng
gạt bỏ ý kiến cho rằng tượng đứng giang chân ở ngay lối vào cảng, vì ở tư thế này, phải có
khoảng cách giữa hai chân hơn 120 m, quan điểm này đơn thuần là sự tưởng tượng của những
người hành hương trong thế kỷ 15. Thật phi lý, căn cứ vào tin đồn, thì tượng Người khổng lồ chỉ
tồn tại trên thực tế chưa được 50 năm, tượng hoàn công năm 282 trước Công Nguyên, bị động
đất làm sụp đổ năm 226 trước Công Nguyên. Chính đống đổ nát trở thành một địa điểm du lịch,
cho đến khi được một thương gia người Syria dùng xe bò chở đi vào thế kỷ 7 sau Công Nguyên.
(Theo 70 kỳ quan cổ đại thế giới)
Tượng thần Zeus ở Olympia
Pheidias thể hiện bức tượng thần Zeus đang ngồi, nhưng phần
đầu của tượng gần như đụng sát trần nhà đến mức có ấn tượng
rằng, nếu thần Zeus đứng lên, có thể sẽ đội cả mái đền. Công

trình này là một trong 7 kỳ quan thế giới cổ đại.
Khoảng năm 437 tr.CN, Pheidias, vì lý do chính trị phải rời Athens để
sống lưu vong. Ông đến Olympia theo yêu cầu của hội đồng xây dựng đền thờ Zeus. Trước đó,
ông đã hoàn thành bức tượng bằng ngà và vàng nổi tiếng Athena ở điện Pantheon và một bức
tượng nữ thần khác cũng đẹp mắt không kém, cao gần 10 m (33ft) ở Acropolis.
Nhiệm vụ của Pheidias ở Olympia là thiết kế và dựng lên một hình ảnh để sùng bái thần Zeus đặt
bên trong đền Doric. Kết quả thật phi thường: ông phác thảo một bức tượng bằng ngà và vàng
cao 13m (43ft) đặt trên một phần đế bằng đá cẩm thạch cao 1 m (3,3ft). Toàn bộ công trình lấp kín
cả đầu phía tây của ngôi đền - một kỳ công nếu xét về nguyên liệu chế tác và diện tích mặt bằng -
chỉ có thể thưởng lãm khi đứng cách xa vì những tấm bình phong có hình vẽ bao quanh phần đế
che khuất tầm nhìn.
Pheidias thể hiện tư thế thần Zeus đang ngồi trên ngai vàng, phóng đại tối đa kích thước bức
tượng trong không gian: nếu tượng được tạc theo tư thế đứng, có thể sẽ đạt đến chiều cao hơn
18m (59ft). Bên tay phải Zeus đang cầm tượng thần Victory có cánh biểu tượng cho chiến thắng
trong các kỳ Thế vận Olympic, bên tay trái là vương trượng trang trí bằng kim loại biểu thị vị trí tối
cao của Zeus trong tư cách là vua của các vị thần. Một con chim đại bàng đậu trên vương trượng,
chính là biểu tượng của thần Zeus. Toàn thân tượng Zeus hoàn toàn được chế tác bằng chất liệu
ngà, trong khi áo và dép của tượng được làm bằng vàng. Nhiều họa tiết động vật và hoa huệ tay
tinh xảo được khắc vào y phục của bức tượng, trên phần đầu tượng trang điểm bằng vòng hoa
ôliu. Khối lượng toàn thân bức tượng được đặt trên ngai vàng làm bằng gỗ mun và ngà rất công
phu - một công trình khác không kém phần tráng lệ nằm bên phải bức tượng, chạm trổ các nhân
Tượng thần Zeus.
vật thần thoại, phong cảnh, trang điểm thêm bằng đá quý và vàng. Bàn chân tượng đặt trên một
ghế lớn để chân, phía trước ghế là một chiếc hồ nhỏ bằng đá cẩm thạch đen dùng để hứng nước
dầu ôliu rưới khắp bức tượng, có lẽ đề làm cho ngà không bị rạn.
Hình ảnh những nguyên liệu xây dựng trước đây ở
Olympia.
Mặc dù không có công trình nào của Pheidias còn lưu giữ cho đến nay, nhưng rõ ràng ông có khả
năng thực hiện công trình điêu khắc to hơn người thật, tinh xảo, hoàn mỹ trong chất liệu ngà. Tuy
nhiên, ông chưa hề, hay bất kỳ ai khác cũng thực hiện một công trình bằng chất liệu ngà với kích

thước đồ sộ như thế, cho đến khi ông thực hiện tượng Athena cho điện Parthenon. Kỹ thuật
không phải dễ, đòi hỏi nhiều kỹ năng trong chế tác kim loại, gỗ cũng như ngà.
Bên trong thần tượng thần Zeus ở Olympia
Có khoảng 780 m3 (27.545ft3) gỗ lấy từ địa phương để làm thân tượng, sau đó mới gắn ngà. Bên
trong có lẽ cũng gần bằng chiều cao bức tượng, được làm từng bộ phận rồi ghép lại trong đền
thờ. Gần như không thể di chuyển thân tượng ra vào đền như một đơn vị riêng lẻ. Gỗ tạo hình chỉ
ở mức độ không đáng kể, trong khi phần cơ bắp được đổ khuôn cẩn thận bằng ngà và kim loại.
