ÔNG “ĐẠI QUAN” VỀ LẠI NGÔI NHÀ CŨ
Tôi ghé thăm Nguyễn Khoa Điềm khi ông đã về lại ngôi nhà
cũ ở Huế. Nhắc đến thơ, tôi thấy ánh mắt ông bỗng tươi
sáng, linh hoạt hẳn lên, và như chứa đựng một điều gì thăm
thẳm. Tôi nghĩ, không có gì bộc lộ đáy thẳm của nhà thơ hơn
chính thơ của họ. Điều đó hiện lên trong những bài thơ mới
nhất của ông sau khi trở lại ngôi nhà tuổi thơ bên dòng
Hương thơ mộng.
Ngôi nhà khuất sau một rừng chuối xanh um cách đây hai mươi năm
tôi đã từng ngồi uống với ông chén rượu làng Chuồn mà sau này nó
còn phảng phất trong thơ tôi:
chua và cay và thơm như rượu gạo
.
Ông đã xa ngôi nhà ấy suốt một thời tuổi trẻ rồi trở về với người mẹ
vò võ ngóng con mấy chục năm đất nước cắt chia. Cho đến khi làm
đến chức Phó bí thư Tỉnh ủy, ông vẫn ở trong ngôi nhà của mẹ và
viết nên tập thơ “Ngôi nhà có ngọn lửa ấm”. Nhưng con đường
hoạn lộ đã lại mang ông đi xa ngôi nhà thân yêu ấy. Ông ra Hà Nội
làm Thứ trưởng, Bộ trưởng, rồi Ủy viên Bộ Chính Trị. Mười hai năm
sau, ông từ giã mọi thứ để trở về ngôi nhà cũ lúc tuổi sáu tư, và như
ông nói, là để “làm mới cuộc đời mình”. Ông chính là nhà thơ Nguyễn
Khoa Điềm, tác giả của những câu thơ nhiều thế hệ thuộc nằm lòng:
Khi ta sinh ra Đất Nước đã có rồi…
Vâng, gửi lại vợ con ở Hà Nội, ông đã về lại Huế. Người ta thường
thấy ông trên chiếc xe đạp cũ ghé thăm nhà này nhà nọ. Người ta
thấy ông đặt cơm hàng ngày ở quán cơm bình dân gần chợ Vỹ Dạ
suốt cả tháng trời khi chưa tìm được người chợ búa bếp núc. Bà mẹ
vợ ở tuổi “cổ lai hi” về ở với ông, nói rằng, ông ăn rất ít, và chẳng
yêu cầu, đòi hỏi gì. Có lúc thấy thương quá, bà hỏi ông “Ba con bé
thích ăn trứng lộn không, tui ra đầu ngõ mua cho?”. Ông lễ phép
thưa: “Mệ mua cho con một trái”. Bà mẹ vợ vẫn thường gọi ông là
“ba con bé”. “Ba con bé thích ăn bánh bèo không?”, và bà nhờ người
đến quán bánh bèo Bà Đỏ mua cho ông một hộp. Nếu không đi đâu
là ông ngồi đọc sách. Và làm thơ. Thơ là cái nghiệp còn lại, là người
bạn tri âm đã lựa chọn ông từ ngày ông còn trẻ.
Khi vào Huế, tôi gọi điện đến nhà ông. Vợ ông vừa từ Hà Nội về
thăm nhà. Chị nói ông mới đạp xe ra hiệu sách. Tôi hỏi, nhà có rượu
không? Vợ ông cười, em không thấy chai rượu nào cả, uống bia được
không anh? Tối nay tôi mang rượu đến, không phải đi mua đâu.
Chập tối, một người bạn chở tôi tới nhà ông gần chợ Vỹ Dạ. Sau
cổng nhà vẫn vườn chuối xanh um tùm như rừng. Sau vườn chuối là
ngôi nhà xưa nay làm nơi hương hỏa. Bây giờ ông ít uống rượu.
Chúng tôi ngồi uống nhâm nhi với đĩa lạc rang kiểu Bắc vợ ông mang
từ Hà Nội vào. Tôi hỏi ông: “Nghe nói anh đạp xe đến Tỉnh ủy, cơ
quan cũ, người ta không cho anh vào à?”. Ông cười thoải mái: “Mình
đạp xe đến cổng xin vào Ban Tuyên Giáo. Cậu bảo vệ hỏi giấy tờ.
Trong túi mình chỉ có cái chứng minh thư. Tất nhiên cậu ta là “lính
mới”, chẳng biết mình là ai, liền gọi điện lên Ban Tuyên Giáo. Thế là
người của Ban xuống đón, mình mới được vào”. “Ở Huế đồn ầm
chuyện ông “đại quan” chuyên đi xe đạp. Họ bảo rằng ở đây có
những ông “tiểu quan” sau khi bàn giao công việc rồi mà vẫn giữ khư
khư cái ô-tô công. Họ cho anh là lập dị đấy”. “Đâu có. Ngày xưa
mình vẫn thường đi xe đạp mà. Bây giờ đi xe đạp tiện hơn cả đi xe
máy. Xe đạp còn thay cho cái máy thể thao, sáng dậy đạp một vòng,
khỏe chân khỏe người, lại thích ghé đâu cũng dễ”. Tôi nhớ lại ngày
xưa khi ông còn làm Phó bí thư thường trực Tỉnh ủy, ông cũng đạp
xe đến nhà tôi rủ tôi tới Nhà Khách tỉnh tiếp nhà thơ Tố Hữu. Hôm ấy
ông phải ghé nhà bà con ở gần Đập Đá gửi thằng nhỏ, 10 giờ đêm
lại đạp xe về đón cháu…
Câu chuyện đời thường rôm rả bên chén rượu bỗng chuyển sang
chuyện sách vở, thơ phú. Ông bảo bây giờ ở Huế mở thêm được
nhiều nhà sách lớn. Người Huế hình như đọc sách nhiều hơn, đặc
biệt là giới trẻ. Mỗi lần tới hiệu sách, ông thấy phấn chấn hẳn lên.