Xưởng của Pheidias nằm bên ngoài điện thờ, ở phía đông ngôi đền, chính Pheidas đã bố trí và
thực hiện nhiều bộ phận của bức tượng ngay đây. Bản thân ông có lẽ đã chỉ đạo thực hiện và
chịu trách nhiệm các chi tiết tinh xảo khi đổ khuôn và chạm trổ, trong khi những người khác giám
sát công tác cung ứng và vận chuyển nguyên liệu. Cùng lúc, những nhà điêu khắc khác tham gia
vào việc chuẩn bị nguyên liệu và lõi gỗ, cố định các tấm ngà và vàng, cũng hỗ trợ Pheidias.
Tạo dáng nguyên liệu
Người ta thường cho rằng ngà voi được cắt ra và gắn vào lõi gỗ, nhưng chi tiết trong bức tượng
thần Zeus của Pheidias cho thấy hệ thống cơ bắp thể hiện rất sinh động ở phần ngực, có thể họ
đã áp dụng một số kỹ thuật chế tác ngà khác tinh xảo hơn. Việc sản xuất đồ gỗ trong thời cổ đại,
điều Pheidias vốn rất quen thuộc, đã giúp chúng ta lần ra manh mối. Những người làm đồ gỗ đều
biết cách có được các tấm ngà mỏng và to hơn bằng việc bung hơn là cắt ngang. Không những
việc bao phủ một diện tích lớn hơn bằng những tấm ngà này dễ hơn, độ dày của chúng sẽ giúp
việc đổ khuôn ngà dễ hơn một khi được làm mềm. Nhiều nguồn tư liệu thời cổ ghi lại các phương
pháp và vật liệu khác nhau trong việc làm mềm và tạo dáng bằng ngà, như lửa, bia, giấm và nấu
với quả mandrake, có lẽ Pheidias đã áp dụng những cách này. Một khi đã làm mềm, các tấm ngà
mịn sẽ hình thành ngai vàng trong khi các tấm khác ép vào các khuôn đất nung để tạo hình phần
thịt. Sau đó, mỗi chi tiết ngà hoàn chỉnh được vận chuyển vào đền, lắp vào phần lõi gỗ bằng đinh
tán, các tấm ngà còn ướt sẽ tự động kết dính với nhau.
Phần áo ngoài và giày của tượng được làm bằng vàng, cũng như bức tượng thần Victory trên tay
phải của thần Zeus và các chi tiết khác thuộc phần ngai vàng. Người ta áp dụng nhiều kỹ thuật để
chế tác chất liệu vàng. Muốn trang trí các chi tiết thuộc tấm lớn ở phần ngai vàng có lẽ phải đập
mỏng để tạo dáng. Tuy nhiên, khuôn dùng để tạo hình các chi tiết khác, chẳng hạn như các con
sư tử bằng vàng khối nằm ở hai bên ghế để chân, và phần xếp nếp của áo choàng bức tượng

thần Zeus. Vàng tan chảy ở nhiệt độ rất cao rồi đổ vào khuôn dưới dạng chất lỏng. Đất sét nung
được phát hiện trong việc gia công các chi tiết xếp nếp áo.
Vì thế toàn bộ công trình được chế tạo từng chi tiết một, cho đến khâu trau chuốt ngà và đánh
bóng vàng được thực hiện sau cùng. Kết quả hình thành một kỳ quan thật tuyệt vời khiến những
người cổ đại phải kinh ngạc và ghi chép cảm tưởng qua tác phẩm của Strabo, Cicero,
Callimachus và Pausanias…
Càng về cuối thế kỷ 4 sau CN, tín đồ Cơ Đốc cấm đoán tất cả mọi sự sùng bái ngoại giáo khác.
Điện thờ ở Olympia không còn sử dụng và các kỳ thi Thế vận Olympic cũng không được tổ chức
nữa. Tuy nhiên tượng thần Zeus ở Olympia vẫn còn sức thu hút mọi người đến mức người ta di
dời bức tượng về Constantinople (Istanbul). Năm 462 sau CN, một trận hỏa hoạn khủng khiếp đã
tàn phá thành phố và thiêu hủy bức tượng. Bức tượng thần Zeus ở Olympia không hề có bản sao
- tất cả những gì chúng ta biết được về bức tượng là qua sự mô tả trong các ghi chép thời cổ đại
và bản vẽ phác ở các đồng tiền thời xưa.
(Theo 70 kỳ quan trong thế giới cổ đại)
Đền thờ nữ thần Artemiss ở Ephesus
Nghệ thuật Hy Lạp và sự giàu có của châu Á đã kết hợp tạo dựng
nên một công trình kiến trúc thần thánh và nguy nga. Đền thờ nữ
thần Artemiss nằm trong số Bảy kỳ quan bởi tính tráng lệ về kiến
trúc và kích thước khác thường.
Đền thờ này lớn hơn điện Parthenon rất nhiều, đây là một trong số
những ngôi đền đồ sộ nhất do người Hy Lạp cổ đại xây dựng từ trước
đến nay. Tọa lạc gần Ephesus bên bờ biển Ionia thuộc Thổ Nhĩ Kỳ hiện
nay, cả hai ngôi đền và thành phố đều trở nên thịnh vượng do số người
hành hương đến viếng ngôi đền tráng lệ này, là nơi thờ tượng vị nữ thần
huyền bí (“Nữ thần đi săn của người Ephesia”), thường được đồng nhất
với vị nữ thần Hy Lạp Artemis, trong thực tế được xem như là vị thần của người Anatolia thời cổ
đại.
Đền thờ nữ thần Artemis không những là một trong số những ngôi đền Hy Lạp đồ sộ nhất, mà
còn là một trong những công trình được xây dựng toàn bằng đá cẩm thạch lâu đời nhất. Đền
được xây dựng ở địa điểm gồm các ngôi đền xây dựng đầu tiên vào khoảng năm 550 TCN với sự

giúp đỡ tài chính của Croesus, một vị vua nổi tiếng giàu có thuộc vương quốc Lydia lân cận. Thế
nhưng, vào năm 356 TCN, công trình kiến trúc nguy nga này bị một kẻ mắc chứng cuồng nhằm
muốn tên tuổi của mình bất tử, đã phóng hỏa thiêu huỷ. Trong vòng vài thập niên sau, người ta
dựng tại địa điểm cũ ngôi đền mới, theo hình dáng của ngôi đền ban đầu.
Ngôi đền mới trùng tu vẫn còn tồn tại dưới thời kỳ La Mã, khi ấy nhà văn La Mã đã ngạc nhiên
trước kích thước và việc xây dựng ngôi đền. Ba cửa sổ lớn được trổ thẳng xuyên qua mái, cửa
sổ ở giữa tạo ra một khoang hở giúp những người viếng đền có thể nhìn thấy vị nữ thần Artemis
trên bàn thờ. Chính bàn thờ cũng là một công trình có dãy cột thật tráng lệ ở bên phía, đặt ở phía
trước ngôi đền.
Tượng nữ thần Hy Lạp
Artemiss.
Đền thờ nữ thần Artemiss.
Đền nguyên thuỷ có kích thước 55 x 110 m tính ở bậc thang phía trên, ba phía là một dãy cột gồm
hai hàng bao quanh, một chiếc cổng có mái che với hàng cột sâu phía trước lối ra vào. Khi ngôi
đền được trùng tu vào thế kỷ 4 TCN, thì nền móng của một số kiến trúc thượng tầng của ngôi đền
nguyên thuỷ được tận dụng, nhưng ngày nay chỉ cao khỏi mặt đất khoảng 2m, tấm móng được
một hàng cầu thang bao quanh. Ba mươi sáu cột nằm ở phía trước lối ra vào đều trang trí bằng
các tác phẩm chạm nổi, một đặc điểm khác thường đối với các ngôi đền Hy Lạp, chính bản thân
các cột đều chạm trổ từ 40 đến 48 đường rãnh máng khoét sâu ở thân cột. Quanh ngôi đền phía
trên các cây cột, có một trụ ngạch, trong khi các máng xối đều chạm hình đầu sư tử. Với khoảng
cách giữa các cột không có trụ đỡ thường vượt quá 6,5 m, bao gồm các tảng đá dài đến 8,75 m,
công trình đã buộc những người thợ xây thể hiện khả năng cao nhất của mình.
Tục truyền rằng công trình này do kiến trúc sư Chersiphron đảm nhận, sau này ông nghĩ đến
chuyện tự vẫn khi đối mặt trước vấn đề nâng cao rầm đỡ ở lối ra vào. Chắc chắn những người
thợ xây Hy Lạp đã sử dụng cần cẩu vào năm 515 TCN, nhưng phần lớn các tảng đá trong đền
thờ nữ thần Artemiss đều khá nặng. Việc đưa số đá tảng này lên cao không phải là vấn đề duy
nhất - Chersiphron phải đảm bảo rằng những tảng đá dùng để trang trí đỉnh cột phải đặt đúng vị
trí. Muốn thế, ông đã xây dựng một đường dốc làm bằng các bao cát, cao hơn vị trí muốn lắp đặt
một ít. Khi kéo tảng đá lên đường dốc, người ta tháo phần đáy bao để cát chảy ra sao cho mặt
phẳng của đường dốc lún xuống dần cho đến khi tảng đá được đặt đúng vị trí yêu cầu.

Đá cẩm thạch dùng trong công trình được lấy từ mỏ đá cách công trường 11 km (7 dặm), khoảng
cách khá xa khiến việc vận chuyển những tảng đá nặng đến 40 tấn trở thành một thử thách. Lẽ
đương nhiên xe bò không để đảm đương nổi trọng lượng này, nhưng Chersiphron nghĩ ra một
phương pháp thay thế thật tài tình: khối đá hình lăng trụ dùng để lắp cột được các chốt ở tâm giữ
cố định trong một khung bằng gỗ sao cho chúng có thể quay vòng như những chiếc xe lu khổng
lồ chuyển động bằng sức kéo nhiều con bò. Ý tưởng này do con trai của Chersiphron là
Metagenes đề xuất, sao cho các tảng đá trang trí đầu cột vuông góc có thể di chuyển theo cách
tương tự, mỗi đầu cột đều bọc trong bánh xe bằng gỗ khổng lồ.