Hầu như tới hiệu sách là thói quen của ông. Hồi còn đương chức ở
Hà Nội, ông cũng thường ghé vào hiệu sách, dù các nhà xuất bản
vẫn thường gửi sách tặng ông. Có khi người ta gửi tặng cả thùng
sách rất nặng. Hồi đó tôi hỏi ông làm sao đọc hết sách tặng của các
nhà xuất bản? Ông cười: Về hưu đọc cũng chưa muộn, nhưng cũng
phải chọn lọc lại mới đọc được. Quả đúng như vậy, sau khi bàn giao
chức tước, công việc, ông chỉ xin cơ quan một chuyến xe chở sách về
Huế. Vậy mà ông vẫn cứ ghé hiệu sách. Ông khoe, hôm kia đến hiệu
sách, thấy có cuốn
Mẫu thượng ngàn
của Nguyễn Xuân Khánh, mua
về đọc một lèo. Và ông bảo, cuốn sách rất thú vị.
- Đọc ba bài thơ mới của anh trên báo Văn Nghệ, Nguyễn Thụy Kha
bảo ông Điềm đã khởi động lại cỗ máy thơ – Tôi nói.
- Nguyễn Quang Thiều điện vào bảo mình gửi thơ ra – ông cười vui –
Mình gửi mấy bài. Về Huế, không khí rất dễ chịu, rất quen với mình.
Cái lạ nhất là sau khi đã rời cái micro trên các bàn họp, trở lại với đời
sống thực lam lũ và bụi bặm của Huế, mình lại làm thơ được ông ạ.
- Anh đến thăm anh Tường chưa?
- Anh Tường đang điều trị bệnh bằng rễ cây mai trăm tuổi. Nghe Mỹ
Dạ nói, có người Huế đã đào cả cây mai trăm tuổi lấy rễ cho anh
Tường làm thuốc chữa bệnh, chân và tay bại liệt đã cử động được tốt
hơn rồi.
- Anh vẫn thường xuyên gặp gỡ anh em văn nghệ Huế chứ?
- Thỉnh thoảng có gặp người này người nọ. Hôm trước mình rủ anh
Hồng Nhu, anh Nguyễn Khắc Phê và Ngô Minh lên núi Thiên Thái ghé
Chín Hầm thắp hương và thăm khu tưởng niệm những người đã hy
sinh. Xúc động lắm.
- Hôm qua tôi đến thăm anh Trần Vàng Sao, nghe anh Trần Vàng
Sao nói anh có ghé nhà…
- Mình với anh Đính (tên thật của nhà thơ Trần Vàng Sao) gần nhà
nhau. Ở Huế hồi chiến tranh, mẹ mình và mẹ anh Đính vẫn thường
đi chợ với nhau. Lúc còn trên chiến khu, hai anh em vẫn thường đọc
chung thư nhà. Anh Đính làm thơ rất có cá tính. “
Bài thơ của một
người yêu nước mình
” của anh Đính bây giờ mình vẫn còn nhớ.
Nhắc đến thơ, tôi thấy ánh mắt ông bỗng tươi sáng, linh hoạt hẳn
lên, và như chứa đựng một điều gì thăm thẳm. Tôi nghĩ, không có gì
bộc lộ đáy thẳm của nhà thơ hơn chính thơ của họ. Điều đó hiện lên
trong những bài thơ mới nhất của ông sau khi trở lại ngôi nhà tuổi
thơ bên dòng Hương thơ mộng. Tôi muốn chép ra đây một bài thơ
mới của ông, đó là bài thơ có tựa đề: Bây giờ là lúc…
Bây giờ là lúc có thể chia tay với điện thoại để bàn, cac-vi-dit, nắm
đấm mi-crô
Tự do lên mạng với đời sống, ăn ngủ với bụi đường
Một mình một ba-lô và xe đạp
Bây giờ gió gọi anh đi
Mặt trời đánh nhịp về tám hướng
Từ giã cà-vạt, giày đen, lời trịnh trọng
Anh là một với cánh đồng, cánh hẩu với quán cóc, ăn chịu với cỏ
Hò hát một mình, đọc những gì yêu thích, ghi chép những gì cần ghi
chép
Thế giới thật rộng, những ngã đường độ lượng
Cho anh làm mới cuộc đời mình
Anh gọi đó là chuyến về không hạn định
Để là một người trong mọi người
Anh tham dự trận tấn công cuối cùng
Vào cái chết
Hãy lộn ngược da anh
Và ghi lên đó mật khẩu:-
Không lùi bước!
Vâng, ông vẫn đi theo con đường thơ đã chọn của mình từ ngày hai
mươi tuổi mang ba-lô vào chiến trường máu lửa. Bây giờ đầu đã bạc,
chức tước đã gửi lại chốn quan trường. Nếu có ai hỏi tôi:
Bây giờ ông
ở đâu?
Tôi có thể trả lời giùm ông rằng: Ông đang ở trong Thơ của
ông!…
Huế, 8.8/2006