Vì thế chính cái khó đã ló cái khôn, kích thước đáng kinh ngạc của ngôi đền và các tảng đá sử
dụng trong công trình đòi hỏi những kỹ thuật mới trong vận chuyển và dựng đá đứng thẳng. Trong
khi phương pháp của Chersiphron chưa từng áp dụng ở nơi khác, thì ngôi đền đồ sộ này quả thật
là chứng cứ cho sự khéo léo, tài tình của ông. Nhưng tiếc thay, chỉ một phần rất ít của công trình
còn tồn tại cho đến nay, người ta chỉ bảo quản được bục đài vòng của đền vừa khai quật và một
cột đền duy nhất được gia cố bằng bê tông.
(Theo 70 kỳ quan thế giới cổ đại)
Chiếc thuyền Noah cứu loài người qua trận hồng thuỷ?
Câu chuyện trận đại hồng thuỷ trong Kinh thánh nhận chìm cả thế giới
được thuật lại trong sách Sáng thê. Khi Chúa quyết định phá huỷ tác
phẩm của mình do tội lỗi con người, chỉ mình Noah là được cứu sống
vì ông có đạo đức.
Chúa đã hướng dẫn ông chi tiết về cách đóng thuyền (thường gọi là Ark), có
lẽ giống như một căn nhà dài với mái có hình đầu hồi, nhiều phòng nhỏ. Khi
trời bắt đầu mưa, Noah cùng gia đình xuống thuyền, với các cặp đại diện
các loài sinh vật.
Trời tiếp tục mưa cho đến khi toàn bộ mặt đất bị ngập nước, nhưng cuối cùng mưa cũng tạnh và
nước bắt đầu rút. Thuyền lớn đến vùng núi Ararat, Noah thả chim để xem khi rời thuyền có an
toàn hay không. Ban đầu ông thả một con quạ, và hơn ba lần như thế, ông mới thả chim bồ câu.
Khi chim bồ câu cuối cùng không trở về, Noah biết rằng mặt đất đã khô ráo, thế là tất cả có thể
lên bờ. Khi đặt chân lên mặt đất khô ráo, việc làm đầu tiên của ông là cúng tế. Chúa chấp nhận
điều này, quyết định không bao giờ đọa đày thế giới vì tội lỗi con người. Người lập một giao ước

với Noah và ra lệnh “Hãy sinh sôi nảy nở để trám đầy mặt đất” (Genesis 9:1). Con người có lẽ đã
chăm nom mọi sinh vật trên trái đất, như một dấu hiệu biểu hiện cho lời giao ước này, Chúa đặt
chiếc cầu vồng trên bầu trời.
Việc truy tìm chiếc thuyền Noah
Từ thời cổ đại con người đã tìm kiếm đỉnh núi này hay đỉnh núi khác nơi thuyền Noah neo đậu.
Vào thời cổ đại, nhiều đoàn thám hiểm lên đường tìm kiếm tàn tích của thuyền, họ chọn vô số các
Noah cùng gia đình dựng
thuyền cứu người.
dãy núi để thám hiểm ở vùng Cận Đông. Trong số này là Pir Omar Gudrun, thời xưa gọi là núi
Nisir, nằm gần Kirkuk ở Iraq (Mesopotamia cổ đại), phía đông quê hương của người Assyria cổ ở
dãy Zagros. Vùng được nhiều người chọn thám hiểm khác nằm trong dãy Taurus, phía đông hồ
Van ở Armenia. Vào thời đế quốc Assyria (khoảng các thế kỷ 9 - thế kỷ 7 tr.CN) vùng này là
vương quốc Urartu (lưu ý sự giống nhau với tên Ararat trong Kinh Thánh). Thỉnh thoảng núi
Massis, đỉnh cao nhất trong dãy này, là nơi nhiều đoàn thám hiểm đến tìm kiếm vị trí thuyền
Noah. Người ta cũng tìm kiếm biết bao dãy núi của người Kurd ở phía đông nam hồ Van nhưng
chưa hề tìm được lời đáp. Điều này không gì phải ngạc nhiên, vì câu chuyện Noah trong sách
Sáng chế không hề hiểu theo sự thật lịch sử mà thực ra mang tính thần thoại. Câu chuyện bảo
toàn một hình ảnh giản dị, tự nhiên ban đầu của Chúa khi ấy vẫn còn trò chuyện trực tiếp với
người sùng bái mình. Quả thật, Người được mô tả như một Đấng duy nhất có mọi quyền lực,
nhưng dù sao cũng mang đặc tính của con người, thực ra không có gì khác các vị thần của nhiều
dân tộc Cận Đông khác vào thời ấy.
Tìm kiếm biểu hiện của trận Hồng Thuỷ
Người ta thường nói rõ truyền thuyết về một trận Đại hồng thuỷ và vị anh hùng còn sống sót đã
mang sự sống mới đến địa cầu giống như trong nhiều truyện thần thoại từ Nam Mỹ đến Úc - Á, từ
Địa Trung Hải đến Mesopotamia.
Vị anh hùng người Hy Lạp trong trận Hồng thuỷ có tên là Deucalion. Như Noah, ông cùng người
vợ đóng một chiếc thuyền lớn, chở động vật trên thuyền, căng buồm để tránh sự huỷ diệt. Ở
Mesopotamia cổ đại, vị anh hùng trong trận Hồng thuỷ lại thuộc vào các giai đoạn khác có tên
Ziusudra, Atrahasis và Ut-Napishtim.
Chính truyền thuyết này của người Mesopotamia giống với câu chuyện Noah trong Kinh Thánh

Hebrew nhất. Năm 1873, George Smith ở Viện bảo tàng Anh xuất bản trường ca Gilgamesh, một
vị vua huyền thoại của xứ Uruk, cùng với vợ mình là Enkidu, thực hiện nhiều cuộc phiêu lưu. Lúc
Enkidu mất, Gilgamesh quẫn trí, lên đường tìm bí ẩn đời sống vĩnh cửu của tổ tiên Ut-Napishtim,
đã sống sót qua trận Hồng thuỷ. Nhà vua, cùng với vị tổ tiên này và vợ mình được các vị thần ban
phát trường sinh bất tử. Về một số chi tiết, câu chuyện về Ut-Napishtim rất giống với truyện kể về
Noah và thuyền Noah trong Kinh Thánh, chỉ khác ở điểm có nhiều vị thần.
Trong những năm 1920, nhà khảo cổ học người Anh Leonard Wooley khai quật ở Ur, thành phố ở
miền nam Mesopotamia vốn là nơi sinh tổ phụ của dân Do Thái trong Kinh Thánh - Abraham.
Woolley khuấy động dư luận khi đánh điện tín về London cho biết ông đã tìm thấy chứng cứ trận
Hồng thuỷ ở Ur. Thật không may, ông không có cơ hội, và các nhà khảo cổ sau này cũng thế, khai
quật các địa điểm khác thuộc đồng bằng phía nam Mesopotamia. Những gì họ phát hiện là các
vỉa bùn sâu nằm dưới nước, chứng tỏ cư dân sống không liên tục qua các loại đồ gốm, phần mộ
và dinh thự, tìm thấy ở phía trên và phía dưới mực nước “hồng thuỷ”. Các vỉa bùn này thật ra giới
hạn khu vực đặc trưng của sự định cư và không hề bao quanh toàn bộ địa điểm. Có thể đây
không phải là trận Hồng thuỷ, nhưng chắc chắn đây là chứng cứ của một trận lụt ở địa phương
do sông Tigris và Euphrates gây ra, vốn là những sông lớn của Xứ Sumer và Akkad.
Tất cả thành phố của Mesopotamia tất yếu phải nằm ven một trong những sông này hay trên các
nhánh sông phụ, sông mang sự sống đến người định cư nhưng cũng đe dọa lũ lụt. Nếu ở thượng
lưu thuộc Thổ Nhĩ Kỳ và Syria, nơi có nạn lụt lớn khác thường, hay có lẽ tuyết trên núi tan quá
nhanh, thì sau đó các sông lớn nhanh chóng biến thành dòng chảy cuồn cuộn, phá vỡ bờ và gây
thiệt hại nghiêm trọng trên các khu vực tương đối nhỏ. Điều này dễ xảy ra hơn ở các sông nhánh,
sông chảy chậm băng qua vùng đồng bằng phù sa qua các bờ đê (lòng sông nâng lên) cao hơn
các cánh đồng phì nhiêu. Chứng cứ bị lũ lụt chỉ xảy ra trong những trường hợp này. Ngày nay, ở
miền nam, phần lớn địa điểm thời cổ đại hiện nằm trong sa mạc, vì dòng chảy của sông qua thời
gian đã bị nhiều lần làm cho chuyển hướng trong khu vực châu thổ.
Giới khảo cổ và sử gia trong nhiều năm giả định rằng Hồng thuỷ của Noah là một ký ức dân gian
về một trận lụt như thế, thậm chí có thể là một thảm hoạ khác thường. Ký ức ấy vẫn còn hằn sâu
trong thị tộc của Abraham trong cuộc hành trình dài từ Ur đến Canaan, tạo thêm hương vị thờ một
thần rõ rệt ở vùng quê hương mới của họ. Truyền thuyết khẩu truyền làm nền tảng cho truyện kể
thành văn trong sách Sáng thế có thể đã tồn tại dai dẳng với sự tham phần của những người

khéo kể chuyện qua nhiều thế kỷ, và điều rõ ràng tính không nhất quán trong chính nội dung Kinh
Thánh nên những nguồn truyền thuyết này cũng không khớp nhau từng chi tiết.
(Theo 70 bí ẩn lớn của thế giới cổ đại)
Kim tự tháp Giza
Khi đến gần những công trình đồ sộ này, hình dáng góc cạnh và độ nghiêng của chúng
làm tan biến dáng vẻ về độ cao và đánh lừa đôi mắt… nhưng ngay khi bắt đầu đo những
sản phẩm mỹ thuật khổng lồ bằng thước tỷ lệ quen thuộc, chúng lại phục hồi tất cả vẻ bao
la của mình.
Kim tự tháp Giza.
Trong số Bảy kỳ quan thế giới cổ đại, chỉ có các Kim tự tháp Giza là còn tồn tại. Mặc dù đã bị mất
đi rất nhiều lớp vỏ bọc bằng đá vôi trắng, cùng các đền thờ bao quanh đã bị đổ nát, nhưng chính
kích thước của những công trình hùng vĩ này vẫn khiến du khách phải sửng sốt. Công trình vươn
lên như một trong số những thành tựu đáng ngạc nhiên nhất trong lịch sử, nhưng thậm chí ngay
cả hiện nay các phương pháp được những thợ xây cổ đại áp dụng vẫn còn là vấn đề nhiều tranh
cãi.
Thực tế có hơn 80 Kim tự tháp ở Ai Cập, được xây dựng trong khoảng thời gian hơn 100 năm,
nhưng các Kim tự tháp ở Giza là lớn nhất và được bảo quản tốt nhất nhờ vào tính chắc chắn của
công trình. Kim tự tháp Giza do ba vị vua thuộc vương triều thứ tư xây dựng: Khufu (còn gọi là
Cheops), Khafre (Chephren) và Menkaure (Mycerinus). Kim tự tháp Khufu (khoảng 2551-228
tr.CN) lớn nhất và còn được gọi là Kim tự tháp lớn. Với hơn 4.000 năm tuổi, đây là công trình
được xây dựng cao nhất trên thế giới.
Ý nghĩa
Các kim tự tháp Ai Cập thuộc Cổ hay Trung vương triều đều là thượng tầng kiến trúc của các lăng
mộ hoàng gia. Sự chắc chắn và đồ sộ của công trình nhằm mục đích bảo vệ thi hài của nhà vua,
nhưng việc chọn lựa hình dáng kim tự tháp phải có sự nghiên cứu biểu tượng đáng kể. Kim tự
tháp nhằm mục đích giúp nhà vua thăng thiên, hình dáng thường được giải thích như một đoạn
đường dốc hướng lên bầu trời. Kim tự tháp cũng liên kết với các gò đất nguyên thủy hình thành
do sự xáo trộn các khối nước vào thời điểm xây dựng. Ngoài ra, hình dáng kim tự tháp có thể là
biểu tượng mặt trời, tượng trưng cho các tia nắng mặt trời chiếu chếch ở dạng rắn nổi lên, đôi khi
nhìn thấy tia nắng chiếu xuyên qua mây. Dù sự giải thích hình dáng như thế nào, điều rõ ràng là

người Ai Cập đã cố gắng xây dựng công trình cao nhất có thể, một khối lượng lớn gồm công trình
bằng đá xây dựng theo hình kim tự tháp có lẽ là phương pháp thành công nhất để đạt đến ước
vọng này.
Bản thân kim tự tháp chỉ là một bộ phận trong tổ hợp chôn cất hoàng gia. Mỗi kim tự tháp đều tọa
lạc trong một vùng đất, bao quanh là khu đền tang lễ nằm ở cạnh phía Tây, cũng có một ngôi đền
trong thung lũng gần con sông nối liền với ngôi đền phía thượng lưu bằng bờ đất đắp cao chạy
dài trang trí bằng những tác phẩm chạm nổi. Bờ đất đắp cao ở kim tự tháp Khufu vẫn còn khi
Herodotus tham quan Giza vào thế kỷ 5 tr.CN. Theo ông quan sát, hầu hết các trang trí chạm trổ
trên các vách đều gây ấn tượng cũng như chính bản thân kim tự tháp.
Mặt bằng bố cục và chuẩn bị địa điểm xây dựng
Điều quan trọng là phải chọn địa điểm xây dựng thích hợp. Vùng cao nguyên Giza được chọn do
vị trí tầm nhìn bao quát hướng về thung lũng sông Nile và nằm ở bờ Tây - phía Tây thường đi đôi
với mặt trời lặn và cái chết. Ngoài ra, dãy đá vôi trắng tạo ra một nền móng vững chắc chịu đựng
trọng lượng đồ sộ của công trình và cũng là nguồn nguyên liệu thừa thãi trong việc xây dựng các
phần lõi rắn chắc.
Kế đến là chuẩn bị địa điểm xây dựng. Công việc bắt đầu bằng việc phác thảo sơ bộ, san lấp mặt
bằng, hình thành một chân đứng chắc chắn, chẳng hạn như san lấp theo góc vuông và dây dọi,
nhưng có thể đạt đến mức độ chính xác đáng ngạc nhiên: mặt bằng lối đi quanh kim tự tháp
Khufu chỉ dao động 2 cm (khoảng 0,78 inch). Mặc dù khu vực quanh vùng cạnh đáy kim tự tháp
được giảm xuống để tạo ra một nền móng bằng phẳng, nhưng đá tự nhiên bên trong thông số
vẫn giữ nguyên để hình thành một phần lõi rắn trong công trình xây dựng bằng đá ở lớp phía
dưới.
Khi chuẩn bị xong địa điểm, các nhà khảo sát bắt đầu bố trí một góc vuông chính xác để làm cạnh
đáy kim tự tháp. Mỗi kim tự tháp được sắp thẳng hàng sao cho các cạnh hướng về bốn phương
chính. Đầu tiên, hoặc là cạnh hướng Đông hay cạnh hướng Tây được sắp thẳng hàng với hướng
Bắc bằng cách quan sát các vì sao ở đường chân trời. Thêm một lần nữa, những người thợ xây
Ai Cập rất chính xác: các cạnh của kim tự tháp lớn chỉ lệch khỏi hướng chính Bắc trung bình
khoảng 3 phút trong một độ. Khi một cạnh được sắp thẳng hàng, các cạnh khác được xây dựng
căn cứ theo cạnh vừa sắp thẳng hàng về mặt hình học và được đánh dấu trên lối đi.
Trong những năm gần đây, có nhiều nỗ lực có ý nghĩa trong việc nghiên cứu mặt bằng bố cục

theo đường chéo của ba kim tự tháp quan trọng Giza. Điều không chắc chắn rằng, có bất cứ quy
hoạch tổng thể cơ bản nào trong việc xây dựng, vì các kim tự tháp xây dựng ở những thời gian
khác nhau và dự án riêng biệt. Vả lại, các vùng đất bao quanh kim tự tháp không liên kết với nhau
như người ta vẫn tưởng đã có quy hoạch tổng thể. Mặt bằng bố cục theo đường chéo góc là kết
quả trực tiếp trong tiến trình xây dựng, các kim tự tháp được gióng thẳng hàng theo hướng chính
Bắc, vì thế mỗi kim tự tháp được xây dựng chếch theo rìa cao nguyên và bị công trình có trước
cản lại nhằm giữ cho ngay hàng, không cản tầm quan sát các ngôi sao phương Bắc để gióng
hàng cho chính xác.
Khai thác, vận chuyển đá
Đá tảng sử dụng làm lõi trong Kim tự tháp lớn được khai thác từ mỏ đá
nằm ở phía Nam kim tự tháp, cũng cùng phương pháp áp dụng để đào
đường hào quanh tượng Nhân sư. Thế nhưng, những người thợ xây xác
định chất lượng đá vôi trắng ở địa phương quá kém đến mức không thể
làm lớp vỏ bọc ngoài, vì thế phải vận chuyển đá vôi trắng mịn vượt sống
ở Tura đến cảng nằm ở ven cao nguyên. Bình quân mỗi tảng đá sử dụng
trong kim tự tháp cân nặng 2,5 tấn, mặc dù người ta đã làm giảm kích
thước hướng về phần đỉnh của tảng đá. Ngoài ra, đá granite được vận
chuyển từ Aswan, cách địa điểm xây dựng 935 km (580 dặm) về phía Nam. Để gióng thẳng hàng
với phòng chôn cất và tạo ra các nút chặn không thể xâm nhập vào các hành lang bên trong để
làm nản chí những tên ăn trộm mộ. Đá granite cũng được sử dụng ở lớp đá thấp nhất trong lớp
vỏ bọc kim tự tháp Khafre, và ít nhất có trong 16 lớp đá dưới đáy kim tự tháp Menkaure.
Khi đến cảng, các tảng đá được chất lên các thanh trượt bằng gỗ, kéo bằng dây thừng đến cạnh
đáy kim tự tháp. Số lượng các toán nhân công kéo một tảng đá thay đổi tùy theo trọng lượng của
tảng đá. Một trong những tuyến đường vận chuyển dẫn đến kim tự tháp thuộc thời trung vương
triều nằm ở Lisht đã được khai quật. Người ta phát hiện có nhiều thanh gỗ phẳng đặt trên đường
lăn gỗ nằm trên lớp đất bùn cứng: một con đường như thế sẽ giảm lực ma sát đáng kể và tăng
khối lượng chất hàng lên các thanh trượt.
Trái với suy nghĩ của nhiều người, các kim tự tháp không phải do nô lệ, mà do lao dộng đến tuổi
đi lính, tham dự. Ít nhất một số trong lực lượng lao động này thường trực, nhưng phần nhiều là
Đá tảng được dùng làm lõi

trong tháp.
lao động thời vụ: có lẽ mùa hè số nhân công tập trung đông nhát vì lũ sông Nile hàng năm cản trở
việc thi công. Ngoài những người trực tiếp xây dựng kim tự tháp, còn có một hệ thống cung ứng
khổng lồ khác để tiếp lương thực cho công nhân. Theo các hướng tính gần đây, kim tự tháp
Khufu đã sử dụng một lực lượng 20.000-30.000 lao động, và số này làm nhà ở gần công trường.
Đường dốc và xây dựng
Một trong những khía cạnh thường gây tranh cãi trong việc xây dựng kim tự tháp là cách đưa các
tảng đá lên cao trong công trình. Nhiều sơ đồ khác nhau diễn tả việc dựng, bẩy và kéo các tảng
đá đã được nghiên cứu, và hiện nay hầu hết các học giả đều nhất trí rằng người ta đã sử dụng
một số loại đường dốc, sau khi kim tự tháp hoàn tất, số đường dốc này được tháo dỡ. Ở Giza,
mặc dù không có chứng cứ nào rõ rệt cho thấy đường dốc được bảo quản, nhưng số đá vụn và
đá nhỏ rải trên mặt đường lấp đầy các khu mỏ đá ở Khufu có thể xem là phần còn lại. Chứng cứ
từ những địa điểm khác đưa ra giả thuyết người ta đã sử dụng nhiều loại đường dốc khác nhau.
Có thể gạt bỏ một số vì lý do thực tiễn: không đủ không gian để làm một con đường dốc thẳng
dẫn đến đỉnh kim tự tháp trong khi đường dốc hình xoắn ốc có lẽ sẽ che khuất các góc bên trong
kim tự tháp, dẫn đến việc sai lệch trong khi thi công.
Dường như có những giải pháp khác nhau để dựng các tảng đá trên cao được áp dụng khi việc
thi công đang tiến triển. Có khoảng 96% thể tích của một kim tự tháp nằm dưới 2/3 phần đáy,
trong khi thi công các lớp đá phía dưới, người ta tạo ra nhiều đường dốc nhỏ để đảm bảo mang
được nhiều đá lên các tầng đang thi công. Đối với phần đỉnh kim tự tháp, số lượng đá sẽ chậm
hơn vì việc đưa đá lên cao càng khó hơn, và ngay tại đỉnh, phải có nhiều cải tiếng đáng kể mới
dựng và định vị được các tảng đá.
Mỗi tảng đá được tạo hình khi di chuyển đến vị trí sau cùng sao cho chúng
vừa khít với các tảng đá bên cạnh: các tảng đá làm vỏ bọc của kim tự tháp
lớn được lắp khít khao đến mức không thể để lọt lưới dao vào khe hở.
Người ta dùng chất vữa thạch cao để trám bất cứ khe hở nào và cũng sử
dụng như dầu bôi trơn giúp cho việc định vị các tảng đá được thuận tiện.
Dường như các tảng đá đặt ở góc đều được lắp và đẽo gọt khi bắt đầu thi
công mỗi lớp đá để bảo đảm mỗi lớp đá đều gióng thẳng hàng.
Người ta đo các đường chéo góc để kiểm tra công trình có vuông góc hay không, trong khi ngắm

các góc để tránh bị xoắn góc.
Bố cục bên trong kim tự tháp
Mỗi tảng đá được tạo
hình để vừa khít các tảng
bên cạnh.
Kim tự tháp của Khufu mang nét độc đáo về tính phức tạp trong việc sắp xếp bên trong. Có ba
phòng trong: phòng thấp nhất được tạo thành từ lớp đá bên dưới kim tự tháp trong khi hai phòng
phía trên được xây dựng bên trong kim tự tháp. Phòng của nhà vua hoàn toàn nằm thẳng hàng
với đá granite đó ở Aswan, bên trong có cả quan tài đá cũng bằng cùng loại đá này. Phía trên
phòng của nhà vua là năm phòng giải trí, bên trên lợp mái với các dầm granite rất to, thiết kế để
làm chệch trọng lượng của kim tự tháp ra khỏi trần nhà của phòng chôn cất, trong Hành lang lớn
dẫn đến Phòng của nhà vua, đầu cuối cùng được đỡ bằng rầm chìa. Những thân cột hẹp khoảng
20 cm (8 inch) vuông dẫn từ hai phòng phía trên và sắp thẳng hàng dưới về chòm sao Orion, và
các ngôi sao ở đường chân trời, giúp cho “linh hồn của nhà vua băng hà đi đến các vì sao này.
Giới kiến trúc sư cũng nghĩ ra khung lưới sắt công phu và cơ chế nút chặn để bịt kín các hành
lang vào, nhưng sau này các tên trộm đã đào đường hầm quanh hệ thống.
Các phòng bên trong kim tự tháp Khafre và Menkaure nằm phía dưới mặt đất, được đào từ lớp
đá nền. Kim tự tháp Khafre chỉ có hai phòng đơn giản với trần nhà đóng kín, trong khi kim tự tháp
Menkaure có một dãy các phòng và lối đi tuy nhỏ nhưng phức tạp hơn, một trong số này có trang
trí.
Hoàn tất kim tự tháp
Trong khi các cạnh của những tảng đá bao được đẽo gọt tạo hình khi lắp đặt, thì mặt ngoài của
tảng đá vẫn chưa trau chuốt cho đến khi hoàn tất kim tự tháp: đá dư bảo vệ lớp bọc trong khi thi
công các tầng phía trên. Công việc trau chuốt sau cùng diễn ra theo trình tự từ trên đỉnh xuống.
Lúc nhân công di chuyển từ các cạnh của kim tự tháp xuống, thì các đường dốc xây dựng được
tháo giàn dần. Phần lớn lớp vỏ bao bằng đá granite thuộc lớp đá phía dưới kim tự tháp Menkaure
không được trau chuốt trong khi thi công đều bị hủy bỏ, vẫn còn nhìn thấy nhiều phần lồi trên các
tảng đá.
Ngoài đường hầm kim tự tháp Giza, phần lớn vẫn còn nguyên vẹn cho đến thời Trung cổ, lúc ấy
việc khai thác đá đều theo hệ thống. Yêu cầu cần phải có đá vôi trắng mịn cho các công trình ở

Cairo, người ta nhận thấy việc di chuyển các tảng đá làm lớp vỏ từ kim tự tháp còn dễ hơn việc
khai thác nguyên liệu mới nhiều. May thay, một phần nhỏ các lớp đá bao trên đỉnh kim tự tháp
Khafre vẫn còn, tạo ra sự thoáng hiện trêu người so với diện mạo nguyên thủy.
Việc thám hiểm và vẽ bản đồ cao nguyên Giza đã được tiến hành từ thế kỷ 17 và hiện nay vẫn
đang tiếp tục. Người ta tiến hành nhiều cuộc quan sát và khai quật tỉ mỉ nhằm tìm kiếm thông tin
về cách xây dựng và con người đã tham gia xây dựng các công trình phi thường này.
(Theo 70 kỳ quan thế giới cổ đại)

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×